NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM: Linh mục TRẦN TAM TỈNH (CHƯƠNG IV - Hết & PHỤ LỤC)


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

   

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian.  Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950  

*  NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ  

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

*  TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

 

Tony Blair picture 1811810 

 

Lê Hồng Phong

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ  

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa 

 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

 

 

* 11 tuổi tự nhận là hiện thân của đại sư Phật giáo (Dân trí) - Một cậu bé 11 tuổi người Mỹ đă quyết định nghỉ học sau khi tự nhận ḿnh là người tái thế của một đại sư Phật giáo đă mất từ năm 1250.  

 

* Bộ mặt thật của một “nhà thơ đấu tranh dân chủ”

* Sự thật về “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” tại Mỹ

* Ông “linh mục” và những hoạt động vi phạm pháp luật

* Nguyễn Văn Lư và sự hoang tưởng về chính trị

* "Giải thưởng nhân quyền" cho 2 công dân vi phạm pháp luật: Một tṛ hề lố bịch

* Từ “100 khuôn mặt văn nghệ sĩ” đến tờ báo phản động “Viễn tượng Việt Nam”  

* “Tôi đă hỏi cung Nguyễn Sĩ B́nh như thế nào?”

* Mỹ triển khai tên lửa sát biên giới Nga

* Động thái mới của Mỹ đối với Israel

* Mỹ bất đồng về việc cắt giảm vũ khí hạt nhân

* Nga - Mỹ lại khẩu chiến về lá chắn tên lửa

* Chương tŕnh hạt nhân của Iran: Giờ G sắp điểm

* Mỹ dùng mạng Internet để bôi xấu chính quyền Tehran

* Mâu thuẫn căng thẳng giữa Venezuela với Mỹ và Colombia

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa.....  (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) -  (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng  Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp 

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

 * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

*THƯ MỤC: NHÂN DÂN VIỆT NAM 2009

*THƯ MỤC NHÂN DÂN VIỆT NAM.2006-2007

 

 

 

 

 

Linh mục TRẦN TAM TỈNH

 

 

 

 

 

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM

 

 

 

  

 

 

 01

 

 

 

   

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - 1978

 

  

 

 

Chương IV (hết và Phụ Lục)

 

11 ─ VIỆC CẬP NHẬT HÓA

 

Về vấn đề này, nhiều linh mục đă ư thức đấy đủ và đă phát hiểu rơ ràng trong một cuộc họp tại Hà Nội tháng chạp 1973. «Điều quan trọng, chẳng phải con số đông, nhưng là phẩm chất, tŕnh độ, trí thức và nghiệp vụ của các chủng sinh» (Linh mục Vũ bá Nghiệp, Phát Diệm). Linh mục Trần ngọc Kỳ đă tỏ ra thực tế hơn trong việc tuyển chọn phong chức: «Phải chọn các chủng sinh trong số thanh niên Công giáo đă thi xong trung học, có những kiến thức nghề nghiệp và có hoạt động yêu nước. Cũng nên chọn những con em gia đ́nh công nhân có công với nhân dân và Tổ quốc». Về chương tŕnh, người ta đă hoan nghênh ư kiến của linh mục Doăn, địa phận Hưng Hóa. Các linh mục được đào tạo kiểu xưa nỗ lực nhiều để theo kịp Giáo dân trong lănh vực chính trị và xă hội».

 

Từ ít lâu nay, nhất là từ khi lập lại ḥa b́nh ở miền Bắc, các cuộc họp linh mục, các buổi hội thảo gồm Linh mục và Giáo dân ra sức dựa vào các kinh nghiệm sống mà t́m ra phương cách sống đạo trong một đất nước xă hội chủ nghĩa. Các Linh mục và Giáo dân thừa nhận có công khai trong các bài viết ở báo Chính Nghĩa, rằng c̣n nhiều khó khăn phải khắc phục. Theo Linh mục Vương đ́nh Ái «Điều kỳ cục là cứ nghĩ rằng hiện nay không c̣n vấn nạn liên quan đến các lănh vực tôn giáo và xă hội, trong hàng linh mục cũng như giáo dân. Một số Linh mục không bằng ḷng về thái độ của cán bộ chính quyền. Một số giáo dân lo lắng về tương lai của tôn giáo. Một số Linh mục không thỏa măn về nghị quyết chung của Hàng giáo sĩ liên quan đến việc sửa đổi nghi thức, về tuần Tam nhật sao cho phù hợp với đời sống mới của dân chúng, giản đơn các cuộc rước, các cuộc lễ theo một h́nh thức văn hóa tân thời hơn, văn minh hơn...«Theo tác giả, các lời phản đối đó là tự nhiên, bởi nó bộc lộ những do dự, những vấn đề được đặt ra cho việc thích ứng với đời sống xă hội chủ nghĩa. Đó là những chi tiết phải nghiên cứu lâu dài, mới đi tới chỗ khám phá ra con đường trở lại với dân tộc.

 

Những khó khăn liên quan tới kinh nọ kinh kia đă được soạn ra và một thời điểm lịch sử nào đó đ̣i phải được xem lại, sửa đổi, hoặc tu chỉnh cho hay hơn. Có những cuộc tranh luận chung quanh vấn đề đào tạo giáo sĩ. Người muốn được chịu chức phải được chọn bởi một ḿnh Giám mục theo các tiêu chuẩn riêng của giáo luật thôi, hay phải được chọn bởi Giám mục vùng với ư kiến của nhân dân theo tiêu chuẩn xă hội và chính trị? Trong việc tuyển chọn Linh mục, Giáo hội có thể chấp nhận một thứ tô vẽ của Nhà nước chăng, khi có bằng cớ rằng người nọ người kia muốn chịu chức Linh mục, mà không phải là công dân tốt, hoặc không chu toàn nghĩa vụ công dân ḿnh chăng? Giáo hội có phải đem ḷng yêu nước đặt ngang hàng với các đức tin Kitô giáo chăng? Trong xă hội mới, phải chăng cần nhấn mạnh hơn về các đức tính tập thể hơn là nhân đức cá nhân?

 

Đương nhiên các nỗ lực nghiên cứu đó c̣n nằm ở cấp linh mục và giáo dân thôi. Phần đông các Giám mục coi các sáng kiến đó là khả nghi, v́ hàng Giáo phẩm cứ sợ rằng Nhà nước lợi dụng các điều đó mà hạn chế tính độc lập của Giáo hội. Đàng khác, như một linh mục phát biểu, «các Giám mục của chúng tôi đều đă quá già nua để có thể bắt được làn gió mới! Giám mục địa phận tôi đă trên 71 tuổi, từ lâu chẳng biết ǵ về sự sống của Giáo hội cả...»

 

Những người quan sát đời sống hằng ngày của giáo dân miền Bắc lấy làm lạ, một đàng trước sự hăng hái và dũng cảm của họ, kể cả hy sinh mạng sống ḿnh để kháng chiến chống Mỹ, để làm cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xă hội. Sự hăng hái và dũng cảm đó được nhiều linh mục đồng t́nh chia sẻ, đàng khác trước một nỗi đắng cay, một sự âu lo khó chịu che giấu đối với thái độ Hàng Giáo phảm lên án Cách mạng, lên án chủ nghĩa xă hội và thái độ bàng quan của Giáo hội đối với cuộc Kháng chiến.

 

Dưới một số khía cạnh, hoàn cảnh người Công giáo Việt Nam giống như hoàn cảnh của người Công giáo Ư sau khi quân đội của Victo Frumannuen II đánh chiếm Nước Ṭa thánh và thống nhất nước Ư qua cuộc trưng cầu dân ư ngày 2-10-1070. Là tín hữu họ phải vâng lời Giáo quyền đang lên án việc truất của cải Ṭa thánh và chẳng ưa thích ǵ đường lối chính trị của Nhà nước, nhưng trong tư cách công dân, họ lại trung thành với Chính phủ, dẫu có nhiều khó khăn trong và ngoài nước, đă không bỏ qua một chương tŕnh nào được vạch ra từ tháng 8-1945: độc lập và thống nhất đất nước, dân chủ nhân dân, tập thể tư liệu sản xuất, xây dựng xă hội mới.

 

Nhưng khác với Ư, nước Việt Nam, dầu có bị bom đạn Mỹ tàn phá man rợ, đă xây dựng lại được đất nước từ số không, nhờ thành công trong các chương tŕnh thanh toán nạn cùng khổ, nạn mù chữ, nạn măi dâm và liên tục kiên tŕ giải quyết các tồn tại của chủ nghĩa phong kiến và chủ nghĩa thực dân. Đối với hàng Giáo phẩm, một số biện pháp được sử dụng để đạt các mục tiêu đó là vi phạm quyền tự do của dân chúng. Chia đất, cưỡng bức binh dân học vụ, bắt buộc lao động, cưỡng bức giáo dục các cô gái măi dâm, cấm một số tập tục và thói quen bị coi là mê tín dị đoan, hoặc bất nhân... Dĩ nhiên, Giáo hội Việt Nam được gầy dựng bởi các Giáo hội phương Tây, cũng theo gót các Giáo hội này mà lên án mọi h́nh thức cách mạng (Cách mạng Pháp 1789, Cách mạng Nga 1917...) và phải mất nhiều thời gian mới hiểu được Cách mạng. Chẳng hạn trước cảnh nghèo khổ của dân chúng, Giáo hội lo bố thí, làm những việc từ thiện, nhưng trái lại, chống tất cả mọi thay đổi cơ cấu xă hội qua đó có thể đem lại cho mọi người cái tối thiểu để sống.

 

Đối với Giáo hội Việt Nam, phát xuất từ chế độ phong kiến và thực dân, việc xây dựng một xă hội vô giai cấp, việc xóa bỏ các nguyên nhân cơ cấu của nghèo đói, việc khước từ những giá trị từ trước vẫn được coi là nguyên lư thần học Kitô giáo (như tư hữu được coi là thiêng liêng, quyền Giáo hội tự cho là xă hội tối cao được mở và điều khiển học đường, bịnh viện, quyền của Giáo hội như kẻ duy nhất nắm trọn chân lư, bắt giáo dân phải theo luật riêng của ḿnh và được kết án bè rối, lạc đạo...) tất cả những điều đó rơ ràng ngược với giáo huấn trong các sách thần học và bị coi là quá nguy hiểm cho đức tin. Việc đi từ phong kiến sang chủ nghĩa xă hội xét về lư thuyết th́ xem ra thô bạo, nhưng trong thực tiễn lại dễ dàng tại Việt Nam, v́ đa số dân chúng là hạng bần cùng. Giáo hội không chịu từ bỏ hiện trạng thần học và xă hội, đang khi một cuộc biến chuyển tốt đẹp đang xăy ra chung quanh và ngay giữa ḷng Giáo hội, nghĩa là giữa giáo dân. «Quả là một t́nh h́nh mâu thuẫn và chua cay, như lời một linh mục Việt Nam người Bắc phát biểu năm 1973, «v́ chính người Cộng sản đang phổ biến tư tưởng của Vatican II và đ̣i hỏi Giáo hội canh tân theo giáo huấn Cộng đồng, c̣n các Giám mục của ḿnh lại khước từ làm việc đó... Người ta cứ tiếp tục cái lỗi thời, cứ sống theo quá khứ như thể không có thời gian».

 

XUYÊN QUA CUỘC GIẢI PHÓNG

 

Ngày 30 Tháng 4, 1975, lúc 5 giờ sáng, những tên lính Mỹ cuối cùng tháp tùng đại sứ Martin rời khỏi đất Việt Nam. 10g30, Quân đội Giải phóng tiến vào thành phố Sài G̣n. Một trang sử đă lật qua.

 

Giáo hội tỏ thái độ thế nào trước cuộc chiến thắng của nhân dân Việt Nam? Giáo hội này, với 2.200.000 linh hồn - cỡ 9% dân số miền Nam, đă tập trung chủ yếu tại vùng đất do quân lực Mỹ và thân Mỹ kiểm soát.

 

HỐT HOẢNG

 

Hốt hoảng, đó là tiếng đúng để diễn tả tâm trạng của đa số trong Giáo hội miền Nam mấy tháng đầu năm 1975. Từ trên hai chục năm, Giáo hội đă rao giảng «không thể đội trời chung với Cộng sản» và cuộc «Thánh chiến chống lại kẻ thù của tôn giáo». Hơn nữa, Giáo hội hợp tác cộng khai hoặc kín đáo với các lực lượng trong vùng Mỹ chiếm đóng. Bây giờ phải đứng trước cuộc chiến thắng của nhân dân dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản.

 

Từ tháng 2, 1975, sự lo âu đè nặng Giáo hội. Trong báo chí, nhất là tạp chí Tông đồ Giáo dân đă viết nhiều bài gieo rắc hoảng sợ thay v́ trấn an dân chúng. Nào là một cuộc tàn phá khủng khiếp sắp đổ xuống trên đất nước, nào giờ trả thù đă điểm, nào có hai đạo quân, đạo quân xatăng đang tiến vào đè bẹp đạo quân của Chúa: Báo động: Sứ điệp bí mật cuối cùng của Luyxi: Các lời tiên tri về cuộc tận thế.

 

Đó là những đầu đề gieo rắc hoang mang vào tâm trí người Công giáo đă bị rối loạn trước chiến thắng của quân đội Giải Phóng.

 

Một loạt rối loạn tâm thần tương tự bao trùm cả Vatican. Hăng thông tấn Fides, báo L'Ossebvatoire Romano, cầm chắc trong tay những tin sốt dẻo về cuộc bách hại tại các vùng mới giải phóng, loan những tin tức rồi đây sẽ hiểu rơ là không đúng sự thật. Đức Phaolô VI xúc động trước thảm cảnh người Việt Nam và các sự gian truân của người Công giáo.

 

Giám mục Nguyễn Kim Điền, Tổng giám mục Huế, viết cho người bạn Pháp rằng ḿnh sẽ ở lại vị trí, sẵn sàng chấp nhận «tù ngục khổ đau và bách hại».

 

Phần Đức cha Nguyễn văn B́nh, Tổng giám mục Sài G̣n th́ đưa ra lời kêu gọi hăy b́nh tĩnh và Ủy ban

 

Tu sĩ của địa phận kêu gọi anh chị em ở lại vị trí và sẳn sàng chịu tử v́ đạo.

 

Tâm trạng đó măi sau Giải phóng và mặc dầu có chính sách ḥa giải của Chính quyền Cách mạng vẫn c̣n tồn tại, Cách mạng không làm phép lạ. Ngành tuyên truyền chống Cộng đă có một phần tư thế kỷ, để lại trong ư thức và tiềm thức Việt Nam Công giáo một sự ám ảnh không dễ ǵ bôi xóa nhanh được.

 

Một sự kiện khác biểu lộ cảnh hốt hoảng đó, tại phần đông các địa phận, các Giám mục sử dụng quyền năng đặc biệt của Ṭa thánh, đă cử và phong chức vội vă các Giám mục phó, như thể các giáo phận sắp sửa trống ngôi tới nơi rồi.

 

NHỮNG CUỘC RA ĐI

 

«Sự kinh hoàng của đa số người Công giáo trước t́nh h́nh có thể phải chung sống với Cộng sản là hậu quả của một chủ nghĩa chống Cộng mù quáng và tiêu cực», đó là lời của cha Nguyễn Hồng Giao, ḍng Phanxico. Những kẻ gây rối lợi dụng tâm năo đó, tung ra những điều đồn đại kinh khủng: «bộ đội giết linh mục, hăm hiếp nữ tu, bắt buộc Công giáo di cư phải đi bộ hoặc đi bằng đầu gối về làng cũ ngoài Bắc - cách 1600 hoặc 2000 kilômét v.v.. ». Nguồn gốc các bản tin «đáng tin cậy» đó thường là linh mục nọ linh mục kia mới thoát khỏi vùng «mới bị chiếm đóng của Việt cộng», hoặc là xơ nọ khi mới «thoát khỏi nạn thảm sát».

 

Trước ngày 30 tháng 4-1975, Sài G̣n sống với những lời đồn đại như thế, «Ṭa thánh và Hàng Giáo phẩm đứng ra tổ chức di cư toàn bộ người Công giáo». Đứng trước mức độ ghê gớm của những tin đồn đó, đức Tổng Giám mục Sài G̣n đă phải lên tiếng cải chính trong lời kêu gọi ngày 8-4-1975, sau đó đă nói rơ với báo chí: «Hàng Giáo phẩm không tổ chức di cư, giáo dân và các Giám mục đều ở tại chỗ». (AFP).

 

Một số linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân đă bỏ chạy trước ngày Sài G̣n được giải phóng: chừng 100 linh mục, 400 tu sĩ nam nữ, 50.000 giáo dân. Khó mà khẳng định rằng họ là nạn nhân của cuộc bách hại Công giáo, là trường hợp Đức Khâm sứ Hăngri l.omecơro do chính quyền Cách mạng lâm thời đề nghị rời khỏi Việt Nam ngày 5-6-1975.

 

Trước ngày giải phóng Sài G̣n, một nhóm sinh viên Công giáo đă gửi qua Đức Giáo Hoàng một bức thư yêu cầu Ngài rút vị khâm sứ về, v́ đă quá dính líu với chế độ cũ. Một bức thư khác, do 2 nhóm kư tên ngày 14-5-1975, nài xin đức Khâm sứ hăy rời khỏi Việt Nam. Sau cùng, một công văn do Bộ ngoại giao chính phủ Cách mạng Lâm thời đến yêu cầu Khâm sứ ra đi. Lư do của biện pháp này đă được một vị đại diện Chính phủ Cách Mạng Lâm thời tŕnh bày cho giới giáo sĩ địa phận thành phố Hồ Chí Minh.

 

Sau cùng, việc ra đi của các thừa sai nước ngoài (chứng 150 linh mục, tu sĩ nam nữ thuộc nhiều quốc tịch) đă gây nhiều xôn xao trong dư luận phương Tây. Người ta nói đến «lễ mồ cho miền Nam» (P.Gheddo, It Nostro Tempo, 30-11-75), về việc «khó sống đạo tại miền Nam» (P. Gheddo, Mhnde et Missiono, 3-76), về «Giáo hội thánh Thầm lặng» (S. Quercette, America 18-9-78), về "cái chết thứ hai của Việt Nam» (AA. Gelinas Express, số 1325 và 1329, 26-11 và 5-12-76)... Tại Việt Nam, cuộc ra đi đó chẳng làm nhiều người bực bội ǵ.

 

Cuộc ra đi của thừa sai không tạo ra lỗ hổng. Tại miền Nam, hiện có tới 25 Giám mục trong đó 15 vị tại ṭa, cỡ 2000 linh mục và gần 7500 tu sĩ nam nữ, tất cả là người Việt.

 

VỤ GIÁM MỤC NGUYỄN VĂN THUẬN

 

V́ đi liền với Hăngri Lơmetơrơ, vụ Giám mục Nguyễn văn Thuận tạo ra một bầu không khí u ám trong Giáo hội và trong quan hệ giữa Giáo hội và Nhà nước. Đức cha Thuận, 46 tuổi, trước là giám mục Nha Trang. Theo các nguồn tin chính thức, ông được đặt làm Giám mục phó Sài G̣n ngày 25.4.1975 (với quyền kế vị Tổng giám mục Sài G̣n). Việc Vatican cử đức cha Thuận bị một số linh mục và giáo dân đặt thành nghi vấn, bởi v́ h́nh như Khâm sứ ṭa thánh đă dùng quyền năng bất thường của Ṭa thánh ban cho Đại diện Tông ṭa trong trường hợp đặt biệt khó khăn của Giáo hội. Chúng ta có tài liệu để kiểm chứng nghi vấn này. Dầu sao, việc cắt cử Giám mục Thuận đă chỉ được công bố trong Công báo Ṭa thánh (Acto Apostolicae Sedia) tháng 7-1975, chậm những 3 tháng, gây sự nghi ngờ. Việc cử Giám mục Thuận đă được giáo quyền giữ bí mật. Một tuần lễ sau ngày giải phóng Sài G̣n, chừng hai chục linh mục đă đến Ṭa giám mục yêu cầu đức cha Nguyễn văn B́nh hoăn tuyên bố việc cắt cử đó, bởi v́ có sự có mặt của đức cha Thuận tại Sài G̣n là không hơp thời và nguy hại cho Giáo hội. Điều đó có nhiều lư do, trước tiên, đức cha Thuận là cháu Ngô đ́nh Diệm, người đă bỏ tù ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tiếp đến, ông là người ai cũng biết đă liên hệ nhiều với Mỹ và đă hỗ trợ cho những ư đồ kín đáo của Mỹ. Các linh mục nói trên t́m cách làm áp lực kín đáo để Giáo quyền hoăn việc công bố sự cắt cử đó và liên hệ qua Vatican tŕnh bày về tính bất lợi của việc Giám mục Thuận ở Sài G̣n trong những lúc gay go này của lịch sử.

 

Nhưng ngày 12.5, một thông báo của Ṭa giám mục công bố tin tức về việc Giám mục Thuận làm Giám mục phó Sài G̣n. Phản ứng tức th́ nổ ra. Nhiều nhóm giáo dân tiến bộ được báo động, lên tiếng phản đối công khai. Nhiều kiến nghị được đưa ra. Có những cuộc biểu t́nh được tổ chức trước ṭa Khâm sứ và ṭa Giám mục. Có những cuộc mít tinh ngược lại, do những giáo dân bảo thủ tổ chức ủng hộ Đức cha Thuận. Rồi truyền đơn, kiến nghị được tung ra, thứ th́ ủng hộ, thứ th́ phản đối.

 

Trong lúc đó, chính quyền cách mạng can thiệp. Ngày 27.6.1975, một cuộc họp được tổ chức, một bên có hai Giám mục B́nh và Thuận và bên kia là đại diện chính phủ Cách mạng lâm thời, với sự có mặt của một số Linh mục tiến bộ và bảo thủ. Sau khi nghe lập trường mỗi bên tŕnh bày, đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẵn sàng giúp đức cha Thuận gửi nhanh thư sang Vatican (v́ lúc đó chưa tái lập viễn thông) nhưng yêu cầu đức cha trở về ṭa Giám mục của ông ở Nha Trang.

 

Giám mục Thuận từ chối mọi giải pháp, vịn lẽ rằng ông phải vâng lênh Ṭa thánh. Hai tháng trôi qua, trong khi đôi bên vẫn giữ lập trường cứng rắn của ḿnh. Chính phủ Cách mạng Lâm thời tŕnh bày cho giáo dân hiểu lư do tại sao không chấp nhận Giám mục Thuận ở Sài G̣n. Những người Công giáo bảo thủ lại tố cáo Chính phủ Cách mạng Lâm thời là bách hại Giáo hội.

 

Cuối cùng, sau hai tháng giằng co, ngày 15.8.75, trước mặt 350 Linh mục và bề trên, Chính phủ Cách mạng Lâm thời cho biết rằng sự kiên nhẫn của chính phủ có giới hạn và do đó đă quyết định bắt buộc Giám mục Thuận phải ở yên tại giáo xứ, thuộc địa phận Nha Trang.

 

Vụ này kể như giải quyết xong cách chính thức, với một bản thông cáo của Đức Tổng Giám mục Sài G̣n.

 

CHỐNG ĐỐI

 

Nếu tất cả mọi người Công giáo đều dễ dàng chấp nhận chế độ cách mạng, th́ đó phải là một phép mầu. Sức nặng của một quá khứ lâu dài chống Cộng và chống cách mạng c̣n ở cả trên vai họ. Giáo hội bị vướng vào sự liên lụy với ngoại bang và các đặc quyền đặc lợi, cũng khó mà cải đổi được ngày một ngày hai.

 

Nayan Chanda, một phóng viên của tờ Kinh tế Viễn đông đă giải thích đúng tâm năo của người dân Sài G̣n trong một câu sau đây: Hôm đầu, họ sẵn sàng từ bỏ hết để chạy thục mạng, ngày thứ hai, họ đ̣i lại chiếc honđa và qua ngày thứ ba, họ đ̣i lại tất cả những ǵ họ đă có trước kia. Câu nói đùa đó cũng áp dụng được một phần vào Giáo hội miền Nam. Sau giờ phút kinh hoàng, người Công giáo bắt đầu nhen nhóm tổ chức chống đối chế độ.

 

Việc chống đối này biểu hiện trước tiên dưới dạng tung tin nhảm và thả tờ rơi mang tính chất xem ra thuần túy tôn giáo thôi: Sau ngày Sài G̣n giải phóng, Đức Mẹ ở nhà thờ Đakao đă khóc. Người ta thấy vết nước mắt nơi g̣ má của người. Rồi tổ chức tụ tập, vào lúc mà nền an ninh c̣n có vấn đề đối với đạo quân cách mạng vừa chân ướt chân ráo vào Sài G̣n. Tiên tri xuất hiện khắp nơi: (Miền Nam mất rồi) do sự khô khan nguội lanh của giáo dân; (tận thế sắp xảy ra với sự có mặt của Cộng sản tại miền Nam). Đức Tổng Giám mục Sài G̣n phải lên tiếng nhằm ngăn chận những làn sóng chuyện lạ đó.

 

Lời cảnh cáo đầu tiên không đem lại hậu quả mong muốn. Sự chống đối núp đằng sau quyền tự do tôn giáo, đă tổ chức những cuộc tập hợp cả ngàn người, chẳng hạn tại trung tâm Fatima B́nh Triệu, cùng ngoại ô Sài G̣n, cho là đă có phép lạ xảy ra ở đó. Ngày 5.8-76, Đức Tổng Giám mục Nguyễn văn B́nh lại phải ra một thông cáo mới. Mưu đồ được che dậy khôn khéo, Đức Mẹ Fatima được dùng làm dấu hiệu cho cuộc tập họp chống Cộng. Các lời kinh chứa đựng những kiễu như, Gia đ́nh chúng con thề quyết chống lại Cộng sản vô thần (Tôn Nữ Vương gia đ́nh).

 

Một dạng chống đối khác có vũ trang, đă được tổ chức với sự tham gia của một số Linh mục và giáo dân. Một trong những nhóm chính, tổ chức núp ẩn tại nhà thờ Vinh Sơn, đă bị cảnh sát phát hiện. Một vị thừa sai bị mời rời khỏi Việt Nam, đă mô tả vụ này như một chuyện hoàn toàn do Nhà nước dựng đứng lên. Ư kiến của ông không ăn khớp với các sự kiện khách quan và những lời tuyên bố của nhân vật tôn giáo.

 

Người ta đoán chắc rằng tổ chức chống đối có vũ trang này đă được lên kế hoạch từ ngoài, theo một chiến dịch rộng lớn, nhằm phá hoại và âm mưu lật đổ. Biết rằng năm 1954, sau khi quân đội Pháp rút khỏi Bắc Việt, CIA đă để lại một mạng lưới nhân sự quan trọng, nhằm phá hoại và mưu toan lật đổ (xem tài liệu Lầu năm góc).

 

Dầu sao, vụ Vinh Sơn là một vụ nghiêm trọng bởi nó núp đàng sau sự tự do tín ngưỡng và nó đụng tới cả giới Công giáo, Linh mục cũng như giáo dân.

 

CỘNG TÁC

 

Cuối tháng 4-1975, khi Phái đoàn Huynh đệ Việt Nam trở lại Pari với bức thư chung của Tổng Giám mục Nguyễn kim Điền và lời đức cha tuyên bố ngày 9.4.1975, các phóng viên Pari thoạt tiên vẫn nghi ngờ. V́ trong đó, sự lo lắng sơ hăi đă nhường cho sự vui mừng tin tưởng đối với Chính phủ Cách mạng.

 

Một tháng sau, ngày 5 tháng 5, Đức cha Nguyễn văn B́nh, Tổng Giám mục Sài G̣n, cũng dùng một giọng nói như thế, trong thư chung ngài biểu lộ sự vui mừng về ḥa b́nh đă được lập lại và kêu gọi giáo dân tham gia tái thiết đất nước, dưới dự lănh đạo của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Cộng tác với những người ḿnh đă coi là kẻ thù (xấu hơn cả ma quỉ) đó là cái ǵ rất mới trong Giáo hội Việt Nam. Có người c̣n nghĩ rằng, đây chỉ là tṛ xu thời thuần túy của hàng Giáo phẩm thôi. Một số khác lại không muốn làm theo hàng Giáo phẩm. Đức tổng giám mục Sài G̣n đă phải nói rơ suy nghĩ của ḿnh, trong thư chung đề ngày 31-8, nhân dịp lễ mừng ngày Độc Lập. Đây không c̣n là vấn đề cộng tác với những người cách mạng, mà phải làm cách mạng. Trong thư chung của Ngài nói về thống nhất đất nước, lời lẽ c̣n tỏ ra thuyết phục hơn: «Sự thống nhất Đất Nước có thể là cơ hội cho Đức Kitô đến giữa chúng ta».

 

Trong dịp vui mừng phấn khởi đó của toàn dân, thống nhất đất nước để tiến lên chủ nghĩa xă hội, Đức cha Nguyễn Kim Điền, Tổng giáo mục Huế, nhấn mạnh rằng: chủ nghĩa xă hội phù hợp với Tin mừng.

 

Để mừng ngày kỷ niệm đáng nhớ này, tại nhiều địa phận, các Giám mục đă chỉ thị rằng ngày 23-11 phải là «ngày tạ ơn».

 

Từ hôm đó, Hàng Giáo phẩm đă không bỏ qua một dịp nào mà không lặp lại sự tin tưởng vào chính sách cởi mở của chính phủ và kêu gọi giáo dân, hăy cùng nhau nắm tay mà tiến trên con đường xă hội chủ nghĩa, thực thi công bằng và chia sẽ. Nhiều Giám mục cũng lợi dụng ngày lễ Giáng Sinh, để nhắc lại cho giáo dân Tin mừng của Đức Kitô, là giải phóng những người bị áp bức, là xây dựng một xă hội trong đó không c̣n cảnh người bóc lột người nữa, là dấn thân phục vụ đồng bào để xây dựng Nước Chúa và một xă hội trần thế ngày càng tốt đẹp.

 

«Tin mừng của Chúa là một động lực tuyệt hảo thúc đẩy giáo dân sống theo tinh thần xă hội chủ nghĩa», đó là ư lực của Sứ điệp Năm mới của Đức Tổng Giám mục Sài G̣n.

 

Sống đời Kitô giáo, cùng cộng tác với anh em Cộng sản, thực tiễn ngày càng hiện rơ và càng phong phú hơn đối với Giáo hội. Trong thư mục vụ ngày 16-7-1976, Hội đồng Giám mục các giáo phận Sài G̣n và Huế (trước kia là Miền Nam) c̣n lặp lại rằng, đức tin chẳng phải là bức tường ngăn cách tín hữu với người không tín ngưỡng, cũng chẳng phải là thứ thuốc phiện đưa người tín hữu lánh xa thực tại trần gian và t́m cách đáp ứng mục tiêu của những con người bảo thủ.

 

Trong dịp được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp kiến, Đức cha Điền, Tổng giám mục Sài G̣n, cùng với Đức cha Nguyễn Ngọc Quang, Giám mục Cần Thơ (22-9-976) đă lần lượt xác định lại ḷng tin tưởng của ḿnh đối với chính phủ và hứa làm cho giáo dân cộng tác với toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước.

 

DẤN THÂN

 

Đọc qua các tài liệu của Giám mục, người ta nhận thấy cách mạng tôn trọng sự tự do của tín hữu. Nhưng đời sống cách mạng có nhiều đ̣i hỏi. Khi tiếp xúc với anh em cách mạng có nếp sống khắc khổ, cuộc đời họ hy sinh cho lợi ích của nhân dân. Giáo hội thấy bắt buộc phải đi vào một cuộc «cập nhật hóa» có chiều sâu, điều mà Công đồng Vatican II h́nh như chưa thực hiện nổi. Việc chia sẻ không thể thực hiện, nếu không hy sinh một phần tài sản ḿnh và có khi đến cả chính thân ḿnh.

 

Chưa bao giờ tinh thần Tin mừng, tinh thần Công đồng Vatican II lại thổi mạnh vào Giáo hội Việt Nam như hiện nay. Dĩ nhiên, không thể chờ mong có phép lạ ở đây, hay là một cuộc đảo ngược triệt để và bao trùm toàn thể Giáo hội trong thời gian chỉ một năm rưỡi. Nhưng chặng đường đă đi tới là đă khá xa.

 

Bước dấn thân đầu tiên của Giáo hội xảy ra tháng 10, khi có quyết định hiến tất cả các trường tư thục Công giáo để lo việc giáo dục miễn phí cho tất cả con em đất nước. Nước Việt Nam bị tàn phá và bần cùng hóa bởi chiến tranh, không thể xây dựng một nền kinh tế độc lập, nếu mọi người không bắt tay vào. Giáo hội muốn đem Tin mừng cho người nghèo, bắt đầu hiểu rằng ḿnh phải sống cuộc sống của nhân dân, nghĩa là sống khó nghèo, dùng mồ hôi đổi lấy cơm mà ăn, chứ không phải cứ trông nhờ viện trợ và bố thí. Nhiều hợp tác xă sản xuất đă được thành h́nh tại nhiều tu viện và chủng viện, thực hành phương châm của thánh Biển Đức là «Tâm nguyện, Lực hành».

 

Sau ngày giải phóng Sài G̣n, chính phủ cách mạng phải đương đầu với một số vấn đề gay cấn: dân số quá đông tại các thành thị, nhất là Sài G̣n có tới 70% người chưa có việc làm ổn định. Muốn giải quyết vấn đề này, cũng như muốn khai khẩn các vùng đất đă bị hoang hóa v́ chiến tranh, chính phủ phải lập ra các vùng kinh tế mới. Nhưng chính phủ lại không muốn cưỡng bức phân tán những thành phần dân thất nghiệp đô thị hay là các vùng nông thôn. Trung thành với sứ mạng lănh đạo tinh thần, Đức Tổng giám mục Nguyễn Văn B́nh, chủ tịch Hội đồng Giám mục, miền Nam đă lên tiếng hô hào hưởng ứng chương tŕnh các vùng kinh tế mới.

 

Nói th́ dễ, nhưng c̣n phải hành động. Để nêu gương cho giáo dân, Đức cha B́nh và 195 Linh mục, 136 nữ tu, đă lấy ba tháng, từ tháng 5 đến tháng 7, 1976 để cùng nhau đi «lao động xă hội chủ nghĩa», đào mương, đắp đê làm thủy lợi và dựng nhà cho dân chúng.

 

Việc dấn thân tham gia hành động cách mạng là một luồng gió mới Thánh Linh thổi. Cuối cùng rồi người Kitô hữu khám phá ra các giá trị «cách mạng» của Tin mừng.

 

NHỮNG TÍN HỮU CƠ SỞ

 

Chính các anh chị tín hữu cơ sở đă từ lâu chuẩn bị cho Giáo Hội, kinh qua máu và nước mắt của họ, đi tới sự cởi mở này, đă có thể làm những người quan sát viên hời hợt phải bỡ ngỡ. Quả vậy, từ các tờ tạp chí xuất bản gần như «trái phép» tại Sài G̣n tứ 1965 (Sống Đạo, Đối Diện, Chọn), nhờ việc gây ư thức qua những thực tế xă hội tàn bạo, các nhóm Thanh Lao Công, Thanh Sinh Công, các chiền sĩ Kitô hữu đấu tranh cho ḥa b́nh và của Ủy ban đ̣i thả tù chính trị, đă tích cực tham gia đấu tranh chống sự can thiệp của nước ngoài và chống cuộc thánh chiến chống Cộng. Người ta gọi họ là «cấp tiến» và nhiều người trong họ đă «nếm mùi» nhà tù và tra tấn.

 

Khi tiếng kẻng cáo chung chế độ vang lên, trước cả khi lực lượng giải phóng tiến vào, các nhóm trẻ này đă giải phóng các phường Khánh Hội, Bàn Cờ và chiếm trụ sở của tồ chức Nghiệp đoàn Trần Quốc Bửu, một cánh tay phải của CIA tại miền Nam.

 

Sau giải phóng, người ta gặp các nhóm phường xă, trong hầu hết các ngành sinh hoạt mới của môi trường xă hội cách mạng thuộc địa bàn dân cư. Có những h́nh thức suy nghĩ theo nhóm, những buổi học tập chính trị trong nhóm, phường hoặc xă, đă hướng dẫn tinh thần chiến sĩ Kitô giáo của họ đi vào việc dấn thân có tổ chức hơn.

 

Một trong những cuộc họp đáng nhắc lại, là cuộc hội thảo ngày 5-7-1975, đă có tới hơn 500 người tham dự. Ai cũng thấy một niềm khát khao đào sâu thần học. Và chính đám trẻ đă tạo ra khí thế trao đổi cho các sinh hoạt theo tổ.

 

«Chúng tôi yêu cầu các Linh mục vá tu sĩ cho chúng tôi được học hỏi thần học giải phóng, để có thể hiểu và sống Tin mừng (tổ 7A). Thần học này trước đây đă bị Hàng Giáo phẩm cấm đoán, cho là nguy hại».

 

«Mục tiêu của cách mạng là xây dựng một xă hội công bằng, đem lại phúc lợi xă hội cho mọi người và t́nh thương nhau, với mục tiêu của Tin mừng, không có ǵ là mâu thuẫn cả. Xă hội Việt Nam đang tiến hành làm cách mạng: Giáo hội cũng phải đi vào đó bởi v́ sống làm cách mạng cũng là một cách sống Tin mừng, sống mănh liệt Lời Chúa» (báo cáo tổ 1).

 

Các buổi trao đổi về các khía cạnh trong đời sống Giáo hội cũng rất cương quyết. «Từ trước tới nay, trong sinh hoạt xă hội, Giáo hội chưa bao giờ đi tới tận gốc rễ của sự dữ. Trong thế hệ mới, các sinh hoạt của Giáo hội đem lại hiệu quả, nếu biết trở thành sinh hoạt của toàn dân, trong đó người giáo dân tham gia với mọi người khác để lo hạnh phúc của đồng bào» (tổ 3).

 

«Các trường học phải thuộc về nhân dân, chứ không nên tiếp tục là của riêng hội ḍng này nọ» (tổ 4).

 

«Từ trước tới nay, các phong trào tông đồ giáo dân đă dẫm chân lên các sinh hoạt xă hội và văn hóa. Ngày nay, các hoạt động đó đều do các tổ chức cách mạng đảm trách. Phía chúng ta, chúng ta cấn đào sâu khía cạnh tâm linh, để giúp dân sống rộng răi hơn tinh thần Tin mừng» (tổ 2).

 

Tổ 5, bàn về thế giới công nhân, sôi nổi hơn. Có những chủ đề đối chọi nhau được đưa ra tranh luận.

 

Cuối cùng họ đi tới khẳng định cơ bản: «Đấu tranh chống bạo lực, và yêu chuộng ḥa b́nh. Một khi hiễu rơ nguyên tắc này rồi, th́ sẽ thấy rằng đấu tranh giai cấp là phù hợp với Tin mừng b́nh an Đức Kitô đă loan báo».

 

Sau hết, tổ 9 đ̣i phải có «nam nữ b́nh đẳng trong đời sống Giáo hội, cũng như đă có trong công cuộc xây dựng xă hội chủ nghĩa».

 

Những điều nghị quyết đó được toàn thể thông qua, tạo ra một thứ hậu quả cơ sở cho cuộc dấn thân Kitô hữu. Nó không được nằm nguyên trên giấy, bởi một cuộc cách mạng xă hội không thể tiến hành bằng giấy tờ suông. Nhưng nó đánh dấu một đoạn tuyệt với khái niệm ốc đảo Công giáo đắc thế và mở ra những giá trị mới, đoạn tuyệt với một thứ thần học cũ cứng ngắc, để đưa vào một nền thần học sinh động căn cứ trên những thực tế mới. Nó đă ảnh hưởng tới Đức Tổng Giám mục B́nh trong nhiều lần tỏ rơ lập trường sau đó.

 

Những người bảo thủ bực tức v́ thấy trường Công giáo không c̣n, bệnh viện, cô nhi viện, ngân hàng Công giáo không c̣n, nhưng trong tất cả các phường, nhân dân Công giáo nghèo lại được hưởng sự phục vụ của các nhà trẻ b́nh dân, những lớp học miễn phí, những bệnh viện nhân dân, những pḥng khám khu vực. Sự phân biệt cứ trên tiền bạc cũng biến đi, nhường chỗ cho t́nh đoàn kết không phân biệt lương giáo.

 

Ngay cả trước khi có lời kêu gọi của Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn B́nh, có các anh chị tín hữu thuộc mọi lứa tuổi, linh mục, tu sĩ, đă đi lao động tại các vùng kinh tế mới, không mang một nhăn hiệu Công giáo, mà lại hănh diện v́ thấy khi ḿnh lao động như thế là sống Tin mừng Đức Kitô cách chân thực.

 

Nhờ loại men mới đó, khối Công giáo từ lâu đă bị nhồi sọ bởi một thứ giáo lư vô bổ chỉ gây hận thù, th́ nay được từng bước cảnh tỉnh: quả thế, hai chục năm hơn về trước, người ta đồng hóa đức tin với chủ nghĩa chống Cộng, người ta đă khắc vào trí óc bà con rằng: Công giáo không thể sống chung với Cộng sản, rằng cộng tác với họ là rời bỏ công đoàn Giáo hội. Bây giờ, người ta thấy Công giáo có mặt khắp nơi: tại Quốc hội, tại Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, trong các Ủy ban Tỉnh, quận huyện phường xă.

 

Có thể đếm được hàng ngàn ca «hoán cải» cách kỳ diệu. Như linh mục Nguyễn Văn B́nh, bị bộ đội cách mạng bắt năm 1972 trong trận đánh chiếm Quảng Trị, ngày nay đang ở Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Như chị Nguyễn thị Lan từng đối nghịch gay gắt với những người «cấp tiến» nay lại đi công tác tại nông trường xă hội chủ nghĩa Củ Chi. Có người Công giáo nọ kia là «tư sản», bây giờ lại đang làm công tác trong các ủy ban phường xă...

 

Chủ nghĩa xă hội không c̣n là con vật dị hợm đối với Công giáo nữa. Dĩ nhiên, lúc này, chưa phải chống cự. Những anh chị tín hữu dấn thân đă học được cách mạng bài học quí giá: phải kiên tŕ.

 

«Từ ngày giải phóng, người Kitô hữu sống một đời sống có tính Tin mừng hơn», đó là ư chính trong bản báo cáo đức cha Bùi Tuần đọc trước một cuộc họp Linh mục địa phận ḿnh tại Long Xuyên, nhân dịp kỷ niệm năm thứ nhất ngày Giải phóng. Có thể nói rằng các địa phận khác cũng suy nghĩ tương tự. Đó là kết quả đầu tiên tích cực, mà cả những người thủ cựu cũng phải công nhận. Từ những hoa trái đầu mùa đó, Giáo hội khám phá ra cuộc sống mới của ḿnh.

 

KẾT LUẬN

 

Như tất cả các Giáo hội Đức Kitô khắp các nước, Giáo hội Việt Nam không co sự đồng dạng. Có những xu hướng khác nhau đụng nhau, mà không sứt mẻ ǵ. Việc cập nhật hóa do Vatican II đề xướng, lâu nay cứ ầm ỉ, ngày nay gặp được trong Cách mạng một địa bàn phong phú. Có những sức níu kéo tiền Công đồng, khi th́ thụ động, lúc lại hung hăng, chống lại lời kêu gọi lặp lại của hàng Giáo phẩm. Nhờ họ, Giáo hội nhất quyết sống chan ḥa với nhân dân trên con đường xă hội chủ nghĩa.

 

C̣n quá sớm để rút ra kết quả. Nhưng Giáo hội miền Nam nhất định không làm một Giáo hội thầm lặng nhưng là một Giáo hội được sai đi, Giáo hội đi loan báo Tin mừng trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay của đất nước chúng ta. Cách mạng không ngược lại với sứ mạng đó, miễn là Giáo hội biết dấn thân phục vụ con người, theo gương Chúa Kitô.

 

HƯỚNG NH̀N VỀ TƯƠNG LAI

 

Ngày 31 tháng Giêng 1974.

 

Một năm sau chiến tranh, dầu đă có hiệp định, hôm đó tại sân bay Sài G̣n, người ta nghênh đón tượng Đức Mẹ Fatima, với cả một biển người. Quần chúng hoan hô vang dậy. Lễ rước kiệu trọng thể vào «Thủ đô», đô trưởng đem dâng ch́a khóa vàng của Thành phố cho Mẹ. Rồi là cuộc du hành khắp cả miền, «Trong ṿng ba đêm ngày, vị Sứ Giả Ḥa B́nh rảo đi khắp xứ, sử dụng mọi thứ phương tiện di chuyển: máy bay, trực thăng, xe thiết giáp phủ hoa, xe du lịch, xe zip nhà binh và hai lần, dùng cả xe Hồng thập tự - để có thể chen qua đám đông và đến một trạm khác cho đúng giờ hẹn... Điểm cao là tại «Thủ đô» sáng chủ nhật ngày 3.2. Tất cả các đường phố dẫn về lễ đài trung tâm dựng sau nhà thờ chính ṭa, cũng như tất cả các vườn hoa, quăng trường lân cận, đều đặc đen người ta, ít ra phải tới con số 300.000 người, thật chưa từng có! »

 

«Lần lượt Tổng thống Nguyễn văn Thiệu và phu nhân, ông chủ tịch thượng viện Trần văn Lắm, đức Khâm sứ Hăngri Lơmetơrơ, các chức sắc cao các tôn giáo, đến cầu nguyện và dâng lễ trước tượng Đức Mẹ. Chung quanh tượng đài Đức Mẹ, có 4 lá cờ lớn của 4 tôn giáo bay phấp phới. Ở hàng đầu, ngoài các nhân vật kể trên, người ta c̣n thấy các vị trong đoàn ngoại giao, các bộ trưởng và dân biểu, các tướng tá và trí thức, các lănh tụ đảng và công chức cao cấp, tóm lại cả thành phố Sài G̣n của ngày Đại lễ.»

 

«Dinh Độc lập rực sáng và rực cờ. Một biễu ngữ to lớn được treo trước mặt tiền, với khẩu hiệu tóm lại tất cả ư nghĩa: xin Đức Mẹ ban Ḥa b́nh cho dân tộc Việt Nam».

 

«Một đám người đông như thế, thật là phép lạ! »

 

Đoạn trên trích từ một bài phóng sự do một người Công giáo Việt Nam thực hiện, chiếu ra một tia sáng sống sượng, đáng lo ngại, về một Giáo hội Việt Nam đang đứng trước những t́nh h́nh hết sức bi đát, hết sức căng thẳng của thế kỷ, một tia sáng càng sống sượng, nếu đem so sánh những đoạn trên đây với một bức thư, của vị Tổng quản Hà Nội nói về những diễn biến xảy ra tại ngoài đó năm 1955. «Cuộc rước kiệu Santi... đă được tiến hành qua các đường phố Hà Nội, năm nay cũng như các năm trước; bởi v́ «xưa nay» cuộc rước kiệu Santi luôn luôn ra đường mỗi năm. Tuy nhiên năm nay có cái khác là cuộc rước đă rút ngắn đi một nữa. Không thể giữ đúng lịch tŕnh ngày giờ, v́ có những đ̣i hỏi không rơ ràng, vào phút chót và từ hôm đó, do những biện pháp có tính quấy nhiễu, chúng tôi đă nhận thấy tốt hơn là không rước kiệu ra đường nữa».

 

Những lời lẽ đó cho thấy, khuôn mặt thật trước 1975 của Giáo hội Công giáo Việt Nam - c̣n tạm thời bị chia cắt - một Giáo hội kiểu trung cổ ch́m lĩm vào giữa các ngoặt nghèo của thế kỷ 20, một Giáo hội c̣n tin vào hiệu quả bùa chú của các cuộc rước nhằm giải quyết vấn đề của đức tin, một giáo hội đă từng bị cấu xé bởi 30 năm chiến tranh mà cứ đi t́m giải pháp ḥa b́nh nơi những việc đạo đức và các cuộc biểu diễn h́nh thức tôn giáo. Đúng là một kiểu chạy trốn trước những sự thật nhăn tiền như thế, đó là một cách biến Dân Chúa thành một bộ xương khô, là cách từ chối các điều phát hiện to tướng của Công đồng Vatican II về «Giáo hội trong thế giới nay».

 

Từ 30 năm qua, Việt Nam là một đấu trường - chẳng phải giữa hai hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa và Mác xit, như người ta thường nói qua giản đơn và hàm hồ - nhưng là giữa một dân tộc chậm tiến, bị trị đứng lên giành lại chủ quyền và độc lập của ḿnh với giá máu đổ ra và các lực lượng đế quốc, trước là Pháp sau là Mỹ, đă muốn áp đặt ư muốn của ḿnh bằng vũ lực. Trong cuộc chiến đấu này do các lănh tụ Mác xít lănh đạo. Về phía kia, đế quốc Mỹ đă sử dụng tiền bạc mua chuộc số người cơ hội xu thời, hỗ trợ cho ư đồ của chúng. Trong cuộc chiến đấu này, người ta trách Giáo hội đă không đứng đúng vị trí của ḿnh. Quả vậy, trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc người ta đă không những nhận thấy sự vắng mặt của Giáo hội ở phía kháng chiến, nhưng lại thấy sự có mặt tích cực của Giáo hội bên cạnh kẻ thù của dân tộc. Trước lời trách đó, có người trả lời rằng Giáo hội đă không coi cuộc chiến tranh này như cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, nhưng như một cuộc chiến tranh ư thức hệ, giữa hai khối «tư bản và cộng sản».

 

Dầu có chấp nhận giả thuyết đó - như yếu tố để tranh luận - người ta không hiểu Giáo hội dựa trên cơ sở thần học và tin mừng nào, để tự gieo ḿnh vào cánh tay của chủ nghĩa tư bản thay v́ làm con đường cứu độ, theo chức năng của ḿnh sử dụng những phương tiện để ḥa giải, chẳng phải hai hệ tư tưởng, mà là giữa những người anh em cùng một dân tộc. Chúng tôi hoàn toàn không muốn xét đoán, bởi v́ lịch sử, nếu không phải là Chúa, mà là quan ṭa, không chỉ nh́n thấu các ư định, mà c̣n xem xét chính các việc làm. Thái độ của Giáo hội chính thức miền Bắc cũng như miền Nam Việt Nam đă xuất phát từ chủ nghĩa chống Cộng được đưa lên hàng tín điều, như thể Bài giảng trên núi đă bắt đầu với những tiếng: «Chủ nghĩa Cộng sản là kẻ thù số một của các môn đệ Đức Kitô». Nguyên lư «Không ai bàn căi và không thể tranh luận” đó xúi giục Giáo hội chấp nhận công tác với bất kỳ chính quyền chống cộng nào, hỗ trợ tiếp tay cho nó cách mạnh mẽ và hữu hiệu và hô hào cuộc thánh chiến. Điều đó chống lại nhân dân ḿnh! Chống lại ước nguyện chính đáng của người dân Việt Nam chỉ mong cho được tự do về chính trị, kinh tế văn hóa.

 

Do đâu mà Giáo hội «với sứ mạng và bản tính không bị trói buộc vào một chế độ chính trị, kinh tế hay xă hội nào» lại để ḿnh sa vào cuộc thánh chiến chống Cộng đầy máu như thế? Tại sao Giáo hội có một Đấng sáng lập và thủ lănh nhạy cảm đến thế trước những cảnh khốn khổ của những người bị áp bức, bị bóc lột, lại đang tâm đứng về phía những người áp bức, bóc lột trong thực tế lịch sử của Việt Nam? - Kẻ th́ nói là do thiếu suy nghĩ về thần học, kẻ khác lại nghĩ rằng đó là do thiếu bồi dưỡng cho những người phụ trách lănh đạo. Người th́ cho rằng tại Giáo hội ham của và hiếu thắng, người khác lại nghĩ rằng là di sản nặng nề của lịch sử.

 

Những người phê phán, dầu là Kitô hữu hay người ngoài, đều đă nhắc lại cho Giáo hội Việt Nam rằng, mặc dầu xét về dân số th́ không bao nhiêu - chỉ 10% là cùng - nhưng Giáo hội lại chiếm giữ các đặc quyền đặc lợi tương đương với, nếu không phải là, quốc giáo. Rằng theo những kinh nghiệm sống của lịch sử, những ǵ là đặc lợi trần thế ban cho Giáo hội không phải lúc nào cũng hữu ích cho việc loan Tin mừng đúng đắn, và khi mất đi các đặc ân đó th́ cũng không nhất thiết là ngăn cản việc triền nở đức tin. Rằng cuộc Cách mạng Pháp, khi tước đoạt của Giáo hội địa phương nhiều tài sản và đặc ân, đă giúp cho Giáo hội nhiều, trong việc canh tân đời sống Kitô giáo đích thực và trong nỗ lực xóa bỏ những tệ lạm. Rằng trong những cuộc chiến đấu của các nước thế giới thứ ba giành lại độc lập từ tay các đế quốc thực dân cũ và mới, th́ những hy sinh tự nguyện hoặc bắt buộc của cá nhân và tập thể, những sự giới hạn tự do v́ lời ích chung, thường hữu ích hơn là những ân huệ ban bố cách giả nhân giả nghĩa bởi các thế lực đô hộ đó dưới lớp vỏ «giúp đỡ» Giáo hội hay là giúp đỡ những «người anh em túng thiếu». Rằng khuôn mặt của Giáo hội Việt Nam bị bôi đen bởi quá khứ thuộc địa, không thể nào trở lại t́nh trạng trong sáng tinh truyền như chính Đức Kitô đă muốn, nếu không chịu phấn đấu «cập nhật hóa» theo tinh thần Vatican II.

 

Theo ư kiến của tất cả anh chị em Công giáo miền Bắc cũng như miền Nam, th́ nỗ lực phấn đấu số một, phải là việc «Việt Nam hóa» Giáo hội. Chẵng hạn Linh mục Nguyễn huy Lịch, một giáo sĩ trí thức miền Nam, đă viết rằng: «Do chính các t́nh huống khác nhau và liên hệ lịch sử, có thể một thứ hoạt động thừa sai nào đó đă làm cho chúng ta bị bật gốc văn hóa, nghĩa là có những người mà nền văn hóa truyền thống bản xứ đă bị bắt hủy hoại đi, do các yếu tố văn hóa ngoại lai đem vào (ở đây là nền văn hóa Tây Âu), khiến cho một số người trong chúng ta đă trở thành «Rôma hơn cả người Rôma», Công giáo hơn cả Giáo hoàng, thù nghịch với mọi nỗ lực b́nh thường hóa Kitô giáo và cả mọi cố gắng hội nhập đức tin vào văn hóa dân tộc. Chúng ta giữ lại bằng mọi giá một số tập tục lấy từ thói quen của người Tây Âu và chúng tôi từ chối cả việc Việt Nam hóa trong những phạm vi có phép và được hàng giáo phẩm khuyến khích. Thế rồi phải kết luận rằng chúng ta không thể thay đổi sao? Không, nếu chúng ta ư thức t́nh trạng này và nếu chấp nhận và biết tôn trọng những ǵ kẻ khác đang thí nghiệm đề vượt qua nhược điểm kia».

 

Việc Việt Nam hóa cho phép Giáo hội liên đới được với nhân dân, với văn hóa và lịch sử dân tộc. Công việc này dĩ nhiên là khó khăn, nếu quan niệm rằng Giáo hội là một dị vật do người nước ngoài nhập vào và chỉ sống được dưới bóng người nước ngoài. Trái lại, việc làm sẽ vô cùng dễ dàng hơn, nếu người ta chịu theo cách Công đồng Vaticăng định nghĩa Giáo hội là «Dân Thiên Chúa trên đường đi về Nhà Cha». Như vậy, các chi thể của công đoàn Giáo hội sẽ đồng thời là chi thể của hội đồng dân tộc. Công đoàn Giáo hội Việt Nam phải là thành phần của nhân dân, thay v́ làm một lực lượng ở ngoài hay ở trên nhân dân. Trong sự hiệp thông với Giáo hội toàn cầu và với người kế vị thánh Kitô, Giáo hội Việt Nam phải chia sẻ, không phải bằng lời nói suông và những bài tuyên bố nguyên tắc, nhưng bằng việc dấn thân thật sự, chia sẽ những khổ đau và những ước nguyện của nhân dân Việt Nam, từ bao đời đă chiến đấu để được sống tự do và xứng đáng trên mảnh đất ḿnh làm chủ. H́nh thành từ những con người có xương có thịt, Giáo hội đă và luôn vẫn có thể sai phạm trong nhiều lĩnh vực khác nhau, Vatican, hiện thân tân thời của các nước Ṭa thánh xưa, cũng không thoát khỏi t́nh cảnh này.

 

Đă hẳn, Giáo hội Việt Nam, trung thành theo các huấn giáo của Đức Kitô đă chọn Thiên Chúa, ít ra trên nguyên tắc. Tuy nhiên, người ra có quyền đặt câu hỏi: liệu giáo hội có thực sự chọn Thiên Chúa hay chăng.

 

Thiên Chúa lẽ nào đứng chung với đế quốc đang chà đạp quyền sống của những dân tộc nhỏ bé, kể cả những lúc đế quốc vung vít đưa tên Chúa ra? Thiên Chúa lẽ nào đứng về phía tiểu số những người giầu có đang bóc lọc thậm tệ đại đa số nhân loại nghèo đói, rồi thỉnh thoảng cứ quẳng xuống khỏi bàn tiệc của ḿnh những mẩu vụn cho các nước chậm phát triển»?

 

Thiên Chúa lẽ nào đứng chung với các công ty liên quốc đang áp đặt luật lệ của ḿnh cho đại dương bao la nhân loại đói nghèo, khốn cùng? Thiên Chúa lẽ nào đứng về phe những chế độ cảnh sát trị thối nát, chỉ bênh vực bọn quyền thế và tra tấn dân nghèo, thấp cổ bé họng?

 

Thiên Chúa lẽ nào lại vui thích ở giữa bao cảnh bất công xă hội, những h́nh thức người bóc lột người, chạy theo lợi nhuận, tiền bạc?

 

Thiên Chúa của người Kitô hữu đă sinh ra làm người để cứu độ dân nghèo, giải thoát những kẻ bị áp bức, tạo dựng một cộng đồng thế giới chia sẻ giai cấp, không c̣n đặc quyền đặc lợi, không c̣n cảnh người thống trị con người, dân tộc này thống trị dân tộc khác, Thiên Chúa đó có thể chấp nhận rằng Giáo hội ḿnh là giáo hội tích trữ biết bao tài sản lớn lao mà lại từ chối việc chia sẽ, chỉ ăn tiệc tại nhà người giàu có mạnh thế của trần gian chăng?

 

Tại Việt Nam, Giáo hội không thể t́m gặp Chúa ngoài dân tộc Việt Nam từng chiến đấu những ba chục năm trời, chống lại sự thống trị ngoại bang, mặc dầu những người ngoại bang đó là Kitô hữu, chống lại sự khống chế của ngoại bang về kinh tế và văn hóa của dân tộc - cho dầu nền văn hóa đó không mang nhăn hiệu Kitô giáo, nhưng nó chống lại những sự bất công của một chế độ phong kiến lỗi thời và đầy áp bức.

 

Giờ lịch sử đă điểm, đất nước đă độc lập, Giáo hội gặp được cơ hội để sống theo Tin mừng, nhờ việc thanh luyện khỏi những ǵ của một qua khứ không mấy vinh dự.

 

Nhằm thực hiện một cuộc trở về với dân tộc, Giáo hội phải tự ḿnh từ bỏ tất cả những ǵ là đặc quyền đặc lợi, đă giành được nhờ liên hệ với các thế lực thực dân: hoàn toàn trả lại cho nhân dân những tài sản và của cải, biết ḿnh không thể một lúc làm tối Thiên Chúa và Mammon; trao lại cho nhân dân tất cả những cơ sở đại học, trung học, nhà thương, cô nhi viện, mà ḿnh đă từng thiết lập ngày xưa, phải đặt ḿnh vào vị trí phục vụ nhân dân trong tinh thần khiêm tốn, thành thật và vô điều kiện (v́ Đức Kitô đă đến phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ); cộng tác với niềm vui trong ḷng trong trí với công cuộc xây dựng lớn lao và khó khăn này, thanh toán cho hết những tệ nạn do thực dân để lại, băng bó các vết thương chiến tranh, tái thiết đất nước và xây dựng một xă hội mới.

 

MUỐN THẬT SỰ LÀ VIỆT NAM:

 

Giáo hội cần cởi bỏ hết những biểu thức tôn giáo và văn hóa phát xuất từ một năo trạng ngoại lai và Tây phương, sáng tạo ra một nền thần học riêng của ḿnh căn cứ trên cuộc sống và văn hóa của Dân tộc và đồng thời, canh tân theo tinh thần Vatican II, hầu có thể đưa chứng từ về một ĐẤNG KITÔ GIẢI PHÓNG VÀ H̉A GIẢI.

 

ROMA 19-5-1975

TRẦN TAM TĨNH

 

 

 

 

PHỤ LỤC

 

 

PHONG THÁNH

 

Hiện nay đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở nước ta đang đứng trước một vấn đề tế nhị và phức tạp có liên quan đến mối quan hệ giữa đời và đạo, Nhà nước và Giáo hội, Dân tộc và Ṭa thánh.

 

Đó là việc Ṭa thánh Vatican quyết định nâng lên hàng Hiển thánh 117 Chân phúc tử đạo tại Việt Nam, và sẽ làm lễ phong thánh tại Roma vào ngày 19-6 tới đây. (SH:Xem bài "Tiến Tŕnh Phong Thánh" của Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, http://www.dunglac.org/)

 

Sự việc này không chỉ là việc nội bộ của Giáo hội, mà c̣n có liên quan sâu sắc đến mối quan hệ đạo và đời, giữa đạo này với đạo khác, giữa người theo đạo Thiên Chúa với ngưới không theo đạo Thiên Chúa ở nước ta.

 

Nó không phải chỉ là một nghi thức tôn giáo đơn thuần, mà c̣n đụng chạm đến những vấn đề lịch sử của dân tộc ta.

 

Nó không phải chỉ thuộc về thẩm quyền trong quan hệ giáo quyền đơn phương giữa Ṭa thánh Vatican với Giáo hội Thiên Chúa Việt Nam và Giáo hội một số nước có giáo sĩ đến truyền giáo tại Việt Nam, mà c̣n đụng chạm tới chủ quyền dân tộc và uy tín quốc gia của nước ta trong các mối bang giao quốc tế giữa các nhà nước và trước những hành động của các tổ chức nước ngoài với Tổ quốc ta, Dân tộc ta.

 

Trong những ngày vừa qua, ư thức được trách nhiệm đối với tín ngưỡng của ḿnh, nhiều giáo dân, giáo sĩ và nhân sĩ Thiên Chúa giáo đă có những cuộc hội họp, phát biểu ư kiến, nói lên những suy nghĩ, băn khoăn. Nhiều người đă đưa ra những giải pháp cụ thể.

 

Nhiều người không theo đạo Thiên Chúa, giới Sử học và các nhà khoa học khác, trong tinh thần bảo vệ khối đoàn kết dân tộc và tinh thần khoa học khách quan, bảo vệ chân lư lịch sử, cũng muốn lên tiếng tham gia.

 

C̣n ở nước ngoài, ngay tại Rôma, các chương tŕnh phát thanh đạo Thiên Chúa bằng tiếng Việt vẫn không ngừng loan tin và đề cao việc phong thánh sắp tới như là một sự kiện quan trọng trong hoạt động của Ṭa thánh trong năm nay.

 

Đối với một việc hệ trọng như thế mà - Giáo hội Việt Nam từ Hội đồng Giám mục đến giáo sĩ và giáo dân đă không được bàn trước. Nhà nước ta đă không được tham khảo ư kiến. Từ cuộc họp giữa Ban Tôn giáo Chính phủ với Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục (tháng 9-87) đến nay, t́nh h́nh chưa có dấu hiệu ǵ để có thể yên tâm. V́ thế, Ban Tôn giáo của Chính phủ đă yêu cầu Cụ Hồng y mời các Cụ Giám mục trong các giáo phận trong cả nước về họp để các Cụ bàn bạc và cùng chúng tôi t́m cách giải quyết hợp lư hợp t́nh.

 

Việc thờ kính các Thánh trong tôn giáo là điều b́nh thường, việc phong thánh ở các nước xưa nay cũng là b́nh thường, không những không gây những xáo trộn tâm lư - xă hội lớn, mà c̣n đem lại niềm tự hào nỗi vui mừng và nguồn cổ vũ đối với người có đạo, được sự chấp thuận, tán thành, có khi cùng vui mừng với nhân dân cả nước.

 

Nhưng việc phong thánh lần này của Ṭa thánh Vatican đối với nước ta là một việc làm không b́nh thường. Do nội dung và h́nh thức của nó, do cách tiến hành cũng như hậu quả của nó, việc làm này đă gây nên một t́nh h́nh nghiêm trọng, không lợi ǵ cho đạo mà gây khó xử cho giáo sĩ và giáo dân trong nước, xuyên tạc lịch sử dân tộc, xúc phạm t́nh cảm của những người ngoài đạo, ành hưởng xấu đến đoàn kết toàn dân, làm thương tổn mối quan hệ đang tiến triển thuận lợi giữa Nhà nước và Giáo hội, gây trở ngại cho ḷng mong muốn có quan hệ thiện chí và hữu nghị giữa Việt Nam và Vatican.

 

Mỗi nước, mỗi dân tộc có đặc điểm và truyền thống riêng. Ở nước ta, có đặc điểm riêng của dân tộc ta. Truyền thống của nước ta là dân tộc đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau, nhất là khi có bọn ngoại xâm, là giải quyết việc ǵ cũng lấy nghĩa chung làm trọng. T́nh dân tộc, nghĩa đồng bào thật sự đă thành thịt xương, thành máu mủ của nhân dân ta. Từ đời này qua đời khác, hàng bao thế hệ đă đổ máu xương để cho dân tộc được độc lập tự do. Truyền thống này đă thấm sâu vào nhân dân ta.

 

Từ thế kỳ 16, do giao lưu quốc tế phát triển trên nền phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phương Tây, đạo Thiên Chúa vào Việt Nam bằng công cuộc truyền giáo của các giáo sĩ người phương Tây. Việc du nhập này, diễn ra vào thời điểm chủ nghĩa tư bản phương Tây đă chuyển sang giai đoạn của chủ nghĩa đế quốc đi chiếm lĩnh thuộc địa, làm cho giữa lịch sử truyền giáo và quá tŕnh xâm lược của chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam đă có những mối quan hệ gắn bó khăng khít chặt chẽ, thậm chí có lúc lẫn lộn, khó phân biệt.

 

Không phải các sử gia ngoài đạo, mà chính các giáo sĩ Thừa sai và sử gia Thiên Chúa giáo đă xác nhận «thanh gươm Pháp quốc» đă giúp sức cho Giáo hội đứng vững và cắm rễ tại nước ta. Cũng chính lịch sử Giáo hội và các giáo sĩ Thừa sai đă viết không biết bao nhiêu sách vở để giới thiệu và ca tụng công lao của các vị Thừa sai làm lợi cho Tổ quốc quê hương của họ trong khi đi truyền đạo. Nhiều vị Thừa sai quá hăng hái c̣n nói trắng ra nguyên vọng của ḿnh là muốn biến mảnh đất Việt Nam này thành «một nước Pháp thu nhỏ lại ở vùng châu Á».

 

Chủ nghĩa thực dân hung hăn và xảo quyệt đă lợi dụng đạo Thiên Chúa một cách thô bạo, thắng trợn. Nhiều vị chủ chăn cũng muốn dựa vào quyền lực thực dân để truyền đạo và làm lợi cho đạo. T́nh h́nh này đă để lại cho dân tộc ta và cho đạo Thiên Chúa ở nước ta nhiều mắc mứu lịch sử cho đến nay chúng ta vẫn c̣n phải giải quyết.

 

Điều đau buồn cho dân tộc ta là lịch sử truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam đă gây ra những trang thấm máu. Hơn ai hết, nhân dân ta, lịch sử của nước ta, những người đang sống ngày hôm nay để bảo vệ và xây dựng đất nước này có quyền và có thể nói một cách xác thực vấn đề này.

 

Thư chung của Hội đồng giám mục Việt Nam 1980 đă khẳng định: «lịch sử của đạo xen lẫn ánh sáng và bóng tối». Trong bóng tối của lịch sử thời đó, chúng ta đang muốn t́m ra những lời giải đáp minh bạch trước sự thực đau ḷng của qua khứ: khi đạo được tự do truyền bá th́ dân tộc bị làm nô lệ, kể cả dân có đạo. Khi Giáo hội được tôn vinh là trưởng nữ của Hội thánh ở Á đông th́ hai tiếng Việt Nam bị xoa tên trên bản đồ thế giới. C̣n ǵ nhục bằng nhục mất nước. C̣n ǵ đau khổ bằng bị nô lệ, làm thân trâu ngựa. Lúc đó Giáo hội ở đâu? Ai là người t́m vinh quang cho riêng ḿnh, ai là người trăn trở v́ t́nh dân tộc, nghĩa đồng bào? Ai là người say mê quyền lực trần thế? ai là người lên tiếng v́ T́nh thương, Lẽ phải và Đạo lư chân thực?

 

Chúng tôi vẫn biết rằng ngay từ đầu và trong suốt lịch sử của đạo tại nước ta, đă có nhiều người theo đạo Thiên Chúa yêu nước. Sử liệu c̣n ghi khi Pháp tiến chiếm Nam kỳ, có những giáo dân không chạy về đồn giặc mà ở lại giúp đở nghĩa quân, có những nhân sĩ tôn giáo kể cả giáo sĩ tận tụy bày mưu giúp nước. Họ là những người đă giúp trọn vẹn tấm ḷng trung trinh với tổ quốc. Rất tiếc các tài liệu chính thức của Giáo hội ít nói đến họ, chưa biểu dương họ.

 

Những sai lầm của những người có trách nhiệm trong qua khứ đă đặt đồng bào theo đạo Thiên Chúa lúc đó đứng trước một chọn lựa bi thảm: được đạo th́ mất nước, mà mất nước th́ đạo cũng không hay ǵ, giáo dân và giáo sĩ bản quốc cũng bị áp bức, chèn ép. Trước sự thách đố đó, nhiều người đă lầm tưởng: được nước th́ mất đạo; ngược lại thậm chí có những người c̣n suy nghĩ sai lầm rằng: muốn giữ nước th́ phải triệt đạo. Đó là điều sai lầm và bi thảm; Bế tắc trong phương hướng giải quyết trước sự tiến công hung hăn của chủ nghĩa thực dân, triều đ́nh phong kiến đă không thống nhất được nhân tâm, không đoàn kết được toàn dân để đánh giặc, lại để xảy ra những cảnh cốt nhục tương tàn làm suy yếu sức mạnh của dân tộc, tạo cơ hội cho giặc Pháp cướp được nước ta.

 

Nhiều giáo sĩ và giáo dân xưa nay khi nói đến các vua chúa cấm đạo th́ chỉ phê phán các vua chúa mà quên mất những âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của chủ nghĩa thực dân, và thậm chí cả thái độ và hoạt động rất đáng phàn nàn của không ít giáo sĩ thừa sai lúc bấy giờ.

 

Các triều đại phong kiến Việt Nam cũng như bất cứ triều đại phong kiến nào lúc bấy giờ đă có những thiên kiến tôn giáo riêng, có những nghi lễ tôn giáo chính thức của triều đ́nh, nhưng trước khi mất nước các vua chúa Việt Nam là người đại diện cho chủ quyền quốc gia của một đất nước độc lập. Việc cấm đạo của các vua chúa phong kiến diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử rất phức tạp, không thể nói hành động đó chỉ là bách hại tôn giáo mà không nh́n thấy mối đe dọa sự sống c̣n của dân tộc.

 

117 Chân phúc sắp được biểu dương, có người Việt Nam, có giáo sĩ ngoại quốc. Trong số người Việt Nam, có những người không vi phạm tư cách công dân và là những giáo dân ngay lành, nhưng có người liên can vào những vụ án chính trị có sự tham gia của cả lương lẫn giáo và đă bị kết án về tội phản bội Tổ quốc. Trong số các giáo sĩ Thừa sai, nhiều người đă bị truy lùng, bắt giữ v́ liên lạc với các tàu chiến Pháp đang ḍm ngó ở ngoài khơi, đă bắn phá vào bờ biễn của Tổ quốc, hoặc đang chở người về nước mưu gây ra những vụ bạo động vũ trang chống lại triều đ́nh. Đề cao những người này không hay ǵ cho đạo và làm cho những người không theo đạo Thiên Chúa khó hiểu về thái độ của người theo đạo Thiên Chúa.

 

Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vạch đường cho Cách mạng Việt Nam, nhân dân ta, các dân tộc, các tôn giáo đoàn kết chiến đấu hy sinh để giành lại độc lập tự do cho tổ quốc xóa được cái nhục mất nước thống nhất, xây dựng khối đoàn kết toàn dân ngày càng bền vững.

 

Đất nước có độc lập tự do th́ Giáo hội mới được độc lập tự do.

 

Từ 30-4-1975 đến nay, Đảng và Nhà nước ta kiên tŕ thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng trước sau như một, cố gắng xây dựng khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa lương và giáo, để cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Nhờ có đất nước thống nhất, Hội đồng Giám mục của nước được thành lập, một trang sử mới của Giáo hội đă bắt đầu.

 

Hội đồng Giám mục đă ra Thư Chung 1980 chọn lựa con đường gắn bó với dân tộc, sống Phúc âm trong ḷng Dân tộc, kêu gọi mọi người quên đi quá khứ và nh́n về tương lai, xác định người tín hữu có hai nghĩa vụ: nghĩa vụ với Thiên Chúa và nghĩa vụ với Tổ quốc.

 

Vậy Vatican, bằng quyết định phong thánh, định làm ǵ khi muốn mở lại trang sử củ, dựng lại thời kỳ các giáo sĩ truyền giáo cùng lúc với chủ nghĩa thực dân phương Tây lăm le xâm lược nước ta: khơi lại những kư ức về một giai đoạn nhân dân ta bị mất nước?

 

Việc làm đó làm sao nhân dân ta hàng chục triệu người không theo đạo Thiên Chúa có thể đồng t́nh thông cảm. Hơn nữa suốt thời kỳ thực dân cũ và mới lợi dụng đạo Thiên Chúa để củng cố sự thống trị của chúng ở nước ta, hơn một thế kỷ qua chúng đă tạo ra ngăn cách giữa đồng bào lương giáo ngày càng sâu sắc. Chúng đă dùng tôn giáo nào chèn ép tôn giáo khác mà cho máu chảy đầu rơi, ngay cả ở nơi thờ tự của các tôn giáo khác. Từ khi các giáo sĩ phương Tây đến nước ta cùng với chủ nghĩa thực dân, đâu phải chỉ có tín đồ đạo Thiên Chúa chết v́ đạo dưới các triều đại phong kiến, mà c̣n có biết bao nhiêu tín đồ các tôn giáo khác, cả đồng bào theo đạo Thiên Chúa bị chết v́ đàn áp dưới thời thực dân Pháp và dưới chế độ Mỹ ngụy.

 

Thật đáng trách việc phong thánh hiện nay được bắt đầu bằng một thư thỉnh nguyện có nội dung chính trị không tốt của Hội đồng Giám mục và thư đó rơi vào kế hoạch đă chuẩn bị trước của những người ở nước ngoài. Qua đó, một số Hội đồng Giám mục và Hội đồng Quốc tế đă hiểu lệch lạc về lịch sử dân tộc và t́nh h́nh tôn giáo hiện nay ờ nước ta.

 

Tiếp theo là việc làm và những lời tuyên bố của một số quan chức ở Ṭa thánh với nội dung vu khống, nói xấu dân tộc và Nhà nước ta, gây chia rẽ giáo lương, làm tổn hại đến khối đoàn kết dân tộc. Một số người có hận thù với dân tộc đă di tản ra nước ngoài, ra sức lợi dụng sự kiện này để hoạt động chiến tranh tâm lư, ḥng tiếp tục tư tưởng thánh chiến chống Cộng.

 

Ngay trước khi quyết định phong thánh, Ṭa thánh Vatican lập ra một Ủy ban đặc trách người theo đạo Thiên Chúa Việt Nam ở nước ngoài và Ủy ban này đang đảm trách chuẩn bị lễ phong thánh. Như vậy Hội đồng Giám mục Việt Nam c̣n có quyền đại diện cho Giáo hội Việt Nam ở ngoài nước và bên cạnh Ṭa thánh Vatican không?

 

Chúng tôi muốn lưu ư một chi tiết là: không hiễu vô t́nh hay hữu ư, Ṭa thánh Vatican đă chọn ngày 19-6 ngày kỷ niệm của «Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa» làm ngày lễ phong thánh. Cộng đồng người Việt Nam sẽ suy nghĩ sao về người theo đạo Thiên Chúa khi lễ phong Thánh được tổ chức vào ngày đó?

 

Ngày 18.9.1987, thừa lệnh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ban Tôn giáo của chính phủ đă gặp các Cụ trong Ủy ban Thường vụ Hội đồng Giám mục để nói rơ tính nghiêm trọng của sự việc và để các Cụ bàn biện pháp ứng xử. Sau cuộc họp, Ủy ban Thường vụ đă gửi thư cho các Cụ và yêu cầu các Cụ hướng dẫn cho toàn thể Linh mục và giáo dân trong các giáo phận.

 

Tại cuộc họp đó, Nhà nước ta với ḷng chân thành mong rằng các Cụ bàn bạc và t́m ra giải pháp để cùng Vatican giải quyết sao cho nguyện vọng của đồng bào theo đạo Thiên Chúa được thực hiện trong khối đoàn kết nhân dân ta ngày càng bền vững, chủ quyền quốc gia của ta được tôn trọng, và mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội ngày càng tiến triển tốt đẹp, tạo triển vọng cho mối quan hệ giữa Vatican và Nhà nước ta.

 

Tiếc rằng những ǵ đă diễn ra sau đó chỉ là hành động nữa vời, chưa phải nhằm đi tới giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng.

 

Trong cuộc họp, Hội đồng Giám mục lần này chúng tôi mong các Cụ Giám mục nhận lănh trách nhiệm trước dân tộc, trước lịch sử và trước Giáo hội của ḿnh, bàn bạc để giải quyết vấn đề một cách tốt đẹp, hợp lư, hợp t́nh.

 

Về phần ḿnh, Ban Tôn giáo của Chính phủ sẽ hết sức giúp đở để các Cụ giải quyết sao cho được tốt đẹp đời đẹp đạo.

 

NGUYỄN QUANG HUY

Trưởng ban Tôn giáo chính phủ

(Phát biểu tại Hội nghị của Hội đồng

Giám mục Việt Nam tháng 3/1988)

෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴෴

TRỜI MỚI ĐẤT MỚI

 

Hội Thánh của Chúa Giê-su Kitô.

 

Để sống trung thành với bản chất và sứ mạng của Hội thánh, chúng tôi đề ra đường hướng mục vụ sau đây: chúng ta phải là Hội Thánh của Chúa Giê-su Kitô trong ḷng dân tộc Việt Nam.

 

Trước hết chúng ta, phải là Hội Thánh của Chúa Giê-su Kitô, nghĩa là:

 

1. Gắn bó với Chúa Kitô và hiệp nhất với Giáo Hội toàn cầu.

2. Gắn bó với Đức Giáo hoàng, vị đại diện của Chúa Kitô, người được Chúa trao trách nhiệm «chăn dắt đàn chiên của Người. (x. Giaon 21, 15-18)», và «làm cho anh em vững mạnh» (Lc 22, 32).

3. Gắn bó với nhau trong t́nh huynh đệ theo kiểu mẫu Hôi Thánh thời sơ khai «Chỉ có một tấm ḷng, một linh hồn, không một người nào nói là ḿnh có của ǵ riêng nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung» (Cv 4, 32. 2, 42).

4. Trung thành với tinh thần của Cộng đồng Vatican II, là tinh thần cởi mở, đối thoại và ḥa b́nh với cộng đồng xă hội ḿnh đang sống.

 

Để đạt mục đích ấy, trước hết chúng ta phải không ngừng hoàn cải lương tâm và thay đổi cách sống của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đoàn Dân Chúa trong Hội Thánh ở Việt Nam sao cho phù hợp với Phúc âm hơn. Công việc này chúng ta thực hiện nhờ lắng nghe lời Chúa, lănh nhận các bí tích, chuyên

cần cầu nguyện và thành tâm kiểm điểm đời sống. (LBTM 15)

 

○ Gắn bó với dân tộc và đất nước.

 

Là Hội thánh trong ḷng Dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng Quê hương, noi theo truyền thống Dân tộc ḥa ḿnh và cuộc sống hiện tại của Đất Nước. Công đồng dạy rằng «Hội Thánh phải đồng tiến tới toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới» (MV 4, 2). Vậy chúng ta phải đồng hành với Dân tộc ḿnh, v́ Quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, Đất Nước này là ḷng Mẹ cưu mang chúng ta trong quá tŕnh thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, Dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân, vừa là thành phần Dân Chúa.

 

Sự gắn bó và ḥa b́nh này đưa tới những nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm lại trong hai điểm chính:

 

1. Tích cực góp phần cùng đồng bào cả Nước bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

2. Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả Đức tin phù hợp hơn với truyền thống Dân tộc.

 

○ Cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

 

Về nhiệm vụ thứ nhất là tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng Tố quốc, chúng tôi muốn khẳng định rằng: yêu Tổ quốc yêu đồng bào đối với người Công giáo không những là một t́nh cảm tự nhiên phải có, mà c̣n là một đ̣i hỏi của Phúc âm, như Công đồng nhắc nhở: «Các người Kitô từ mọi dân tộc tụ họp trong Hội Thánh, không phân cách với những người khác về chế độ, về ngôn ngữ, cũng như về tổ chức xă hội trần gian, nên họ phải sống cho Thiên Chúa và cho Chúa Kitô trong nếp sống lành mạnh của dân tộc ḿnh là công dân tốt, họ phải thực sự và tích cực vun trồng ḷng yêu nước» (TG 15).

 

Ḷng yêu nước của chúng ta phải thiết thực, nghĩa là chúng ta phải ư thức những vấn đề hiện tại của Quê hương, phải hiểu biết đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước, và tích cực cùng đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do và hạnh phúc.

 

Trong công cuộc phục vụ Quê hương, Phúc Âm cho chúng tôi ánh sáng và sức mạnh để khắc phục các khó khăn và các xu hướng cá nhân ích kỷ, nêu cao tinh thần phục vụ của bác ái phổ quát, hướng tới cảnh «Trời Mới Đất Mới» (Kh. 21,1), trong đó tất cả đều ḥa hợp hạnh phúc. Và khi phải phấn đấu xóa bỏ những điều tiêu cực, chúng ta có ơn của Chúa Kitô phục sinh để mặc lấy con người mới công chính và thánh thiện.

 

○ Xây dựng trong Hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc.

 

Về nhiệm vụ thứ hai là xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diển ra đức tin phù hợp hơn với truyền thống Dân tộc, chúng tôi muốn thực hiện điều Công dồng Vaticam II đă tuyên bố: «Những ǵ trong nghi lễ văn hóa riêng của dân tộc, hoạt động của Hội Thánh không nhằm tiêu diệt, nhưng là cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người» (TL 17,1). Muốn thế, một đàng chúng ta phải đào sâu Thánh Kinh và Thần học để nắm vững những điều cốt yếu của Đức Tin, đàng khác phải đào sâu nếp sống của từng dân tộc trong nước, để khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc. Rồi từ đó, chúng ta tận dụng những cái hay trong kho tàng văn hóa mà xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả Đức tin phù hợp hơn với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên Quê hương và trong cộng đồng Hội Thánh này.

 

(TRÍCH THƯ CHUNG CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM 1986)

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend