NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM: Linh mục TRẦN TAM TỈNH (CHƯƠNG IV)


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

   

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian.  Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950  

*  NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ  

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

*  TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

 

Tony Blair picture 1811810 

 

Lê Hồng Phong

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ  

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa 

 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

 

 

* 11 tuổi tự nhận là hiện thân của đại sư Phật giáo (Dân trí) - Một cậu bé 11 tuổi người Mỹ đă quyết định nghỉ học sau khi tự nhận ḿnh là người tái thế của một đại sư Phật giáo đă mất từ năm 1250.  

 

* Bộ mặt thật của một “nhà thơ đấu tranh dân chủ”

* Sự thật về “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” tại Mỹ

* Ông “linh mục” và những hoạt động vi phạm pháp luật

* Nguyễn Văn Lư và sự hoang tưởng về chính trị

* "Giải thưởng nhân quyền" cho 2 công dân vi phạm pháp luật: Một tṛ hề lố bịch

* Từ “100 khuôn mặt văn nghệ sĩ” đến tờ báo phản động “Viễn tượng Việt Nam”  

* “Tôi đă hỏi cung Nguyễn Sĩ B́nh như thế nào?”

* Mỹ triển khai tên lửa sát biên giới Nga

* Động thái mới của Mỹ đối với Israel

* Mỹ bất đồng về việc cắt giảm vũ khí hạt nhân

* Nga - Mỹ lại khẩu chiến về lá chắn tên lửa

* Chương tŕnh hạt nhân của Iran: Giờ G sắp điểm

* Mỹ dùng mạng Internet để bôi xấu chính quyền Tehran

* Mâu thuẫn căng thẳng giữa Venezuela với Mỹ và Colombia

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa.....  (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) -  (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng  Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp 

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

 * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

*THƯ MỤC: NHÂN DÂN VIỆT NAM 2009

*THƯ MỤC NHÂN DÂN VIỆT NAM.2006-2007

 

 

 

 

 

Linh mục TRẦN TAM TỈNH

 

 

 

 

 

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM

 

 

 

  

 

 

 01

 

 

 

   

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - 1978

 

  

 

 

Chương IV

 

GIÁO HỘI TRONG KHÁNG CHIẾN

 

1 ─ NGƯỜI CÔNG GIÁO YÊU NƯỚC VÀ NHỮNG NGƯỜI CÁCH MẠNG

 

Từ những năm 20-30, Cơ quan an ninh và Mật vụ trung ương của Toàn quyền Đông Dương bắt đầu theo dơi sát người Công giáo, từ trước tới giờ kể như hoàn toàn nhiệt t́nh với Pháp nhưng từ nay t́nh cảm yêu nước bắt đầu lộ dạng. Các Linh mục Việt Nam đă gửi thư tŕnh bày với Ṭa thánh những nỗi đau buồn của họ, v́ tất cả các chức vụ cai quản Giáo hội đều nằm trong tay vị thừa sai nước ngoài. Việc thông báo này được làm cách bí mật, không cho các Giám mục người Âu hay biết.

 

Cơ quan an ninh trung ương nêu rơ mối nguy cơ của việc này: một đàng, Hồng y Van Rossum, đứng đầu Thánh bộ Truyền bá Đức tin, tỏ ra không thân với nước Pháp. Đàng khác, t́nh cảm yêu nước của người Công giáo có thể đưa đẩy họ tham gia các phong trào nổi dậy nhằm cởi bỏ ách nô lệ. Trong một tài liệu đề ngày 1 tháng 10 năm 1924, t́nh h́nh chưa phải là báo động: Dầu chính sách của ta tại Đông Dương có thế nào chăng nữa, đều vô lư là tại sao không chịu tiếp tục xử dụng lực lượng dể bảo và có năng lực (Công giáo) đó, nhất là v́ lợi ích của thuộc địa. Nhưng trong một tài liệu mật đề ngày 14.12.1934, nghĩa là một năm sau khi phong chức cho Giám mục Việt Nam đầu tiên, chính phủ thuộc địa nhận thấy rằng các linh mục trẻ trước tiên là hạng người yêu nước và hàng Giáo sĩ Pháp không thể cả quyết được rằng ḿnh «nắm họ chắc chắn trong tay». Bởi thế, nhiệm vụ của chính quyền là phải coi chừng ḷng yêu nước khiến họ vượt ra khỏi giới hạn có thể cho phép.

 

Điều làm cho người Pháp lo lắng, là chương tŕnh Vatican dự tính lập thêm một địa phận mới tại Việt Nam và sẽ giao quyền cho một Giám mục người Việt và có thể ngăn chặn sự bộc phát tinh thần yêu nước nơi đồng bào của họ, tinh thần đó đă được gia tăng bởi những biến chuyển về tinh thần. Dầu thế nào đi nữa, th́ hoạt động của một Giám mục người Việt cũng không thể nào được như điều chính phủ có thể hy vọng nơi một giám mục người Pháp. Chính quyền thuộc địa bèn đề nghị chính phủ Pháp gây áp lực khiến Roma theo ư họ. «Tính cách hiển hách của lịch sử nước ta tại mảnh đất này, quyền hành chúng ta đă thiết lập được tại đó, trật tự lớp lang và sự yên ổn chúng ta đă đóng góp vào bằng quân sự, tất cả những thứ đó phải cho phép chúng ta mong được thấy giới Công giáo Pháp tỏ ra bớt nhắm mắt tuân thủ Roma chứ».

 

Chính quyền thuộc địa sợ rằng, Roma lấy lại cách làm thời trung cổ là tạo lập ra một nước Công giáo tại các thuộc địa ─ «Nước Công giáo đă đẻ ra biết bao xáo trộn xă hội, ta đừng quên điều đó» -- rằng Giáo hội Công giáo phát huy phong trào yêu nước đang nổi lên, nhất là từ sau vụ Nhật Bản thắng trận thủy chiến. Trong số các nhà cách mạng nổi tiếng hồi đầu thế kỷ, phải nhắc tới Linh mục Đậu Quang Lĩnh, bị đầy ra Côn Đảo do sự xúi bậy của các cố thừa sai Pháp, rồi được tha về sống quản chế tại Sài G̣n cho tới chết.

 

Linh mục Đậu Quang Lĩnh là người Đức Thọ, Nghệ Tĩnh, cùng với một người đồng hương Công giáo cách mạng khác là Mai Lăo Bạng cũng đă chia sẻ cảnh tù đầy tại Côn Đảo với nhà đại cách mạng Phan Bội Châu. Bị bắt v́ tham gia phong trào Duy Tân và đă tuyên truyền chống Pháp trong giới Công giáo Việt Nam. Cụ Mai Lăo Bạng lúc đầu phải chịu sự cải tạo của các cố Tây từng đe dọa vạ tuyệt thông cho ông, nhưng ông trả lời: «Các linh mục Pháp được quyền yêu nước Pháp và chiến đấu v́ nước Pháp, tạo sao tôi lại bị vạ tuyệt thông chỉ v́ tôi yêu tổ quốc tôi?». Tiếp theo, cụ bị tra tấn, rối bị kết án tù chung thân tại Côn Đảo. Cụ thường nói với những người có dịp gặp rằng: «Đức Kitô chống lại tội bóc lột, áp bức, đó là tôi sống trung thành theo giáo huấn của Chúa. Người Công giáo và người không Công giáo có khác nhau về tôn giáo, nhưng họ giống nhau một địa bàn, đó là ḷng yêu nước và làm cách mạng chống thực dân để cứu Quê Hương». Nhờ áp lực của dư luận quần chúng, cụ Bạng được tha một lần với cụ Phan Bội Châu năm 1918 và phải sống rất cơ cực với suốt chuỗi ngày c̣n lại dưới sự kiểm soát của cảnh sát. Cụ Phan Bội Châu hết lời ca ngợi cụ Mai Lăo Bang. «Cụ Mai Lăo Bang đă phải chịu trăm ngh́n sự khốn khổ v́ ḷng yêu nhân dân và mặc dầu bị đàn áp mấy cụ vẫn không hề thay đổi tư tưởng. Cụ thật là một đồ đệ xứng đáng của Đức Kitô».

 

Hồi những năm 30, đă có các cuộc nổi dậy của nhân dân tại Yên Bái, Vinh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quăng Ngăi, B́nh Định, Thái B́nh v.vv... trong số người bị cảnh sát Pháp bắt và đầy vào ngục thất Côn Đảo, Đắc Tô, Sơn La, người ta thấy có hàng trăm người Công giáo. Trong số này, có linh mục Nguyễn Thần Đồng, người gốc Nhân Hoa, tỉnh Nghệ An; Linh mục Nguyễn Văn Tường đă chết trên tàu chở ra Côn Đảo với nhiều anh em khác bởi bị tra tấn đánh đập quá dă man do bàn tay cảnh sát Pháp. Những người cách mạng này thường kết hợp với các tổ chức yêu nước thời đó, hoặc đơn phương chống lại chính quyền thực dân mà không qui chiếu ǵ đến vấn đề tôn giáo riêng của ḿnh.

 

Măi tới năm 1945, gần tới ngày cách mạng tháng Tám, người ta mới nghe nói tới các tổ chức Công giáo đứng ra vủ trang đánh bọn thực dân Pháp và Nhật. Những nhóm Công giáo này cũng tổ chức chiến khu tại Quỳnh Lưu, Ninh B́nh dùng chiến thuật du kích tấn công các đồn bót Pháp.

 

2 - NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ

 

Ai cũng biết sự phấn khởi của các linh mục và giáo dân Việt Nam sau ngày Cách mạng tháng Tám. Nhưng trời Việt Nam chẳng bao lâu đă tối sầm lại. Tháng 9, 1945, các toán quân viển chinh của tướng Leclerc đổ bộ lên Sài G̣n. Cụ Hồ Chí Minh lên tiếng ngày 26-8, kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến. Liên đoàn Công Giáo kháng chiến Nam bộ được thành lập. Nhờ hỏa lực mạnh, bọn Pháp đánh chiếm khá dể dàng các thành phố và trục giao thông. Cùng những nhóm kháng chiến khác, thành phần Công giáo kháng chiến phải rút vào bưng và dùng chiến thuật du kích đánh lại quân chính qui.

 

Hồi đó, Nam bộ được chia ra ba vùng chiến khu, là khu 7, 8, và 9 (khu 1, 2, 3 ở Bắc -- khu 4, 5, 6 ở Trung). Tại mỗi khu, kháng chiến Công giáo có khoảng 400-600 chiến sĩ, được trang bị những súng cũ, nhưng tinh thần rất cao, nhất là nhờ sự cổ vũ của đồng bào Công giáo tuy không có vũ khí, mà cũng quyết tâm đánh đuổi quân thù. Về mặt thiêng liêng, họ được các linh mục yêu nước giúp đỡ, như ba anh em linh mục Nguyễn Bá Luật, Nguyễn Bá Sang và Nguyễn Bá Kinh. Cha Luật bị bắt, bị giam lâu ngày trong một quân lao ở Ḥa Hưng. Linh mục Lê Đ́nh Hiền đă bị chết trong một trận không kích của máy bay. Trong số linh mục kháng chiến c̣n sống sót sau 8 năm vào bưng, phải kể các cha Hồ Thành Biên, Lương Minh Kư, Nguyễn Bá Kính, Vơ Thành Trinh.

 

Đời sống trong bưng rất cực khổ. Bị máy bay ném bom đánh phá liên tục, bị các đoàn xe lội nước càn quét, quân kháng chiến không những chống cự lại và công địch, mà c̣n phải lo việc bảo vệ các thôn lương và giáo khỏi bị giặc đánh phá càn quét. Giữa Kháng chiến Công giáo và Việt Minh luôn luôn c̣ sự đoàn kết chặt chẽ. Một người Công giáo cựu kháng chiến thời đó thuật lại: «Nhờ các Linh mục lănh đạo tổ chức khéo léo và hoàn chỉnh, Ủy ban Kháng chiến Nam bộ đă tin tưởng chúng tôi và chấp nhận cho chúng tôi hợp tác chặc chẽ. Cha Luật trở thành ủy viên trong Ủy ban Kháng chiến và từ tháng 5 năm 1946, nhiều người Công giáo kháng chiến các Khu như ông Nguyễn văn Trương, Công giáo Kháng chiến khu 8 và Trịnh khánh Vàng, chủ tịch Công giáo Kháng chiến khu 9, được cử làm Phó chủ tịch các Ủy ban Kháng chiến hai khu 8 và 9.

 

Ngoài các khó khăn của chiến tranh du kích, người Công giáo kháng chiến c̣n phải đương đầu với những gian khổ khác nữa nhằm đánh mạnh vào Công giáo kháng chiến. Pḥng Nh́ của quân viễn chinh Pháp đă lập ra các «Đơn vị lao động bảo vệ Công giáo», tập họp thành phần Công giáo bảo thủ dưới một ngọn cờ riêng - h́nh Thánh giá trên nền trắng và xanh (màu cờ Đức Mẹ) và phương châm «V́ Chúa V́ Tổ Quốc». Mục tiêu của họ là các làng Công giáo c̣n nằm trong tay kháng chiến kiểm soát. May thay, đám «lính Chúa» này tại Nam bộ không được hàng giáo phẩm chúc lành và không gây tác hại cho danh nghĩa Công giáo bằng Lính Công giáo ở Đồng bằng sông Hồng.

 

Nhưng cái đe dọa làm nhụt đi năng lực của Công giáo kháng chiến, không phải là cuộc tấn công của các đoàn «lính chúa», nhưng chính là khoa tâm lư chiến của đạo quân viễn chinh, triển khai nhân danh Vatican từ năm 1950. Máy bay Pháp đă mưa xuống các vùng Kháng chiến kiểm soát hàng loạt truyền đơn, có h́nh đức Piơ XII kèm theo những lời kết án Cộng sản, hoặc sắc chỉ ra vạ tuyệt thông Cộng sản.

 

Người ta bảo rằng chung sống với Việt minh tức là bỏ đạo, là phản bội đức tin. Ngược lại, để làm mất uy tín của Kháng chiến, bộ tâm lư chiến lại tung ra những tin tức nói rằng nhiều linh mục và lănh tụ Công giáo đă bị Cộng sản giết hại, hoặc đă bỏ đạo hàng loạt nơi xứ nọ xứ kia trong vùng kháng chiến. Cha Trinh đă nói lại với chúng tôi rằng, cha đă cười muốn chết khi cha và giáo dân của cha lượm được các tờ rơi nói rằng chính cha đă chết rồi!

 

Mặc dầu bị tấn công bởi Pháp về mặt quân sự, cũng như tâm lư, tinh thần Công giáo kháng chiến vẫn cương quyết vững vàng không lay chuyển. Theo hiệp định Giơnevơ năm 1954, Quân đội Việt minh phải tập trung trên vĩ tuyến 17. Chừng 500 người Công giáo kháng chiến đă phải chan ḥa nước mắt từ giă vợ con, để tập kết ra Bắc với các vị mục tử của ḿnh, là cha Hồ thanh Biên, Lương minh Kư, Vơ thành Trinh, Nguyễn bá Lễ.

 

3 ─ CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN BẮC BỘ

 

Cuộc kháng chiến của người Công giáo miền Bắc trong những năm 1946 - 1954, cũng quan trọng không kém trong Nam. Một trong những khuôn mặt nổi bật nhất là linh mục Phạm Bá Trực, địa phận Hà Nội. Trước cách mạng tháng Tám 1945, cha nổi tiếng là một ngườu yêu nước chống Pháp kiên quyết nhất. Sau khi học xong tại Roma - đă đậu tiến sĩ triết và thần học - trở về nước, cha càng thấy rơ hơn ai hết những cảnh bất công đồng bào ḿnh phải chịu cũng như cả Giáo hội Việt Nam phải chịu. Được bầu vào Quốc hội tháng giêng năm 1946, rồi cha được bầu vào Ủy ban Thường trực Quốc hội trong thời kháng chiến. Cuộc sống vất vả trong chiến khu làm cha kiệt sức và đă từ trần ít lâu sau Hiệp định Giơnevơ. Cụ Hồ Chí Minh đă đích thân đọc bài điếu văn để tưởng nhớ công lao con người mà cụ gọi là đại yêu nước và «bạn chí cốt» của cụ. Cụ tuyên bố: «trong tất cả những việc làm, Cụ Trực đă biết kết hợp nhân đức và ḷng ái Kitô giáo theo giáo huấn của đức Kitô với ḷng yêu nước nồng nàn của cụ, nói tắt rằng cụ Trực là một người đại diện đáng kính trọng của nhân dân Việt Nam. Hôm nay, cụ từ trần, chính phủ và nhân dân hết ḷng khóc thương cụ. Trong khi cụ bị đau liệt giường, cụ sẳn sàng đổ máu ḿnh ra v́ sự chiến thắng sau cùng của Kháng chiến... »

 

Như anh chị đồng đạo miền Nam, người Công giáo kháng chiến miền Bắc cảm thấy rất đau ḷng khi các Giám mục tung ra cuộc kháng chiến chống cộng, từ tháng 11 năm 1951, nhất là vào lúc quân lính Công giáo do hàng Giáo sĩ vùng đồng bằng sông Hồng chỉ huy, ngày càng phạm nhiều điều gian ác nhân danh Thánh giá. Linh mục Nguyễn thế Vịnh nói với chúng tôi về tâm trạng của các chiến sĩ. «Chúng tôi cảm thấy một nỗi buồn tê tái trước việc Giáo hội chạy theo cơ đồ của Pháp, nhưng sau khi cùng nhau nghiên cứu kỹ lưỡng tài liệu của hàng Giáo phẩm, chúng tôi đă tuyên bố rằng, hàng giáo phẩm đă tỏ rơ một lập trường chính trị hơn là tôn giáo, rằng lập trường đó đi ngược lại điều răn của Chúa dạy phải yêu mến Tổ quốc - điều răn thừ tư, và cũng đă thiệt hại cho chính Giáo hội Việt Nam, lẽ ra phải đoàn kết cùng toàn dân Việt Nam để giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ. Để đáp lại bản tuyên bố của các Giám mục theo cách của chúng tôi, chúng tôi đă tăng cường cuộc chiến đấu v́ nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam».

 

Cũng cần nhắc qua nỗi khốn khó về tâm lư của những người Công giáo kháng chiến này. Sau Thư chung của các Giám mục năm 1951, họ bị anh em đồng đạo của ḿnh kết án là «giáo gian», xua đuổi không tiếp rước và nếu rủi họ bị đám «lính Công giáo» bắt được, th́ bị tra tấn chẳng khác ǵ Ṭa án tôn giáo ngày xưa. Nhiều lần, những giáo dân bảo thủ cực đoan đă đóng sập cửa nhà thờ ngay trước mũi các linh mục kháng chiến, cấm không cho họ dự thánh lễ, thậm chí lượm đá ném vào họ với những lời chửi rủa thậm tệ lá «đồng minh của Xatan».

 

Họ là ai? Là những vị linh mục và giáo dân, trí thức, công nhân và nông dân. Về các Linh mục kháng chiến, ông Dương Văn Đàm, một luật gia Công giáo Hà Nội viết: «Phải thú thật rằng, những phần tử Công giáo chọn con đường kháng chiến v́ nền độc lập và tự do của dân tộc, đă chứng tỏ một tinh thần hy sinh và dũng cảm đáng ca ngợi. Họ đă ra đi kháng chiến chẳng phải để được một vị trí nào trong xă hội, hay là được tiền bạc ǵ, chẳng qua họ đă t́m trở lại đứng về phía nhân dân bằng những việc làm cụ thể, sống đức tin và rao giảng đức tin không chỉ trên ṭa giảng ở giữa tiếng hát và chuông reo, nhưng là trên đường ṃn Hồ Chí Minh, ống quần xắn cao, lưng mang ba lô, nhằm thực hiện «thần học xả thân», «thần học thực tế của nhân dân» (Chính nghĩa, 21.3.1974).

 

Mặc dầu thế, sấm sét của hàng Giáo phẩm vẫn tiếp tục giáng xuống đầu họ. Linh mục này hay linh mục nọ đă bị treo chén v́ những hoạt động yêu nước, linh mục này hay linh mục khác bị phạt vạ v́ đă bí mật ủng hộ kháng chiến.

 

Ngày 11 tháng 3 năm 1955, tại Hà Nội, đă tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ nhất những người Công giáo kháng chiến, gồm các đại biểu linh mục và giáo dân từ nhiều địa phận và xứ đạo về tổng kết t́nh h́nh và t́m cách đối phó hợp tác h́nh thức hoạt động yêu nước của đồng bào Công giáo. Tại đây, họ không hề nhắc tới chuyện Giáo hội tự trị hay Giáo hội ly khai: Tuy nhiên, do sự xúi giục của Khâm sứ Đulây, Hồng y Fumasoni Bionđi, chủ tịch Thánh bộ Truyền bá Đức tin, đă gửi cho các linh mục yêu nước một bức thư lời lẽ rất nghiêm khắc, tố cáo họ là kẻ cổ vũ và bảo trợ cho một phong trào rất nguy hại cho sự hiệp nhất. Giáo hội tại Đông Dương là một nhánh nho ĺa khỏi gốc nho. Bức thư c̣n tiếp tục đưa những suy nghĩ thần học. Chỉ có Giáo hội mới là «cột trụ của chân lư». Và chỉ ở bên trong sự hiệp nhất và đồng tâm đó th́ việc cứu rỗi đất nước thân yêu của các cha mới có thể thực hiện về mặt tinh thần cũng như về mặt vật chất, lời sau đây của Chúa Giêsu và sẽ măi măi một chân lư không thể chối bỏ? «mọi quốc gia mà chia rẽ nội bộ th́ sẽ sập đổ»

 

Giám mục Hoàng văn Đoàn, lúc đó là giám mục Bắc Ninh, đă gởi cho Đại hội một thư chúc mừng ủng hộ. Ít tháng sau, ngài rời xa đất nước với giấy phép đi Hồng Công điều trị một vết thương do tai nạn. Theo một người từng quen biết đức cha và đă gặp đức cha nhiều lần trước ngày ra đi, th́ Đức cha phải ra đi v́ vâng lệnh đức Khâm sứ Đulây đă không bằng ḷng với kiểu lập trường của đức cha đối với những người Công giáo yêu nước. Ông này là một ông biện nhà thờ chính ṭa Hải pḥng. Khi tôi gặp đức cha Đoàn tại ṭa Giám mục Hải pḥng, tôi có hỏi ngài: «Khi các Linh mục Hải pḥng c̣n đông, cha Nghiệm đă tuyên bố trước mặt họ và trước mặt chúng con rằng Việt minh đă đánh găy một gị của đức cha, có đúng thế không? Ngài trả lời đó là một câu nói láo của họ, tôi bị té xe đạp găy một chân, trong lúc đi thăm kẻ liệt, đâu phải Việt minh đánh găy chân tôi.»

 

4 - CỤ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁO HỘI

 

Để mô tả t́nh h́nh Giáo hội tại miền Bắc sau khi quân đội Pháp rút đi, báo Missi đă viết trong số tháng 2-1956 như sau: «Sự im lặng nặng nề của một bức màn vô h́nh. Trong cảnh im lặng nặng nề đó, được giăng ra giữa Công giáo và Cộng sản chủ nghĩa vô thần, cơ bản là chiến đấu ở bên này và đức tin tôn giáo ở bên kia. Bức màn này, chưa có một thiện chí nào thành công. Cái máy ép của Cộng sản không hề nghĩ ngơi, nó ép cho mọi người sa vào đó phải theo một tiêu chuẩn vô thần chung». Phan phát Huồn, linh mục Ḍng Chúa Cứu thế, tác giả của một cuốn sách lớn về lịch sử Giáo hội Việt Nam, xuất bản tại Sài G̣n năm 1962, cả quyết rằng: Kế hoạch của Cộng sản đă rơ, là sử dụng các tổ chức Công giáo cấp tiến để tiêu diệt Công giáo. Ngoài ông Ngô tứ Hạ, do Cộng sản đặt lên đứng đầu tổ chức, người ta thấy một ít người ngày xưa có ḷng đạo và từng là thành phần của những hội từ thiện, nhưng ngày nay đă hoàn toàn theo Cộng sản. Họ vịn vào một vài nguyên tắc tự họ đặt ra để che đậy hành động của ḿnh, họ tuyên bố rằng: «người công Giáo chỉ phải vâng lời các Giám mục và hàng Giáo phẩm trong lĩnh vực đức tin mà thôi». Một nguyên tắc bao gồm nhiều ư tưởng mâu thuẩn! Điều họ chủ tâm thật, là giới hạn các hoạt động của hàng Giáo phẩm lại trong bốn bức tường nhà thờ, không hơn không kém!”

 

Nhà sử gia giáo hội đó c̣n quở trách những người Công giáo tiến bộ là đă theo đường lối chính trị chống Mỹ và chống Diệm của chính phủ Hồ Chí Minh (!). Tác giả cũng nhấn mạnh ư đồ «ma quỉ» của Cộng sản, là không để tạo ra những vị Thánh tử đạo, mà để cho Giáo hội chết ṃn dần dần.

 

Thực tế xảy ra như thế nào?

 

Hôm lễ Giáng sinh 1954, Cụ Hồ Chí Minh đă gởi một thư chúc mừng bà con Công giáo: «Trong 8 năm chiến tranh, máy bay và xe tăng của Pháp đă tàn phá nhiều ngôi nhà thờ, giết hại nhiều tín đồ. Năm nay là lần đầu tiên chúng ta được ăn mừng lễ Giáng sinh trong ḥa b́nh... Lợi dụng dịp này, tôi muốn nói lại với đồng bào giáo hữu cho rơ, rằng chính phủ của tôi thành thật tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. C̣n những người Công giáo đă đi di cư vào Nam, chính phủ đă ra lệnh cho chính quyền địa phương, phải lo giữ ǵn cẩn thận tài sản của họ và nếu họ trở về th́ sẽ hoàn lại cho họ».

 

Bức thư mừng Giáng sinh 1955 cũng có lời lẽ tương tự: «Miền Bắc chúng ta đă hoàn toàn được giải phóng. Nhân dân ta sống trong phần đất nước đó ngày nay được hưởng tự do thật sự. Họ được yên ổn lao động sản xuất. Người Công giáo, về phần ḿnh, được tự do thờ phượng Chúa. Họ không phải khổ tâm nh́n thấy các nhà thờ bị chiếm đóng bởi kẻ địch tàn sát những người vô tội, gieo rắc khắp nhân dân những điều nhục nhă và đau khổ. Tiếng chuông ḥa b́nh, tự do, hạnh phúc; t́nh cảm thân ái trong ḷng của tất cả người Công giáo miền Bắc Việt Nam...

 

Tôi yêu cầu đồng bào Công giáo miền Bắc, cũng như toàn thể nhân dân, hăy đem hết sức ḿnh góp phần xây dựng một đất nước ngày càn phồn vinh và bền vững. Hăy tham gia tích cực vào các cố gắng của cả nước về sản xuất, trong các ngành sinh hoạt quốc dân. Tôi hết ḷng gởi đến đồng bào Công giáo những lời chúc mừng nồng nhiệt. Tôi chúc cho năm tới sẽ là năm đầu phúc lành cho bà con tín đồ, cũng như toàn thể đất nước ta».

 

Để cụ thể hóa chính sách tôn giáo của chính phủ, quốc hội đă thông qua hồi tháng 3 năm 1955, bốn nghị quyết về sau được thể hiện qua Sắc lệnh ngày 14-6-1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kư. Sắc lệnh đó gồm 3 chương và 15 điều.

 

ĐIỀU 1 ─ Chính phủ bảo đảm quyền tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều được quyền tự do theo một tôn giáo, hoặc không theo một tôn giáo nào. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ sở tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lư v.v...)

 

Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ ḷng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ư thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.

 

ĐIỀU 2 ─ Các nhà tu hành và các tín đồ được hưởng mọi quyền lợi của công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.

 

ĐIỀU 4 ─ Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của ḿnh.

 

ĐIỀU 5 ─ Các tôn giáo được xuất bản và phổ biến các sách giáo lư, các sách và tạp chí mang tính chất tôn giáo, nhưng phải tuân giữ nghiêm chỉnh các pháp luật của chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa về vấn đề xuất bản.

 

ĐIỀU 6 ─ Các nhà thờ, đền chùa, miếu, thánh thất và các đồ thờ, các trường giáo lư của tôn giáo được luật pháp bảo hộ.

 

ĐIỀU 7 ─ Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại ḥa b́nh, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh phá hoại đoàn kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của người khác, hoặc làm những việc trái pháp luật.

 

ĐIỀU 10 ─ Trong cải cách ruộng đất, khi chính phủ trưng thu hoặc trưng mua ruộng đất của các tôn giáo để chia cho nông dân, th́ sẽ để lại cho nhà thờ, nhà chùa, thánh thất, một số ruộng đất đủ lo cho việc thờ cúng và nhà tu hành có điều kiện sinh sống để làm việc tôn giáo. Số ruộng đất là bao nhiêu, sẽ do nông dân tại địa phương (nơi có nhà thờ, nhà chùa, thánh thất) b́nh nghị và do chính quyền cấp tỉnh chuẩn y.

 

ĐIỀU 13 ─ Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo. Riêng về Công Giáo, quan hệ về tôn giáo giữa Giáo Hội Việt Nam với Ṭa Thánh La Mă là vấn đề của nội bộ Công Giáo».

 

Đó là những tuyên bố về ư hướng, hay là những biện pháp của chính sach rộng răi?

 

Một số phê b́nh, luôn luôn có thói quen chẻ sợi tóc làm tư khi đứng trước những sự việc không ăn khớp với tư tưởng thành kiến của họ, th́ ngần ngại t́m thấy trong luật tôn giáo vừa kể những điều sơ hở. Chẳng hạn báo Missi (2-1956) viết: «Quyền tự do được qui định rộng răi như thế, nhưng vẫn hàm chứa nhiều điều phài dè dặt như lưỡi gươm của Đamokles treo trên đầu «những kẻ nào lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để... ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân». Những điểm hạn chế như vậy là xằng bậy, bởi v́ nó giả thiết là có một loại tội ác về tôn giáo. Một hành vi phạm tội bị xét xử không phải tự nó thôi, mà trong quan hệ giữa hành vi đó với tôn giáo. Như thế, một pháp luật mang từ ngữ rất rộng răi cởi mở, có thể thành vô hiệu bởi những h́nh thức hạn chế nhằm xét xử không phải chỉ các hành vi thôi, mà cả ư tứ bên trong nữa!”5 - NHỮNG CUỘC ĐỤNG ĐỘ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

 

Cuộc đụng độ đầu tiên giữa chính phủ Hồ Chí Minh và Giáo hội đă xảy ra vào dịp có cuộc cải cách ruộng đất. Như đă thấy ở chương trên, dưới thời thực dân, Giáo hội là một nhà đại gia chủ. Hơn nữa, cuộc cải cách ruộng đất này hầu như chỉ đụng tới Giáo hội Công giáo, bởi v́ từ thời thực dân cho tới năm 1954, Giáo hội Công giáo là tổ chức tôn giáo duy nhất có pháp nhân và được quyền sở hữu.

 

Cần ghi nhận rằng Việt Nam là một nước chủ yếu nông nghiệp. Tám mươi phần trăm dân số là nông dân và chỉ sinh sống nhờ thu nhập từ nông nghiệp. Thế nhưng, có tới 61,5% nông dân không hề có được một tấc đất.

 

Nhằm áp dụng chính sách «người cày có ruộng» và nhằm đảm bảo điều kiện sinh nhai tối thiểu cho mỗi người dân, chính phủ Hà Nội đă tiến hành phân bố lại đất đai nhờ việc trưng thu của thực dân, của Giáo hội (đồng thời vẫn để lại cho Giáo hội một phần đất đủ lo việc thờ tự và bảo đảm đời sống cho các giáo sĩ), các địa chủ và phú nông (nhà nước trả cho những người có tinh thần dân chủ, kháng chiến và không phản động những khoản bồi thường dưới dạng công trái, có tiền lời hằng năm là 1,5%).

 

Cuộc cải cách ruộng đất đă được tiến hành một cách máy móc, do những cán bộ thiếu kinh nghiệm, với các ṭa án đặt biệc về cải cách ruộng đất, gây ra nhiều điều sai phạm. Do đó mà nhiều người đă bị oan ức.

 

Chính phủ đă sớm thấy các điều sai sót đó và đă nhận lỗi. Ngày 17-8-1946, cụ Hồ Chí Minh thừa nhận: «Trong việc thực hiện thống nhất lại các vùng nông thôn, đă xảy ra những điều sai sót... Đảng vá Chính phủ đă nghiêm túc sửa chữa những thiếu sót đó và đă vạch ra một chương tŕnh chỉnh đốn lại.

 

«Những người bị qui thành phần địa chủ và phú nông không đúng, phải được phục hồi lại cho đúng qui cách. Các đảng viên, cán bộ và nhân dân đă là đối tượng của việc xét xử sai lầm, phải được phục hồi lại trong các chức vụ và quyền lợi của họ và danh dự của họ phải được công nhận lại... »

 

Nhưng việc đó quá trể, nên không ngăn chặn kịp sự tức giận của dân chúng. Tháng 11 năm 1956, nông dân Nghệ Tĩnh đă nổi loạn. Cụ Hồ Chí Minh đă phải băi bỏ các ṭa án đặc biệt, băi miễn chức vụ của ông Trường Chinh và những người có trách nhiệm về sự thất bại nói trên. Tiếp đó, một «chiến dịch sửa sai» được phát động.

 

Trước Cải cách, đất trồng trọt miền Bắc được phân phối như sau:

 

THÀNH PHẦN

DIỆN TÍCH MẪU

TỈ LỆ % SO VỚI TOÀN DIỆN

Thực dân Pháp

15.952,05

1

Giáo Hội

23.928,07

1,5

Đất công và bần công

398.801,25

25

Địa chủ

390.825,22

24,5

Phú nông

113.259,22

7,1

Trung nông

462.520,50

29

Bần nông

169.520,50

10

Bần cố nông

17.447,25

1,1

Những lao động khác

12.461,64

0,8

 

Theo báo Nhân Dân ngày 13-8-1967, th́ 30% nông dân kết án địa chủ không đúng. Theo G. Chaliand (Nông dân Bắc Việt và chiến tranh) th́ «những sai lầm có thể do hai vi phạm về chính sách:

 

─ Những tiêu chuẩn qui định thành phần đă không được tuân thủ. Cho nên phú nông bị cho là địa chủ, trung nông bị liệt là phú nông và cả người bần nông cũng bị đánh. Có những địa chủ yêu nước đă bị ngược đăi như địa chủ phản quốc.

─ Đă có những vi phạm do tín ngưỡng trong các vùng có đông Công giáo và khẩu lệnh về cải cách ruộng đất đă được áp dụng máy móc tại những vùng dân tộc thiểu số.

 

Trong số những nạn nhân của sai lầm về về cải cách ruộng đất như Bác đă nói rơ, có đảng viên, có người gần gũi với chế độ và khỏi phải nói là có những người Công giáo, các Linh mục và cả Giám mục.

 

Trong vụ nổi loạn của nông dân tại Nghệ An xảy ra ngay sau đợt «sửa sai», giáo dân Quỳnh Lưu, địa phận Vinh, đă đ̣i tự do cho những giáo sĩ đă bị bắt giữ, phục hồi danh dự cho các linh mục và giáo dân đă bị hành hạ phỉ báng trong cải cách, hoàn lại của cải cho địa phận và các xứ đạo đă bị chính phủ tước đoạt hoặc tịch thu. Trước những sự kiện đó, Ủy ban Liên lạc Công giáo đă họp tại Hà Nộ từ 14 đến 16-11-1956 và trong bản tuyên bố bế mạc, đă không ngần ngại phê phán những sai lầm của các cán bộ thực hiện cải cách ruộng đất: «Những sai phạm trong cải cách ruộng đất đă vi phạm chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng Lao Động và của Chính phủ và chà đạp lên các quyền linh thiêng của tín hữu».

 

Phái đoàn của Ủy ban đă được cụ Hồ Chí Minh tiếp và Người đă biểu lộ sự chân thành buồn tiếc về những sai trái xảy ra, và để sửa chửa, Người quyết định cấp cho những khoản tiền quan trọng sửa chửa các nhà thờ và chủng viện lại. Sau khi đă sửa chửa những sai sót rồi, chính phủ không v́ thế mà hủy bỏ nền tảng của chính sách xă hội của ḿnh để hoàn trả lại Giáo hội các đất đai - phương tiện sản xuất - tương đương với 1,5% diện tích trồng trọt của toàn miền Bắc. Làm thế tức là lại tỏ ra bất công đối với đa số dân chúng chưa từng có được tất đất nào.

 

Trong việc áp dụng có sửa đổi cuộc cải cách ruộng đất, theo tinh thần sắc lệnh về tôn giáo (Điều 10) mỗi xứ đạo có linh mục được phân bổ cho trung b́nh một héc-ta, và mỗi xứ không có linh mục được trung b́nh từ 4 đến 5 sào. Cũng nên biết rằng, với tất cả thiện chí trên, chính phủ cũng chỉ có thể cấp cho mỗi đầu người b́nh quân 1 sào đất thôi, bởi vậy dân số miền Bắc là 13 triệu vào năm 1954, và 23 triệu vào năm 1973, c̣n diện tích đất có thể trồng trọt chỉ có 1605,305 héc-ta. (Nhờ nổ lực phục hóa đất bỏ hoang, năm 1973 diện tích đất lên tới 2 triệu héc-ta).

 

Cuộc cải cách ruộng đất, dầu có sửa chửa cho hết các điều sai sót đáng tiếc, th́ cũng không làm vui ḷng Giáo hội được, bởi v́ Giáo hội coi của cải ḿnh là «của thánh, bất khả xâm phạm». Người ta đồn rằng có giám mục đă công khai tuyên bố «giáo dân nào đă canh tác trên đất ruộng trước kia thuộc về Giáo hội, th́ sẽ phải sa hỏa ngục đời đời», có linh mục từ chối không làm các phép «cho những ai ăn cướp trực tiếp hoặc gian tiếp đất đai thuộc về Giáo hội!»

 

Năm 1958, thủ tướng Phạm văn Đồng đă mời các Giám mục họp lại, để thảo luận với ông về vấn đề liên quan giữa Giáo hội và Nhà nước. Đức cha Trịnh như Khuê, giám mục Hà Nội, đă trả lời rằng, không có thể có đối thoại, bao lâu chính phủ chưa hoàn trả cho Giáo hội của cải đă tịch thu.

 

Sau cuộc cải cách, bà con nông dân đă được kêu gọi xây dựng hợp tác xă. Việc hợp tác xă hóa, một cách cần thiết trong một nước, mà năm 1954 đất đai bị chia nhỏ ra tột độ - 14 triệu mảnh ruộng có bờ ngăn - không sao đem cơ giới vào được, th́ đối với lănh đạo Giáo hội lại là một h́nh thức Cộng sản, bị Rôma lên án. «Với các hợp tác xă, của tư hữu sẽ không c̣n, đó là điều ngược với nguyên tắc quyền sở hữu mà thần học vẫn dạy». Thế là không sao tránh khỏi đụng độ giữa Giáo hội và Nhà nước. Có vị giám mục ra vạ tuyệt thông những giáo dân nào tham gia hợp tác xă, hay ít là từ chối không cho họ chịu các phép. Có linh mục dạy cho giáo dân rằng, hợp tác xă là h́nh thức canh tác ngược với luật của Giáo hội. Do vậy, người ta thấy giáo dân tham gia hợp tác xă chậm hơn người bên Lương. Chính quyền địa phương cũng có ở đó một phần trách nhiệm, như Tạp ch́ Học Tập, tạp chí chính thức của Đảng Lao Động, đă đang tải một bài tự phê liên quan đến vấn đề đó.

 

«Tại một số nơi, tư tưởng giai cấp phong kiến, luật lệ khắt khe của một vài tôn giáo, cũng như những việc làm phản động tinh vi của một số kẻ đội lốt thầy tu, đă ngăn cản nhiều việc gây ư thức công và về việc làm chủ tập thể nơi nhiều giáo dân. Đàng khác, chính quyền và cán bộ có trách nhiệm bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, cũng có những sai phạm. Chẳng hạn nhiều đơn vị cơ sở chưa biết quan tâm nâng cao ư thức quyền làm chủ tập thể cho giáo dân, chưa biết giúp đở họ một cách cụ thể trong việc chống lại các lực lượng phản động trong Giáo hội, nhiều cán bộ có thái độ quan liêu hách dịch đối với dân chúng, có những thành kiến hẹp ḥi và tỏ ra phân biệt đối xử những công dân thuôc một tôn giáo nào đó... V́ thế, muốn phát triển mạnh mẽ các quyền dân chủ của tín đồ, cần phải rơ ràng, phần đông dân có đạo đă tham gia các hợp tác xă nông nghiệp và chẳng qua họ là những xă viên hợp tác nông nghiệp có niềm tin tôn giáo. Do đó, ngoài các tự do dân chủ b́nh thường, một đàng phải bảo đảm quyền làm chủ tập thể của họ trong kinh tế, chính trị và xă hội như mọi xă viên nông nghiệp khác, và đàng khác, cần hiểu rơ các đặc tính riêng của những xă viên có đức tin và bảo vệ sự tự do tín ngưỡng của họ.

 

Thoạt nh́n, người ta khó thấy tại sao lại có vấn để xảy ra giữa các hợp tác xă và tự do tín ngưỡng. Và cũng có người lấy làm lạ khi nghe cụ Hồ Chí Minh tuyên bố năm 1962 rằng «các sinh hoạt tôn giáo không được gây hại cho sản xuất». Muốn hiễu điều này, cần phải sống, hoặc quan sát sinh hoạt thường nhật của người Công giáo Việt Nam. Dân chúng Công giáo Việt Nam thiết tưởng là quần chúng mộ đạo nhất thế giới. Hàng ngày họ đi dự kinh lễ sớm chiều rất đông và thích rước kiệu, làm tuần tam nhật và làm nhiều việc đạo đức sùng kính khác, không những vào ngày chủ nhật, mà cả các ngày trong tuần. Tại các họ đạo nông thôn, kinh lễ buổi mai kéo dài hai ba giờ, cuộc rước dài cả buổi, cũng như các tuần Tam Nhật, thường cản trở việc sản xuất của hợp tác xă, vốn theo một lịch tŕnh khoa học hơn. V́ thế, trong các báo chí Hà Nội, những linh mục quản xứ nào mà rút vắn giờ lễ, hoặc đổi giờ làm lễ và chầu Thánh Thể, để giáo dân tiện việc lo sản xuất, th́ bị tiếng là yêu nước và cấp tiến. Có những linh mục bảo thủ c̣n chỉ trích các hợp tác xă vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của xă viên, v́ bắt buộc họ phải đi lao động vào các giờ, lẽ ra họ phải đi lễ hay đi đọc kinh.

 

6 - TÀI SẢN CỦA GIÁO HỘI

 

Trong lănh vực tài sản của Giáo hội, c̣n có một đụng độ khác đào rộng theo cái hố ngăn cách giữa Giáo hội và Nhà nước. Trong cuộc cải cách ruộng đất, chính phủ chỉ trưng thu các tư liệu sản xuất, c̣n các loạt bất động sản và động sản khác, như nhà thờ, chủng viện, ṭa giám mục, nhà xứ, nhà hội, bàn ghế, đồ thờ, áo lễ th́ không bị đụng tới. Nhiều Giám mục và Linh mục căn cứ vào pháp luật bảo vệ các cơ sở tôn giáo, nên ra sức bám giữ các của đó một cách quá sốt sắng. Về vấn đề này, chúng tôi ghi lại đây những ǵ đă biết trong chuyến về thăm miền Bắc Việt Nam:

 

Khi về thăm Nam Định, một thành phố bị tàn phá đến 80% do bom đạn Mỹ, tôi trông thấy hàng ngàn cháu phải học hành trong những mái nhà tranh dược dựng sơ sài, bên cạnh ṭa nhà hay lầu lớn bỏ không. Mấy nhà này là Đại chủng viện Thánh Anbé trước kia, trường Thánh Tôma và nhà xứ Khoái Đồng. Cảnh đối chọi càng nổi rơ hơn, và cả nhà trường bằng tranh kia (mái tranh vách đất) đang bị đe dọa vào mùa mưa, c̣n học sinh th́ phải đi học ba ca v́ thiếu chỗ, ca sớm, ca chiều và ca tối. Tôi hỏi ông chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh tại sao không sử dụng các ṭa nhà lớn bỏ không đó làm trường học. Ông trả lời tôi với cái mỉm cười lịch sự: «Các ṭa nhà đó là của Giáo hội. Chúng tôi không dám đụng tới. Mặc dầu có tôn trọng các cơ sở như thế, mà chúng tôi vẫn bị mang tiếng là phá đạo. Nếu chúng tôi đem các cháu vào học trong đó, th́ sẽ càng bị tố cáo hơn. Rồi ông thêm: «các ngôi nhà đó bắt đấu hư hỏng rồi. Tuy vậy, Giáo hội vẫn từ chối không cho mượn, dầu là làm bệnh xá, chưa nói đến chuyện cho những người không có nhà vào ở».

 

Trong giáo xứ G.L địa phận Bùi Chu, bên cạnh nhà thờ, có một nhà hội lớn xây bằng gạch bỏ không hoài đấy. Năm 1972, Ủy ban xă quyết định mở thêm các lớp trung cấp cho hết hệ 10 và đă đến xin mượn nhà hội đó cho các em học đỡ, đang lúc chờ xây nhà mới. «Nhà hội, nhà xứ chỉ được phép cho sinh hoạt thuần túy tôn giáo thôi». Và điều trớ trêu là 75% các em học sinh là con nhà Công giáo».

 

Về việc sử dụng các cơ sỡ tôn giáo - nhà thờ, nhà nguyện, nhà hội, sân nhà thờ - trong một thư mục vụ đề ngày Lễ Thánh năm 1961, Giám mục Thái B́nh đă ra vạ tuyệt thông tức khắc cho các linh mục, giáo dân nào sử dụng, hoặc cho phép sử dụng, hoặc cho mượn các cơ sở đó và những sinh hoạt không trực tiếp liên hệ tới việc thờ phụng. Giám mục đó đă phạt vạ nhiều người chức việc giáo xứ, v́ đă cho hợp tác xă phơi lúa trên sân nhà thờ. Trong một thư chung ngày 1-1-1973, giám mục ấy c̣n lặp lại lệnh cấm đoán đó và cả vạ tuyệt thông.

 

Trong các vụ ném bom tàn bạo nhất của Mỹ, người ta mong được các giám mục cho nhờ các ṭa Giám mục rộng lớn, các nhà chủng viện, để chứa những nạn nhân bị bom, hoặc những người đă cháy mất nhà cửa hay là bị thương.

 

7 ─ CÁC CỐ THỪA SAI

 

Ngoài việc trưng thu đất ruộng nhà chung, c̣n một số dữ kiện góp phần cho các vị lănh đạo Giáo hội tin rằng chính phủ không chịu tôn trọng tự do tín ngưỡng và thờ cúng, như Sắc lệnh 14-6-1955 đă đảm bảo. Chẳng nói ǵ những sai phạm hồi cải cách ruộng đất, mà nạn nhân không những là các địa chủ, mà cả nhiều cán bộ của Đảng và ủy viên các Ủy ban hành chánh, cần nhắc lại việc từ chối không gia hạn cư trú cho hai Giám mục thừa sai và một tá linh mục thừa sai Pháp và Canada.

 

Chính sách «bài thừa sai» đó xảy ra 30 năm sau mối lo lắng của đức Piô XII, đă tiên đoán rằng có ngày những kẽ bị trị «sẽ trục xuất khỏi nước họ binh lính và thừa sai, để xác lập chủ quyền của họ trên đất nước ḿnh (Rerum Eeclesiae)”. Đàng khác, quá khứ không mấy vinh dự của hoạt động truyền giáo tại Việt Nam, nhưng trong tư tưởng các thừa sai th́ lại nằm trong quĩ đạo của lịch sử.

 

8 ─ SỰ ĐÁP TRẢ CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC BÀN TAY ĐƯA RA

 

Khỏi cần nhắc lại rằng, những người kháng chiến bị hành hạ tại nhiều nơi do người Công Giáo, nhân danh tôn giáo, nhân danh cuộc thánh chiến chống Cộng. Cử chỉ ḥa giải đầu tiên của Cụ Hồ Chí Minh là đă phải khóc khi có dịp dựa vào vai của Giám mục Trịnh Như Khuê. Sau đó, Cụ đă ra lệnh ân xá cho tất cả những người Công giáo đă từng cầm súng đánh Việt Minh. Nhằm tránh các vụ trả thù cá nhân hoặc tập thể những làng lương đối với các làng giáo đă từng được Pháp vũ trang để tiêu diệt Cộng sản, Bác đă phái tới các vùng Phát Diệm, Bùi Chu, Thái B́nh những toán cán bộ chuyên môn, để giải thích cho bà con bên lương chính sách khoan hồng và ḥa giải của Chính Phủ.

 

Tại những làng mà cha xứ quá hung hăng đă hạ tượng Phật xuống và đặt tượng Chúa và Đức Mẹ lên thay thế, cán bộ Việt minh đă thuyết phục được người lương đừng phá các tượng của bên giáo, nhưng kêu giáo dân tới hạ tượng xuống và rước về nhà thờ ḿnh. Các Linh mục, từng là cụ xứ - đại úy, vẫn được đứng đầu giáo xứ và tiếp tục được thi hành chức vụ, chỉ trừ một số ông đă phạm những tội ác quá nặng nề - như chôn sống du kích, bắn giết bừa băi nam nữ và trẻ em - đă bị giam trong trại cải tạo. Nhờ một đường lối hết sức khôn ngoan, nhờ sự áp dụng rộng răi ân xá, khá đông các Linh mục từng thề nguyền không đội trời chung với Công sản đă trở thành những người yêu nước. Việc mục vụ của các Linh mục ấy lại rất cần cho Giáo hội v́ vụ băng hoại di cư 1954-1955. Muốn biết t́nh h́nh Giáo hội miền Bắc, chỉ cần xem bản liệt kê sau đây:

 


ĐỊA PHẬN

TRƯỚC DI CƯ

SAU DI CƯ

GIÁO DÂN

LINH MỤC

GIÁO DÂN

LINH MỤC

Hà Nội

200.000

168

150.000

53

Bắc Ninh

74.000

64

36.000

8

Bùi Chu

330.000

200

165.000

30

Hải Pḥng

120.000

87

59.000

8

Hưng Hóa

78.000

54

71.000

30

Lạng Sơn

5.000

18

2.500

5

Phát Diệm

139.000

168

59.000

25

Thái B́nh

160.000

92

80.000

13

Thanh Hóa

65.000

88

47.000

26

Vinh

219.000

188

177.000

120

TỔNG CỘNG

1.390.000

1.127

846.500

318

 

Bảng thống kê trên đây cho thấy rằng sau di cư, số Linh mục c̣n lại so với giáo dân rất thấp, nhất là tại các địa phận Thái B́nh, Bùi Chu, Bắc Ninh, Phát Diệm, Hải Pḥng. Cần thêm rằng, cuộc di cư đă bứng hầu như hết các nam nữ thanh niên, hầu hết các chủng sinh, chỉ trừ Vinh.

 

Để vá các lỗ trống và tái thiết Giáo hội và đáp trả bàn tay đưa ra của Cụ Hồ Chí Minh, lẽ ra Giáo hội phải có một đường hướng ḥa dịu hơn. Tiếc thay, năm 1955, người ta vẫn sống trong bầu không khí chống Cộng của Piô XII, c̣n được hâm nóng lên bởi cuộc chiến «thế giới tự do» chống lại «thế giới Cộng sản». Theo đề xuất của khâm sứ Đu-lây, Rôma đă thay thế các mục tử bỏ chạy bằng các Giám mục có thể nói là không thân thiện ǵ với chế độ, cũng không cởi mở ǵ trong các vấn đề của Giáo hội sống dưới chế độ xă hội chủ nghĩa: Giám mục Phạm Năng Tĩnh, cựu thư kư và cánh tay phải của Giám mục Phạm Ngọc Chi, lănh tụ của Đạo quân Công giáo Bùi Chu trước kia, hai vị cựu đại úy và hai nhân vật chủ chốt tổ chức di cư hồi 1954.

 

Trong một nước bị chia cắt, mà đế quốc Mỹ chi phối mạnh mẽ cả miền Nam, cử chỉ nói trên của Vatican là vụng về, nếu không muốn nói là thù địch, khiến Hà Nội phải cảnh giác, đối với Hàng Giáo phẩm, nhất là từ 1961. CIA tăng cường các hoạt động bí mật chống phá miền Bắc bằng cách gởi ra Bắc các toán biệt kích, gồm hầu như toàn người Công giáo gốc miền Bắc di cư vào Nam. Kế hoạch thả truyền đơn nhằm tuyên truyền chống Cộng, thả dù những toán phá hoại và ḍ thám, đă được Ken-nơ-di (Kennedy) phê chuẩn ngày 23-4-1961, như tài liệu mật Lầu năm góc đă tiết lộ. Tài liệu này c̣n tŕnh bày chi tiết hơn các «hoạt động dưới nước, các hoạt động tâm lư chiến và các hoạt động thả dù» thực hiện năm 1964, sử dụng ưu tiên người Công giáo, các cựu chủng sinh, để dể tiếp xúc được với các cha xứ và giáo dân miền Bắc. Theo nguồn tin Bắc Việt, các hoạt động đă bị thất bại, v́ người dân Công giáo ở miền Bắc đă ư thức hơn và không để mắc bẫy đế quốc như hồi 1940 nữa. Phần lớn các toán biệt kích nhảy dù hoặc đổ bộ đă bị bắt, chính bà con Công giáo đă giao nộp lại cho công an. Tuy nhiên, thái độ của hàng Giáo phẩm và một phần giáo sĩ vẫn không được rơ ràng.

 

Bài báo Học Tập được nhắc tới trên kia ghi nhận lại t́nh h́nh như sau:

 

«Nói chung, các Giáo hội Phật giáo, Cao đài và Tin lành đều thống nhất về quan điểm chính trị với đa số tín đồ của họ, phát triển ngày càng tốt ḷng yêu nước và ủng hộ chủ nghĩa xă hội. Tại nhiều tỉnh, huyện hoặc giáo xứ, bà con Công giáo cùng với những người phụ trách và các linh mục yêu nước đă xây dựng giáo hội địa phương của họ phù hợp với luật pháp Nhà nước» và đă có những sinh hoạt yêu nước. Nhưng, tại một vài nơi, Giáo hội Công giáo chưa cùng đứng về một phía với giáo dân trong con đường cách mạng, một số phần tử xấu trong Giáo hội vẫn c̣n lợi dụng cách sinh hoạt tôn giáo, để ngăn cản giáo dân tham gia các phong trào và tổ chức cách mạng».

 

Từ 20 năm nay, Giáo hội miền Bắc giống như một tấm vải, trên đó sợi ngang th́ mới mà sợi dọc th́ cũ. Nhiều vị lănh đạo Giáo hội đă thưởng thức quá lâu thứ rượu cũ dành riêng cho giai cấp ưu đăi, nên khó mà vui ḷng với thứ rượu mới chung với toàn dân. Các vị lănh đạo Nhà nước, tại nhiều cấp, là những người đă từng chịu cơ cực qua nhiều trong quá khứ, đă từng nếm mùi cay đắng ghê gớm của chủ nghĩa chống cộng, nên khó mà quên nhanh được. Hơn nữa, nguy cơ của thực dân, không phải là chuyện quá khứ có thể bỏ qua luôn, nhưng nó c̣n là chuyên trước mắt, chính phủ nào cũng lo ngăn ngừa. Việc từ chối gia hạn cư trú cho thừa sai nước ngoài - tuy có thể bàn căi về cách xử sự riêng với ca này ca nọ - việc giới hạn tự do đi lại của các Giám mục và một số Linh mục, đều là hậu quả của một bối cảnh lịch sử.

 

Một nhân chứng từng trải các vấn đề miền Bắc nói với tôi: «Việc thành lập tại miền Nam các toán biệt kích Công giáo theo hướng «Bắc tiến», những cuộc viếng thăm qua lại của Hồng y Xpenman, việc Vatican công nhận Ngô đ́nh Diệm, tất cả những điều đó lộ ra một thái độ hàm hồ dị nghĩa, hay đúng hơn, thiên vị của Giáo hội. Tại miền Bắc, hồi c̣n khâm sứ Dulây và sau đó, hàng Giáo phẩm vẫn tiếp tục áp dụng nghiêm nhặt thư chung 1951, tuyệt thông với Cộng sản, từ chối bí tích cho người kháng chiến chống Pháp và những người Công giáo tham gia hợp tác xă, hoặc hợp tác với chế độ. Tệ hơn nữa, tại một số địa phận, các Giám mục c̣n từ chối không làm các phép cho cha mẹ nào gửi con đi học trường công».

 

Từ lúc Mỹ bắt đầu các cuộc ném bom ào ạt năm 1965 cho tới khi chấm dứt và cuối tháng chạp 1972, Giáo hội chính thức đă giữ im lặng một cách kỳ lạ, mặc dầu nhiều thành phố làng mạc bị tận diệt, mặc dầu nhiều nhà thờ, chùa chiền, nhà thương, bệnh viện bị tàn phá, hàng ngàn người vô tội bị giết. Một số Giám mục c̣n nói rằng nếu Mỹ có ném nom nhà thờ (575 nhà thờ bị phá hủy hoặc hư hại) th́ đó là do chiến thuật của Cộng sản dùng bom Mỹ để phá tôn giáo (1). Phải chăng họ hy vọng rằng, những «toán Công giáo Mỹ» đến dùng vũ lực để giải thoát họ khỏi ách Cộng sản như Giám mục Puginê và Pelơranh thế kỷ 19? Phải chăng họ đă quá tin vào các buổi phát thanh của các đài «Tiếng nói tự do» và nhiều đài «đen» khác do CIA thiết lập để loan báo mỗi ngày cho họ rằng giờ giải thoát đă gần? Chẳng biết nói rằng đúng hay nói rằng không?

 

9 ─ NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN THỨ HAI

 

Điều chắc chắn là từ sự cố Vịnh Bắc Việt năm 1964 và những trận ném bom trả đủa đầu tiên của Mỹ, toàn miền Bắc được đặt trong t́nh trạng báo động. Cuộc tấn công xâm lược của Mỹ, trái với sự tính toán của mật vụ Mỹ, đă đẩy thành phần Công giáo ḥa nhập với cả nước v́ sự sống c̣n của Tổ quốc, như Davit Sơnbrăn (Sonrun), Đanien Berigan (Berrigan) và các nhà quan sát nước ngoài đến thăm Hà Nội trong thời gian Giônxơn (Johnson) cho ném bom, đă ghi lại, và như các tờ báo miền Bắc kể cả tờ Chính Nghĩa của Ủy ban Liên lạc Công giáo cho thấy.

 

Một số giáo xứ đă lập tức hưởng ứng lời kêu gọi của Cụ Hồ Chí Minh. Những người khác sau này cũng đă thức tỉnh, khi thấy máy bay Mỹ ném bom bừa băi, bất kể chùa chiền nhà thờ, bệnh viện và toà Giám mục. Linh mục Trịnh minh Giá, cụ già thất tuần của Phát Diệm đă nói: Qua những cơn thử thách gian truân, chúng tôi nhận thấy hàng Giáo sĩ nói chung là đi sau quần chúng giáo dân và các Giám mục th́ đi sau Linh mục. Đó chẳng phải là bước đầu của một biện chứng trong khái niệm chân thực về Giáo hội, nghĩa là sự thức tỉnh của Giáo hội từ cơ sở đi lên? (Chính Nghĩa 18.10.1973).

 

Đúng thế, thời gian 8 năm trời, người Công giáo đă xả thân đi vào kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng hăng say như mọi thành phần khác. Chứng cớ là người Công giáo đă được biểu dương và tặng nhiều huân chương trong lănh vực này. Chẳng hạn, trong địa phận Phát Diệm, 6.000 gia đ́nh Công giáo đă được công nhận là gia đ́nh gương mẫu, 3 xứ đạo và 14 công đoàn tín hữu không có Linh mục đă được biểu dương là tiên tiến. Muốn làm một gia đ́nh gương mẫu, tất cả mọi người trong gia đ́nh phải thật xuất sắc trong kháng chiến, trong sản xuất và trong tác phong đời sống. Muốn cho mội Giáo xứ được kể là tiên tiến phải có 60% gia đ́nh xứ đạo đó hay của họ đạo là gương mẫu. Trong vùng Hà Nội, người ta t́m đếm được 1.463 gia đ́nh gương mẫu và 25 giáo xứ tiên tiến. Trong bà con Công giáo, cũng có những anh hùng nhân dân, một danh hiệu rất cao quí, cả nước chỉ có mấy chục người được tặng danh hiệu đó.

 

Xứ đạo được nhiều bằng khen nhất là Kẻ Sặt, địa phận Hải Pḥng, với ba huân chương về sản xuất và chiến đấu, một huân chương về ủng hộ Mặt trận Giải phóng, hai huân chương chiến đấu do chính Cụ Hồ Chí Minh đề bạt cho hai thiếu nữ đă bắn rới máy bay Mỹ. Nhiều Linh mục đă được gắn huy chương Kháng chiến chẳng phải v́ họ đă cầm súng tham gia trực tiếp chiến đấu, nhưng v́ đă nâng đỡ tinh thần giáo dân để họ kiên tŕ kháng chiến. Quả vậy, trong chiến tranh nhân dân, không có sự khác biệt giữa người chiến sĩ ngoài mặt trận và những người đứng ở phía sau.

 

Trong cuộc chiến mà lực lượng không cân đối giữa Mỹ và Việt Nam, các Giáo hội Phật Giáo, Tin Lành và Cao đài có nhiều tín đồ dũng cảm tham gia kháng chiến. Chỉ có Giáo hội Công giáo, đă im lặng. Hàng giáo phẩm phải chăng quan niệm sự sống c̣n của đất nước là một vấn đề không liên can ǵ tới đời sống Kitô giáo? Hay là Giáo hội cơ cấu lo sợ phải hợp tác với Cộng sản, sự hợp tác bị Vatican cấm đoán theo Sắc lệnh ngày 1.7.1949 và bị lên án bởi Thư chung các Giám mục năm 1951?

 

Nếu chính phủ miền Bắc buồn phiền v́ sự im lặng đó, nhưng vẫn tôn trọng sự tự do thờ tự và vẫn cấp ngân khoản cho Giáo dân xây dựng lại, hoặc gây hư hại. Tháng 3-1971, tại Hà Nội có lễ phong chức cho Linh mục Nguyễn Năng làm Giám mục địa phận Vinh, có hàng chục ngàn giáo dân và đông đảo Linh mục tới tham dự. Nhà thờ Chánh ṭa Hà Nội lại có những cuộc lễ long trọng như những năm trước chiến tranh. Sau lễ truyền chức, Giám mục mới đă được thủ tướng và một phái đoàn đại biểu Quốc hội chính thức tiếp đóm. Cử chỉ đó cho thấy Chính phủ vẫn đặt nặng việc làm cho người Công giáo tham gia cộng tác vào chuyện chung, nhất là địa phận Vinh, nằm trên vĩ tuyến 17, là địa phận đă bị bom đạn tàn phá nặng nề nhất nhà thờ chánh ṭa, ṭa giám mục, chủng viện đă bị phá sập tan tành.

 

10 ─ THÁNH LỄ VÀ RƯỚC KIỆU

 

Tại miền Bắc Việt Nam, việc giữ đạo vượt xa các cộng đoàn tín hữu lâu đời của châu Âu. Việc giữ đạo này gồm chủ yếu việc đi lễ đông đảo, đọc kinh chung cả sớm và tối, rước kiệu, các tuần Tam Nhật và các việc đạo khác có nguồn gốc từ truyền thống trung cổ của Tây Ban Nha. Đức tin trung cổ, đúng là tiếng phải dùng để nói và kiểu giữ đạo ở đây, nhung một nhà báo của tờ LaCroix đă nói năm 1955, khi t́m ra một tiếng phù hợp với thực tế: cả một loạt những nhà thờ khổng lồ mọc lên ở giữa một rừng nhà tranh rách nát tồi tàn. Ông đă kết luận: «Đạo Công giáo Việt Nam có nhiều phương tiện thật giống như Giáo hội phương Tây thời Trung cổ. Hay nói đúng hơn, nó giống như một cơ cấu truyền thống của xă hội ở đây, nơi nó được trồng cấy vào. Chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam hoàn toàn không phải chỉ là một mớ lư thuyết Trung cổ lỗi thời. Có lẽ phải nh́n ra chỗ yếu thật sự của Giáo hội Công giáo Việt Nam là sự co cụm và thiếu cởi mở». Nếu nhà báo đă thăm Bắc Việt 28 năm sau, và nếu ông lại đi dự thánh lễ, rước kiệu, ông sẽ kinh ngạc nhận thấy rằng, mặc dầu đă có đảo lộn xă hội do cách mạng xă hội chủ nghĩa tạo ra, đạo Công giáo Việt nam đă chẳng thay đổi mấy về lănh vực này.

 

Trong thời gian có ném bom, thường thánh lễ được cử hành ban đêm, đôi khi phải làm trong hang động, trong hầm núp được biến thành nhà thờ và những nhà này bao giờ cũng chật người. Khi đă dứt các cuộc ném bom, đời sống trở lại b́nh thường, sau đó các nhà thờ lại đầy cứng người đi lễ. Nếu anh về thăm Thái B́nh, Bùi Chu, Phát Diệm cả sớm lẫn chiều, anh sẽ được nghe chuông đối đáp nhau vang khắp cả vùng như dội lại tiếng kinh chung tại các nhà thờ. Đọc kinh dài, đó là một chuyện thành như thần thoại cổ truyền. Ngày thường, nó dài chỉ ít cũng hai giờ, ngày chủ nhật và ngày lễ ít ra cũng ba giờ mới xong.

 

Trong chiến tranh, chính quyền đă yêu cầu Công giáo ngưng việc rước kiệu. Sau hiệp định Pari, các cuộc rước kiệu lại tái phát cách long trọng như thường, nhưng giới hạn tự do rước kiệu này mà một số Giám mục và linh mục nghĩ rằng Nhà nước cấm đoán tự do thờ tự.

 

Việc rước kiệu đă được qui định bởi các sắc lệnh ngày 10.5.1957 và 14.6.1957, theo đó, các cuộc biễu thị tín ngưỡng được tự do tổ chức trong các nơi thờ tự, c̣n ra ngoài th́ phải xin phép, ít ra phải được sự đồng t́nh của chính quyền địa phương. Một số lănh đạo Giáo hội coi những giới hạn đó là vi phạm tự do biểu thị ḷng tin? Một ít người vẫn nuối tiếc thới xa xưa, khi các cuộc rước linh đ́nh được tổ chức trên các đường phố, đường làng tùy thích của người Công giáo. Vài người thèm thuồng nh́n vào miền Nam, v́ ở đấy có những cuộc rước khổng lồ được tổ chức với sự giúp đỡ của nhà nước hay quân đội, thướng có cả trung tá tỉnh trưởng hoặc quận trưởng dẫn đầu Giáo sĩ đi cuối, chiếm lĩnh đường phố hàng giờ. Đối với đạo Công giáo Việt Nam bảo cổ, h́nh như vẫn có sự đụng chạm nổi ra giữa Nhà nước và Nhà thờ chung quanh một vấn đề mà bên phương Tây không c̣n nữa. Đọc một bức thư chung mới đây thôi - 1.5.1987 - chúng ta có thể hiểu được cái giá của tự do thờ tự tại Bắc Việt: Theo t́nh h́nh hiện nay, khiến anh em không nên tổ chức rước kiệu ra bên ngoài các lối đi xung quanh nhà thờ hoặc sân nhà thờ. Tổ chức ra ngoài ranh giới đó, tức đă ra khỏi nơi thờ tự điều mà luật pháp Nhà nước cấm. Anh em sẽ gặp khó khăn nếu không xin phép chính quyền. Hơn nữa, xin phép hoặc thông báo như thế th́ không xứng đáng với Thượng đế vốn thực chẳng cần ǵ các cuộc rước đó.

 

«Tốt hơn là hăy tuân thủ luật pháp và chỉ đi kiệu trong nơi thờ phượng. Mà luật pháp th́ nói: «Trong các ngày lễ thông thường và trong nơi thờ tự». Trước hết là nơi thờ tự chứ không phải «nhà thờ». Tiếp đến, đây nói về các lễ thông thường và tất cả những ǵ không bị cấm trong các cuộc lễ thông thường đó th́ kể như được phép, như hội kèn đồng, âm nhạc, trống chiêng, múa v.v... Nếu chúng ta sử dụng các thứ đó, th́ không ai có thể tố cáo là «qua mặt chính quyền» bởi v́ mọi sự đă được pháp luật cho phép làm. Tuy nhiên cần phải theo lời dạy của Chúa Kitô, rằng chúng ta phải «đơn sơ mà khôn ngoan». V́ thế, ở đâu có khó khăn hoặc nguy hiểm th́ hay hơn là đừng sử dụng các khí cụ nói trên, thay v́ đi xin phép hoặc thông báo. Lư do như đă nói trên kia.

 

«Anh em thân mến, chúng ta là Công giáo, nhưng chúng ta cũng là công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Chúng ra phải giữ luật kể trên, bởi v́ luật đảm bảo «tự do tín ngưỡng». Tự do tín ngưỡng có nghĩa là tự do biểu lộ ra ngoài tôn giáo của chúng ta, nếu không th́ luật kể trên vô ích».

 

Qua nội dung và từ ngữ của Thư chung đó, chúng ta hiểu được sự căng thẳng chưa được ḥa dịu liên quan đến rước kiệu.

Đối với việc đọc kinh chung cũng thế. Nhằm cổ vũ việc ḥa hợp giữa những người dân khác nhau về tôn giáo, chính quyền đă cho giáo quyền biết nên bỏ đi một đoạn kinh vốn làm cho người ngoài Công giáo khó chịu, chẳng hạn đoạn sau đây «Ai là người tốt, ai là kẻ xấu? - Tốt là người Công giáo có đức tin, có hành đạo, xấu là những người ngoài Công giáo và những người Công giáo mà không giữ đạo» (và kẻ xấu bị án phạt lửa hỏa ngục đời đời) hoặc kinh «Cầu cho dân ngoại trở lại», trong đó gọi người ngoại giáo kia là «những kẻ thờ ma quỉ và thần dữ» hay là các kinh Đức Mẹ Fatima, «cho Trái Tim Mẹ chiến thắng Cộng sản». v.v...

 

Thư trả lời của giáo quyền nói: «Không nên bỏ các kinh của Giáo hội». Giám mục Thái B́nh c̣n đi xa hơn nữa, trong thư chung ngày 07.12.1971, «Kẻ nào cấm đọc những kinh đó không được chịu các phép, trừ phi kẻ ấy đền tội xứng đáng và phải xưng tội công khai để xóa gương mù».

 

Các kiểu tranh luận như thế chẳng giải quyết được vấn đề quan hệ giữa Giáo hội với Nhà nước. Giáo hội c̣n trách Nhà nước đă vi phạm tự do đào tạo Linh mục. Như chúng tôi đă ghi rơ trên kia, năm 1955, tất cà các chủng viện, trừ của địa phận Vinh, đều đă di cư vào Nam. Giáo hội miền Bắc phải bắt đấu lại từ số không, nhất là khi số giáo sĩ đă giảm đi nghiêm trọng, xuống c̣n 28% so với ngày trước di cư, không c̣n đủ sức đào tạo hữu hiệu các chủng sinh trẻ về văn hóa cũng như về tinh thần. Tuy vậy, số chủng sinh năm 1960 cũng lên tới 600. Dĩ nhiên đây là học sinh chủ yếu của các tiểu chủng viện, theo mẫu mực Công đông Tridentinô, trong đó chỉ lo học xong trung cấp và tiếng la tinh thôi. Cuộc tranh chấp nổ ra giữa các Giám mục khước từ chương tŕnh của Nhà nước và Chính quyền dân sự tố cáo Giám mục dùng chủng viện để đào tạo những tên phản động. Cuối cùng, chỉ trừ địa phận Vinh, các giám mục đă ra lệnh đóng cửa lần lượt các chủng viện. Cuộc tranh chấp kéo dài cho tới 1973, khi một số chủng viện mở cửa lại, với một h́nh thức kiểm soát nào đó của Nhà nước. Muốn đi tới gốc của vấn đề, cần nhất trí rằng tất cả những chuyện đó chứa đựng t́ềm tàng một vấn đề có tính chất chính trị hơn là tôn giáo. Quả thật cả hai phía đều muốn có những phần tử chắc và được đào tạo. Đối với Giáo hội, những «phần tử chắc» là những người «không bị tiêm nhiễm bởi Cộng sản dưới bất kỳ dạng nào, về giáo dục hoặc về tinh thần yêu nước», khiến cho những phần tử bị Nhà nước đánh giá là «phản động» th́ được Giáo hội coi là tốt nhất, và ngược lại. «Đào tạo cho chắc chắn» nghĩa là một cuộc đào tạo 100% giống như dưới thời thực dân, cuộc đào tạo có nhiều mặt đáng phê phán trong một đất nước đang làm cách mạng.

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend