NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

PETRUS KEY hay PETRUS KƯ?


  Được đăng ảnh  

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CACờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris: Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

 

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

*************

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Tony Blair picture 1811810

Lê Hồng Phong

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu  

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

 Giuse Phạm Hữu Tạo  

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

* "BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa..... (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) - (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 – tr 7 Liên Thành Biến Động Miền Trung)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ? Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?

5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

 

 

PETRUS KEY hay PETRUS KƯ?

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu

 

          Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Kư, P.J.B. Trương Vĩnh Kư, Sĩ Tải Trương Vĩnh Kư, hay Petrus Kư, thường được coi như một đại văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” (Xem, chẳng hạn, Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Kư [Con người và sự thật], Sài G̣n: 1993, tr. 7) Dưới thời Pháp thuộc, rồi Cộng Ḥa Nam Kỳ, Quốc Gia Việt Nam, và Việt Nam Cộng Ḥa, người ta lấy tên Petrus Key (Kư) đặt cho trường trung học công lập lớn nhất ở Sài G̣n, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương tŕnh giáo dục nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân), được đặt tên cho trường học lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; v́ nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.

Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đ́nh,  thân thế và hoạt động chính trị của Petrus Key đều chịu ảnh hưởng chung của hai trào lưu trong nước: Đó là “cung văn” và “đào mộ.” Tuy nhiên, đă hơn 100 năm qua sau ngày Petrus Key nằm xuống, xúc động về lập trường chính trị hợp tác-kháng chiến, đạo-ngoại đạo, hay yêu-ghét đă lắng dịu, đủ để các nhà nghiên cứu tái dựng lại vai tṛ Petrus Key trong lịch sử.

 

Petrus Key hay Petrus Kư?

 

          Trước hết, cần minh định tại sao tôi dùng tên “Petrus Key” mà không “Petrus Kư” trong bài viết này.

 

Như chúng ta đă biết, các tài liệu viết về Trương Vĩnh Kư thường đặt trước tên ông một bí danh Latin khác là Petrus, Pétrus, hoặc kèm cả tên thánh “J.B.” tức Jean-Baptiste. Người Pháp, khi viết về Petrus Key, thường ghi Pétrus Kư hay Petrus Kư. Đây có thể do cách gọi đặt   tên trước họ theo kiểu Âu Mỹ, nhưng lược bỏ những chữ “J.B. Trương Vĩnh.” Cách gọi tên này c̣n hàm ư ông theo đạo Ki-tô. Petrus Kư cũng có thể tiêu biểu thói quen gọi tên kép quen thuộc tại miền Nam, như “Paulus Sang,” “Simon Của,” “André Đôn,” “Raymond Khánh,” v.. v.... Nhưng tài liệu do tôi phát hiện năm 1996 cho thấy năm 1859, người mà chúng ta sau này biết là Trương Vĩnh Kư tự xưng, được đặt hay tự đặt cho ḿnh tên “Petrus Key,” không có ba chữ Trương Vĩnh Kư kèm theo tên Petrus Key.(Xem Phụ bản) Cho tới năm 1863, tài liệu Soái phủ Pháp vẫn ghi “Petrus Key,” trong khi phần Hán tự ghi thêm là Trương Vĩnh Kư. (Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I: 1892-1924, tr. 68; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 297)

Sử dụng tên Petrus Key, như thế, trước hết không những chính xác hơn tên Petrus Kư hoặc Pétrus Kư, mà c̣n tôn trọng ư nguyện của ông. Thứ nữa, dùng tên Petrus Key c̣n có hàm ư kêu gọi những nỗ lực nghiên cứu thêm về gia thế ông. Các nhà “Petrus Key học” tương lai nên t́m hiểu, một cách rơ ràng chính xác mà đừng suy đoán vu vơ, là tại sao Petrus Key sau này đặt tự khai (hoặc lấy lại) tên Trương Vĩnh Kư? Phải chăng “Trương Vĩnh Kư” chỉ là tên Việt hóa của Petrus Key, cho những mục tiêu nào đó (như bỏ tu, lấy vợ, trở lại xă hội)? Hay, Petrus Key đơn giản chỉ là bí danh đầu tiên của Trương Vĩnh Kư, như chúng ta thường hiểu?

 

          Khi đă lớn tuổi, Petrus Key c̣n dùng tên hiệu “Sĩ Tải” Trương Vĩnh Kư. (Xem h́nh ở đầu bài; Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Kư Nhà văn hóa [Hà Nội: 1993], b́a sau). Tuy nhiên, hầu hết các sách của Petrus Key vẫn đề “P.J.B. Truong Vinh Ky.”

 

[Xem, chẳng hạn, Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse Cochinchine, par P.J.B. Truong Vinh Ky, 1ère édition, Saigon, Impr. du Gouvernement, 1875-1877; hiện tàng trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp, Paris, với danh số [cote] LK10-102 (1); nhưng tập II đóng lên trước tập I. Ngoài ra, c̣n có 27 cuốn khác; kể cả 2 bản Abrégé de grammaire annamite (1867, 1924), 1 bản Grammaire de la langue annamite (1883), 1 bản Cours pratique de langue annamite (1868), 2 bản Mẹo luật dạy học tiếng Pha-lang-sa: tóm lại văn vắn để dạy học tṛ mới nhập trường (1867, 1872), 1 bản Dictionnaire francais-annamite (1878), 2 bản Petit dictionnaire francáis-annamite (1884, 1920), 2 bản Poème Kim Vân Kiều truyện (1875, 1889), 1 bản Lục vân tiên truyện (1897), 1 bản Lục súc tranh công (1887), 1 bản Poèmes populaires annamites (1889), 1 bản Huấn mông khúc ca: sách dạy trẻ nhỏ học chữ nhu (1884), 1 bản Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca (1884), 1 bản Voyage au Tonking en 1876 (1881). Tác giả cảm tạ Luật sư Trần Thanh Hiệp đă cung cấp bản danh sách trên, cũng như đă ưu ái giúp kiểm lại những chi tiết cần tra cứu khi sách được hiệu đính lần chót vào tháng 12/2001. Gia đ́nh của tác giả, vào tháng 1/2002, cũng t́m được một bản phóng ảnh tập II cuốn Cours d’histoire annamite.]

 

          V́ Petrus Key là người của hai nền văn hóa—đúng hơn, hai nền văn hóa rưỡi, tức văn hóa thuộc địa/bảo hộ  Pháp, thần quyền Ki-tô Vatican, và văn hóa Trung cổ Việt đang suy thoái—gọi Petrus Key bằng bất cứ tên nào đều có thể chấp nhận được. Nhưng để tôn trọng tâm nguyện của Petrus Key Trương Vĩnh Kư, xuyên suốt bài viết này tôi sẽ dùng tên Petrus Key hay Trương Vĩnh Kư, hoặc “P.J.B. Truong Vinh Ky” mà không ghi “Petrus Kư” hoặc “Pétrus Kư”. Với ai đó, cái tên “Petrus Key” có thể hơi “lạ,” nhưng cách ghi này chỉ là nguyên tắc thông thường thôi. Nên trả lại cho Cesar những ǵ của Cesar, vật hoàn cố chủ, theo đúng nghĩa đen của chữ.

 

Sơ lược về những tài liệu giúp nghiên cứu Petrus Key:

 

          Cho tới hiện nay, quan điểm và mục tiêu chính trị giai đoạn vẫn ảnh hưởng mạnh trên hầu hết các tác phẩm viết về Petrus Key.

 

Khối văn chương “cung văn” [hagiographies] có bốn nguồn chính: tài liệu truyền giáo, các tác giả Pháp, cựu học sinh hay giáo chức trường Petrus Kư, và những người muốn mượn tên tuổi Petrus Key làm hậu thuẫn chính trị.

 

Về tài liệu truyền giáo, tiêu biểu có Pierre Khorat với bài “Les personalités annamites catholiques [Những nhân vật An-nam-mít có đạo Ki-tô]” trong cuốn Annales de la Société des Missions Etrangères [Niên giám Hội truyền giáo hải ngoại] năm 1913 (tr. 243-9). Trong bài này, Khorat ca ngợi Petrus Key như một trong bốn giáo dân Ki-tô góp công lớn trong việc thiết lập nền bảo hộ Pháp, bên cạnh Linh mục Trần Lục (Père Six, cánh tay bản xứ của Giám mục Paul Puginier, người tự nhận là cầm đầu hệ thống t́nh báo dân gian), Huyện Sỹ Lê Phát Đạt (ông ngoại cựu Hoàng hậu Nam Phương), và Tổng đốc Trần Bá Lộc (cấp chỉ huy quân sự bản xứ lừng danh từ Nam Kỳ ra tới B́nh Thuận trong các chiến dịch b́nh định của quân viễn chinh Pháp).

 

Vài tác giả Pháp cũng viết về Petrus Key như Henri Cordier (“Pétrus Truong Vinh Ky;” T’oung Pao, Séries II, 1 (1900), tr. 261-8) để tưởng nhớ ông, và đặc biệt là Jean Bouchot, một viên chức quản thủ văn khố [archivist]. Bouchot bỏ ra một thời gian dài thu thập tư liệu của gia đ́nh Petrus Key hầu viết tiểu sử ông (Petrus J. B. Truong Vinh Ky, 1837-1898, Saigon, Paulus Cua, 1927), v.. v... Đây quả là vinh dự cá nhân cho Petrus Key. Nhưng, đồng thời, những tư liệu trên cũng hùng hồn chứng minh vai tṛ trung gian bản xứ ngoại hạng mà Petrus Key thủ diễn trong cuộc xâm lăng và b́nh định xứ Nam Kỳ của Pháp, cũng như mở rộng cuộc xâm lăng ra Bắc và Trung Kỳ (1859-1886), hay sát nhập nước Ai Lao vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (1893).

 

Cựu học sinh và giáo chức trường Petrus Kư lên tới hàng chục ngàn người, gồm nhiều khoa bảng và viên chức cao cấp từ thời Pháp thuộc tới Việt Nam Cộng Ḥa, và rồi chủ nghĩa xă hội hiện nay. Một số người này không thể không viết tốt về nhân vật đă được đặt tên cho ngôi trường thuở ấu thời và thanh thiếu niên của họ. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,” như một nhà thơ từng viết.(Xem, chẳng hạn, Nguyễn Thanh Liêm, Trường trung học Pétrus Kư và nền giáo dục phổ thông Việt Nam [n.d.]) Một số tác giả miền Nam c̣n mang tâm trạng “tôn sùng vĩ nhân” bản xứ. Trường hợp tiêu biểu nhất là hai tác giả Viên Đài & Nguyễn Đồng, qua bài “Nhân ngày giỗ thứ 60 P.J.B. Trương Vĩnh Kư: Người đă mở đầu một kỷ nguyên văn học Việt Nam mới” (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43-57). Rất tiếc chẳng những không giúp được ǵ cho sự hiểu biết thêm về cá nhân Petrus Key hay sự triển biến tư tưởng ông ta, hai tác giả trên chỉ đóng góp được một phụ bản chữ kư của “P. Trương Vĩnh Kư” vào ngày 23/7/1872, và bản danh sách 127 [trong số “143”?] tác phẩm mà hai tác giả đoán rằng Petrus Key đă biên soạn. (Ibid., 40:54) C̣n lại, thuần những dữ kiện mờ tối, cần kiểm chứng và truy cứu thêm mà Bouchot và các tác giả khác đă ghi từ năm 1927. (Xem phần dưới)

 

          Đáng quan tâm hơn nữa là đôi ba người không những chỉ coi như “chân lư” các dữ kiện “cung văn” kiểu Petrus Key thông hiểu “26 thứ tiếng,” Petrus Key là nhà “đại ái quốc,” (Pierre Vieillard, “Un grand patriote  Pétrus Kư;” France-Asie, ngày 15/2 & 15/3/1947), Petrus Key tượng trưng cho t́nh thần bất khuất, nh́n xa thấy rộng, “muốn tự trị” của xứ Nam Kỳ lục tỉnh, v.. v..., mà c̣n ra công bảo vệ thứ “chân lư giả ngụy” này bằng mọi giá. (Nguyễn Văn Trấn, 1993)

 

[Một tác giả trong nước, mới đây c̣n tiểu thuyết hóa cuộc đời Petrus Key, hết lời cung văn cho việc hợp tác với quân viễn chinh Pháp, coi đó là một hành động yêu nước. Theo đúng thủ thuật cung văn quen thuộc của các chế độ chuyên chính, và được sự cổ vơ của vài ba nhân vật quyền thế như Sáu Dân Vơ Văn Kiệt, tác giả này cho Petrus Key từ thuở lên bốn, lên năm đă đọc tứ thư, ngũ kinh (chỉ dành cho những khóa sinh chuẩn bị thi Hương hay thi Hội); đọc Thánh kinh (Bible) viết bằng tiếng Latin từ lúc chưa đầy tám, chín tuổi, dù ngay đến các giáo sĩ Pháp cũng rất ít khi, nếu chẳng phải chẳng bao giờ được quyền mang theo Thánh kinh đi giảng đạo (họ chỉ mang theo sách giảng tám ngày, sách lễ và đại loại); tảng lờ hoặc không biết đến những báo cáo do đích tay Petrus Key viết tŕnh lên thượng cấp người Pháp; bịa đặt ra những cảnh giáo dân Ki-tô bị quan quân đập chết bằng vồ, con nít bị xé xác làm nhiều mảnh trong các chiến dịch bài đạo của vua Minh Mạng, v.. v... (dưới dạng ngủ mơ); có lẽ với mục đích bảo vệ quyết định của Sáu Dân thay tên đường Thái Văn Lung bằng Alexandre de Rhodes, rồi cho lập trường trung học tư (dân lập) Petrus Kư. Loại phóng bút hoang tưởng này bất chấp những sự thực lịch sử như Việt Nam, đặc biệt là đất Đàẵng/Hội An, đă dung chứa hàng trăm giáo sĩ và giáo dân Nhật trốn chạy cuộc thảm sát Ki-tô ở Nhật trong giai đoạn 1597-1624; mở rộng ṿng tay đón nhận những giáo sĩ Ki-tô “Ḥa Lan” đầu tiên như Francesco Buzomi (Italia), Diego Carvalho (người Portugal), Antonio Diaz (người Espania), cùng hai người Nhật Joseph và Paul từ ngày 18/1/1615; rồi đến các giáo sĩ Andrea Fernandez (Portugal, 1615), Francisco Mareto (Portugal), Francesco di Pina (Italia, 1617), Christoforo Borri (Italia, 1618); và cho phép họ mang thông ngôn đi hỏi người Việt, “Con Gnoo muon bau lom laom Hoa laom chỉa?” (Con nhỏ muốn vào trong ḷng Ḥa Lan chưa?) (Hồng Lam & Léopold Cadière, Lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam [Huế: Đại Việt, 1944], tr. 169-75 [Việt ngữ]). Tại Đàng Ngoài, chúa Trịnh cũng vậy. Trên thực tế, vua chúa Việt không hề tắm máu giáo dân Ki-tô như vua chúa Nhật, mà thường chỉ trừng trị hàng giáo sĩ hay giáo mục bản xứ. Cổ nhân thường dạy “Dặm đổ, b́m leo,” là vậy!]

 

          Trong số người muốn dùng Petrus Key để bày tỏ quan điểm chính trị của ḿnh có các ông Hồ Hữu Tường và Nguyễn Văn “Bảy” Trấn, cựu đao thủ phủ đất Chợ Đệm trong hai năm 1945-1946.

 

Qua bài “Hiện tượng Trương Vĩnh Kư: Từ người trí thức tới kẻ sĩ phu” đọc tại Sài G̣n và đăng lại trên báo Bách Khoa năm 1974, Hồ Hữu Tường  đưa ra những biện hộ tương đối ôn ḥa nhất, dù ông Tường chẳng sử dụng được một tài liệu nào mới, và dữ kiện đưa ra thường không đúng sự thực. (Hồ Hữu Tường, “Hiện tượng Trương Vĩnh Kư hay là hóa tŕnh từ người trí thức đến kẻ sĩ phu;” Bách Khoa (Sài G̣n), M [1974], tr. 15-22) Gần 20 năm sau, trong tập Trương Vĩnh Kư in năm 1993, ông “Bảy” Trấn giải thích rằng chữ “người Pháp” (mà Petrus Key cổ vơ thúc dục người Việt phải đưa cả hai tay ra mà bám chặt lấy để đứng lên) trong thư từ hay báo cáo Petrus Key viết cho các viên chức Pháp phải hiểu rộng thành “Tây phương.” (Trương Vĩnh Kư, 1993, tr. 17; Báo cáo ngày 28/4/1876, P. Truong Vinh Ky gửi Amiral Duperré). Lối giải thích quá rộng răi này, dù với hàm ư ǵ đi nữa, có thể khiến ông Petrus Key phải dơ tay phản kháng từ đáy mồ. (V́ Petrus Key rất hănh diện được làm thần dân của một quốc gia mới là nước Pháp; Xem, Cours dơhistoire annamite, tập II [1879?], tr. 252, 278) Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, vào khoảng năm 1995, th́ trích dẫn lại hầu hết những lời xưng tụng nhà giáo dục Petrus Key mà không hề kiểm chứng mức độ khả tín của tư liệu, và nhất là quên đi khía cạnh chính trị của nền giáo dục thuộc địa ấy.(Nguyễn Thanh Liêm, op. cit., tr. 11-22)

 

          Dĩ nhiên, nhiều cựu học sinh trường Petrus Kư biết rất rơ vai tṛ đích thực của Petrus Key cũng như khả năng ngôn ngữ và vai tṛ “văn hóa” của ông, nhưng họ đă chọn thái độ im lặng. Chẳng ai muốn khuấy bùn làm đục nước ao. Khả năng và tinh thần yêu nước của các cựu học sinh trường Petrus Kư chẳng liên quan ǵ tới vai tṛ lịch sử hay tài năng của Petrus Key, một cá nhân đă được chính quyền Bảo hộ đặt làm tên trường học của họ (và họ không có một lựa chọn nào hơn phải chấp nhận). Họ phân biệt rơ ràng giữa “tinh thần trường Petrus Kư” và “tinh thần Petrus Key.” Hàng trăm, nếu không phải hàng ngàn, cựu giáo chức và học sinh trường Petrus Kư đă đổ máu hay hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh kháng Pháp, giành độc lập, giương danh quốc dân và đất nước Việt trên thế giới, hoàn toàn trái ngược với lời hô hào hăy đồng hóa quyền lợi của người An-nam-mít với quyền lợi Đại Pháp mà Petrus Key đề xướng—hai thứ quyền lợi khác nhau như nước với lửa.

 

Cũng có tác giả nghiêng về khuynh hướng “đào mộ,” thích gọi Petrus Key bằng những tiếng xúc phạm nặng nề như “Việt gian,” “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp,” v.. v... Từ thập niên 1960, tại miền Bắc đă công khai dùng tiếng này. (Xem Tô Minh Trung, “Trương Vĩnh Kư: tên tay sai đắc lực đầu tiên của chủ nghĩa thực dân Pháp trong lịch sử ta;” Nghiên cứu lịch sử (Hà Nội), Bộ 65, số 2 (1964), tr. 43-6; Mẫn Quốc, “Trương Vĩnh Kư: một nhà bác học trứ danh đă ngang nhiên đóng vai đặc vụ t́nh báo, làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp;” NCLS, Bộ 60, số 3, 35-8) Tại miền Nam, một số tác giả cũng đặt lại vai tṛ Petrus Key trong lịch sử. Tiêu biểu nhất có những bài viết trên bán nguyệt san Bách Khoa của Nguyễn Sinh Duy [8/1974] và Phạm Long Điền [11/1974]. Hai tác giả Nguyễn Sinh Duy và Phạm Long Điền đă trả lời khá xuất sắc cung văn của ông Hồ Hữu Tường về Petrus Key. (Tôi chưa được tham khảo tập Cuốn Sổ B́nh Sinh do ông Nguyễn Sinh Duy biên soạn và xuất bản vào tháng 3/1975 [hay 1974?])

 

          Vào thập niên 1990, con người và tác phẩm Petrus Key lại được đem ra mổ xẻ. Phần v́ có thêm những tư liệu mới. Phần v́ có nỗ lực chính trị để thiết lập một trường trung học dân lập (tư thục) mang tên Petrus Kư tại Sài G̣n. Ngoài ra, c̣n âm mưu bành trướng ảnh hưởng của một thiểu số giáo mục và giáo dân Ki-tô tham vọng. Tôi không theo dơi kỹ những cuộc tranh luận này v́ vài lư do.

 

Trước hết, tôi không nuôi tham vọng làm một “nhà Petrus Key học.” Những tư liệu t́m được về Petrus Key chỉ rất t́nh cờ. Hơn nữa, vai tṛ lịch sử của Petrus Key đă được xác định, từ lâu: một trong những khai quốc công thần của nền bảo hộ Pháp; nhưng vẫn chỉ là một thành phần trung gian bản xứ “được khai hóa.” (Chỉ cần nh́n vào hàng huy chương trong di ảnh Petrus Key đủ chứng minh điều này: Nào là Bắc đẩu Bội tinh, Long Khánh Bội tinh, v.. v...)

 

Thứ hai, tôi hiểu rằng với các sử quan Cộng Sản, mọi nghiên cứu sử học chỉ nhằm phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của Đảng Cộng Sản và Nhà nước Xă hội Chủ nghĩa. Những kết luận lớn và nhỏ của các sử quan (chưa hẳn đă là sử gia) trong nước, bởi thế, chẳng nên bận tâm. V́ chúng sẽ được thay đổi hay bỏ quên khi cần. Chỉ so sánh những tài liệu sử quan Cộng Sản viết về Trung Quốc trong thập niên 1950 và 1960, với những ǵ họ công bố từ năm 1980 tới 1990, rồi những ǵ họ đang viết vào đầu thế kỷ XXI (và ngược lại) đủ hiểu thân phận và nỗi buồn của người nghiên cứu c̣n đôi chút lương thiện trí thức tại quốc nội. Nói cách khác, kết luận của những buổi hội thảo về Petrus Key ra sao đi nữa chẳng đóng góp ǵ nhiều cho kiến thức sử học.

 

Tuy nhiên, một trường hợp đặc biệt cần ghi nhận. Đó là trường hợp cuốn Trương Vĩnh Kư: Nhà văn hóa của Giáo sư Nguyễn Văn Trung (Hà Nội [?]: Nhà văn, 1993). Một thời, nhóm ông Trung (trí thức Ki-tô tiến bộ) đả kích cả hai ông Petrus Key và Phạm Quỳnh khá nặng. Nhưng trong tập sách mới trên, ông Trung tự nhận đă thay đổi quan điểm.(Ibid., tr. 49, 137) Sự thay đổi này có lẽ do mục đích chính trị giai đoạn hơn văn hóa. Trước hết, Giáo sư Trung ra công sưu tập được một số tư liệu nguyên bản của Petrus Key tại Sài G̣n và Hà Nội—như danh sách 141 tác phẩm do chính Petrus Key tự liệt kê vào năm 1892 (Ibid., tr. 109-131), danh sách 7 ngoại ngữ Petrus Key từng học hỏi ghi trong hồ sơ cá nhân ông (anglais, franỄais, espagnol, italien, malais, cambodgien, latin; Ibid., tr. 138), hay phân tích khá kỹ lưỡng tờ học báo ít người chú ư, tức nguyệt san Thống Loại Khóa Tŕnh (Miscellanées ou Lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales et les familles) trong hai năm 1888-1889 (loại tài liệu dạy trong bộ môn khoa học, hay cách trí thường thức). Ông Trung cũng tham khảo những bài viết về Petrus Key của một số tác giả, như Lê Thanh, Nguyễn Văn Tố, và một cây bút ít ai biết như Pierre Vieillard [Villard?], v.. v... Nhưng v́ mục đích “kéo” Petrus Key về với văn hóa Việt Nam, ông Trung mất đi thế đứng trung dung của người nghiên cứu, để lộ vài kẽ hở kỹ thuật. Một trong những nhược điểm này là ông Trung tránh phân tích nội dung một số tác phẩm của Petrus Key như bộ Bài giảng sử An-Nam-mít, v.. v... Giáo sư Trung chỉ ghi nhận sơ sài rằng ông Petrus Key đả kích các vua Nguyễn một cách “nghiêm khắc.” Thực ra, trong tập “giáo khoa sử” trên, Petrus Key không những chỉ “nghiêm khắc” với các vua nhà Nguyễn mà c̣n bịa đặt ra, hoặc sao chép lại những lời bịa đặt của người khác, cho mục đích chính trị nhất thời. Thí dụ như không hề có việc ông Nguyễn Văn Thành [mà Petrus Key viết thành Nguyễn Văn Thiềng] làm “vice-roi” [Phó vương] miền Bắc, bị vua Minh Mạng hại chết (Tome II:260); hay việc Minh Mạng giết hai con Hoàng tử Cảnh và chị dâu sau khi khiến chị dâu góa bị mang thai.(Tome II:259-60; xem thêm phần dưới) Hai Hoàng tử của vua Thiệu Trị không phải là “Hoàng Bảo” và “Hoàng Nhậm”; tên đệm của họ là “Hường.” Từ thời điểm này nh́n lại những lời bịa đặt, chỉ trích đầy sai lầm về dữ kiện ấy chẳng xứng đáng chút nào với lời “cung văn” của ông Nguyễn Văn Tố như “science, conscience, modestie” [khoa học, lương tâm, khiêm tốn].(“Pétrus Kư (1873-1898); Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin [Thành tích biểu Hội Truyền bá chữ quốc ngữ Bắc Kỳ], Tome XVII, Nos. 1-2, Janvier-Juin 1937; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 49, 197-8. Tại Thư viện Quốc Gia Pháp có tựa sách này, nhưng hiện nay không được phép tham khảo v́ đă “không sử dụng được”) [Xem thêm phần sau]. Và dĩ nhiên, khó thể  giúp xếp loại Petrus Key là “sử gia trung thực và có lương tâm” [historien fidèle et consciencieux] như ông ta tự nhận (Tome II:251), hay được “cung văn”.(Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 45)

 

          Ông Trung c̣n tránh đề cập đến khía cạnh “tài tử” trên lănh vực ngôn ngữ học của ông Petrus Key; hoặc đúng hơn, chưa phân biệt rơ ràng khía cạnh “thực dụng” của khả năng ngoại ngữ (thông ngôn, giáo viên dạy tiếng Việt và Pháp) và “lư thuyết” ngôn ngữ học mà Petrus Key không hoặc chưa có dịp thảo luận. Tôi nghĩ những ghi chép vỏn vẹn 1, 2, 3 hay 5, 10 trang về một ngôn ngữ chưa đủ phản ảnh, hay chưa đủ số lượng tư liệu để lượng giá, khả năng hiểu biết của tác giả về ngôn ngữ ấy. Và, gọi là “tác phẩm” th́ hơi quá đáng.

 

Hơn nữa, ông Trung cố lư luận rằng Giáo sư trường Thông ngôn và rồi Tập sự Hành chính (hay, “Hậu bổ” nếu muốn) đă trở thành một nhà ngôn ngữ học—có lẽ do những chữ linguiste hay philologue ghi trong hồ sơ cá nhân Petrus Key—dù chính ông chưa được đọc những tựa sách như Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales [Bàn về sự tương đồng trong các ngôn ngữ và cách viết Ầông phương]; Analyse comparée des principales langues du monde [Phân tích tỉ đối các ngôn ngữ chính trên thế giới]; Etude sans titre sur les langues de la Pennisule indochinoise [Nghiên cứu không có tựa đề về các ngôn ngữ ở bán đảo Đông Dương]; Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l' Indochine [Nghiên cứu tỉ đối về ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục Ầông Dương]; Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hiérogliphiques, phonétiques et alphabé-tiques [Sự phối hợp những hệ thống qui ước về các lối chữ viết hội ư, kư hiệu (giống như chữ cổ Ê-gípt), ghi âm và bằng mẫu tự La-tin]; hay Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques [Nghiên cứu tỉ đối về ba ngành ngôn ngữ học].

 

          Chưa một ai cho biết  mỗi cuốn trong 6 tựa sách trên dày bao nhiêu trang, nội dung ra sao. Cuốn Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales [Bàn về sự tương đồng trong các ngôn ngữ và cách viết Đông phương] c̣n dưới dạng bản thảo, được Giáo sư Elucian Luro nhắc đến năm 1872, và in lại trong Thành tích biểu Hội Giáo dục Đông Dương (BSEI, tome XV, No. 1-2, 1er & 2è trimestre 1940, tr. 73).  Bản thảo Analyse comparée des principales langues du monde [Phân tích tỉ đối các ngôn ngữ chính trên thế giới] do ông Nguyễn Văn Tố nhắc đến năm 1937 trong Thành tích biểu Hội Truyền bá Quốc Ngữ Bắc Kỳ (BSEMT, tome XVII, No. 1-2, Janvier-Juin 1937, tr. 37). Bản thảo Etude sans titre sur les langues de la Pennisule indochinoise [Nghiên cứu không có tựa đề về các ngôn ngữ ở bán đảo Đông Dương] do ông Lê Thanh nhắc đến trong cuốn Trương Vĩnh Kư, in tại Hà Nội năm 1941. (Có lẽ là tập ghi chép 33 trang trao tặng cho Viện Khảo cổ Sài G̣n năm 1958). Tương tự, ba bản thảo Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l’ Indochine [Nghiên cứu tỉ đối về ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục Đông Dương]; Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hiérogliphiques, phonétiques et alphabétiques [Sự phối hợp những hệ thống qui ước về các lối chữ viết hội ư, kư hiệu (giống như chữ cổ Ê-gípt), ghi âm và bằng mẫu tự Latin]; và Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques [Nghiên cứu tỉ đối về ba ngành ngôn ngữ học] chỉ thấy ghi trong thư mục chép tay của Petrus Key năm 1892, nhưng chưa ai được tham khảo. H́nh dạng sách hay bản thảo chưa hề thấy, nội dung sách hay bản thảo chưa được đọc mà cứ nhắm mắt lại khen nức nở, sợ có thái quá chăng?

 

Đoạn nói về “Nghiên cứu nguồn gốc chữ viết Việt Nam” của Petrus Key, ông Trung dẫn hai cuốn Sách mẹo Annam, Abrégé grammaire annamite (1867, 1924) và Ecriture en Annam [Chữ viết ở An-Nam] để giới thiệu “thuyết” của Petrus Key rằng “chữ cổ Việt” vốn “ghi âm” [phonétique] hơn “tượng h́nh.” Lời vơ đoán này chẳng dựa trên bằng chứng cụ thể nào ngoài câu tuyên bố vu vơ như dấu khắc t́m thấy trên đá núi Dahia. (Trương Vĩnh Kư, Sách mẹo An-Nam, Abrégé grammaire annamite, [Sai Gon, 1867], phần mở đầu; và “écriture en Annam;” BSEI, année 1888, 1er semestre, tr. 5; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 143-4) Sợ rằng đây chỉ là thứ lập luận . . . “mua vui cũng được một và trống canh!” Chưa một tài liệu nào, kể cả các bộ cổ sử nặng mang tính cách dựng quốc thống của Ngô Sĩ Liên hay di tích khảo cổ, cho phép tuyên bố nước cổ Việt đă có chữ viết giống như những nét khắc trên đá “ở đỉnh núi Dahia?” Dựa vào những câu phụ chú hoang tưởng [exotic] của Kinh Thư và Sử Kư về sứ nước Việt Thường tiến cống rùa vàng (đời vua Nghiêu, 2356-2255 TTL) hay chim trĩ trắng (năm thứ sáu đời Chu Thành vương, 1115-1079 TTL), “chín lần” hay “ba lần” thông ngôn mới hiểu được nhau, để đoan chắc hoặc phóng tưởng rằng người cổ Việt đă có chữ viết từ thế kỷ thứ V TTL (?) sợ rằng lối suy luận ấy chẳng “science, conscience, modestie” chút nào! Nó là một thứ vơ đoán, trong nhiều vơ đoán khác của Petrus Key rải rác trong các sách c̣n lưu giữ được, tương tự như lời phán “con nít từ nách chui ra.”

 

[Trước ông Petrus Key hơn bảy trăm năm, Cheng Ch'iao (Trịnh Tiều, 1104-1162) dựa theo huyền thoại sứ Việt Thường (có người ước đoán từ Nghệ An tới Quảng B́nh, Quảng Trị hiện nay) đến cống Chu Thành Vương (1115-1079 TTL) một con chim trĩ trắng (Shu Waltham), tr. 199-200; Cương Mục [Sài G̣n], 1965, II:29-31) để tán vào tập sách T'ung chih [Thông chí] của ḿnh rằng sứ Việt Thường đă qua tới Trung nguyên vào đời vua Đường-Nghiêu (2356-2256 TTL), cống “con rùa ngàn năm trên lưng có chữ khoa đẩu.” Rồi ghi thêm rằng vua Nghiêu dùng loại chữ ấy để soạn “lịch rùa!” (Cương Mục [Sài G̣n], 1965, II:28-9). Hơn trăm năm sau nữa, khi dùng Kinh Thư để viết Thông Giám Tiền Biên—tức phần Tiền Biên cho cuốn Tư trị Thông Giám của Tư Mă Quang (1019-1086)—Kim Lư Tường  (1232-1303) vẫn giữ chi tiết “rùa thần” nhưng loại bỏ các chi tiết chữ “khoa đẩu” và “lịch rùa” của Trịnh Tiều trong sách Thông chí. Hiện nay, tài liệu khảo cổ tiết lộ chữ “giáp cốt” (tức chữ viết trên mai rùa và xương thú) xuất hiện vào khoảng giữa đời nhà Thương-Ân, tức sau triều Bàn Canh. [Xem thêm bài Tư liệu lịch sử]

 

          May mắn là thời gian Petrus Key c̣n sống, những di tích khảo cổ chưa được phát hiện, bằng không có thể sẽ có những loại lư luận kiểu “hoa văn [h́nh khắc] trên trống đồng Đông Sơn” là “chữ cổ Việt theo dạng ghi âm!”

 

Tại hải ngoại, nhờ tư liệu văn khố mới phát hiện và có điều kiện nghiên cứu tác phẩm cùng sách báo nguyên bản, các nhà nghiên cứu đă tái dựng gần đúng sự thực hơn về Petrus Key cùng nhiều tác nhân thời Pháp xâm chiếm Đại Nam. Đáng lưu ư là bài viết của các ông Bùi Kha, Nguyễn Đắc Xuân, v.. v... trên tờ Giao Điểm (California) mới đây [số 41 & 42, năm 2001], và nhất là hai tập Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư, tập I (tái bản năm 2000) và Thực Chất Giáo Hội La Mă (2 tập, 1999) của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang. Sử dụng nhiều loại tài liệu, kể cả một số tư liệu văn khố do tôi sưu tập, Giáo sư Quang khẳng định ông Petrus Key không yêu nước. (Ngược lại, Giáo sư Hứa Hoành, cựu giảng viên trường Vơ bị Ầà Lạt, tác giả nhiều biên khảo về miền Nam, dù sử dụng phần tư liệu tương tự, lại kết luận Petrus Key chưa hẳn đă là Việt gian, mà c̣n yêu nước).

 

          Tóm lại, trước năm 1996, chúng ta biết rất ít về Petrus Key ngoài những huyền thoại, cung văn tức tài liệu truyền đơn, khẩu hiệu. Đăọi là cung văn th́ dĩ nhiên cái ǵ Petrus Key cũng tốt cũng hay. Những người chê trách th́—ngoại trừ  các ông Nguyễn Sinh Duy, Nguyễn Đắc Xuân, Bùi Kha, hay Nguyễn Mạnh Quang—chỉ sử dụng tư liệu cũ và giải thích theo ḷng yêu ghét hay quan điểm chính trị giai đoạn của họ.

 

Nhưng hiện nay, văn khố thuộc địa Pháp cũng như Hội truyền giáo Paris đă mở ra cho giới nghiên cứu, đa số những điều người Pháp viết về “công ơn khai hóa” của họ tại Đông Dương bắt đầu bị sự thực lịch sử đào thải dần. Những cung văn về các nhà đại ái quốc của tân trào bảo hộ Pháp như Petrus Key hay Hiệp sĩ Vatican Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Ngô Đ́nh Khả, Ngô Đ́nh Diệm, v.. v... cũng chịu chung số phận khó tránh. Những tài liệu văn khố mới được công bố này rất khả tín [authentique], và không ai, nếu có đủ lư trí để suy xét và sự lương thiện trí thức tối thiểu, có thể bài bác. Vậy mà, thật đáng buồn, đôi ba người vốn chẳng có bao lăm kiến thức sử học, lại đầy tư tâm, t́m cách bênh vực Petrus Key bằng mọi giá, nhắm mắt lại mà đả kích những tác giả công bố các tư liệu mới về thông-ngôn-gia chính ngạch kiêm học giả miền Nam này!

 

Thuở thiếu thời của Petrus Key:

 

          Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau.

 

Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Kư là “Lănh binh Truơng Chánh Thi,” (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43) chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Ibid., tr. 43); năm  1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (Ibid., tr. 44);  năm 1847, Tự Đức lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên (Ibid., tr. 44); năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (Ibid., tr. 44); năm 1852 được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Pinang, và ghé qua Sài G̣n gặp mẹ được vài giờ (Ibid., tr. 44); tại Pinang học tiếng Anh, Nhật, ấn (Ibid., tr. 45); năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang; ngày 28/12/1860, được Giám mục Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic]  Jauréguiberry (Ibid., tr. 45). (Đại tá J. D’Ariès được lệnh thay Trung tá Jauréguiberry từ tháng 2/1860; chính thức bàn giao vào tháng 4/1860]; Vũ Ngự Chiêu, Các vua, I:124)

 

          Mười sáu năm sau, nhà chính khách tự nhận là “Đệ tứ Cộng Sản” (Trotskyite) Hồ Hữu Tường, cho rằng Petrus Key  sinh trong một gia đ́nh “công giáo” (Bách Khoa; N [404], 5/9/1974, tr.17), cha là “lănh binh Trương Chánh Thi,” mẹ là Nguyễn Thị Châu (Ibid., tr. 17). Năm 1847, được một linh mục nhận nuôi (Ibid., tr. 17). Sau khi học tại các trường đạo, Petrus Key nói thông thạo “10 thứ tiếng khác nhau”: La-tinh, Pháp ngữ, Anh ngữ, Y pha nho, Hoa ngữ, Mă lai, Ấn độ ngữ, Nhật ngữ. (Ibid., tr.17,18) Năm 1858, mẹ chết; Petrus Key được phép về thọ tang mẹ (Ibid., tr.18). Ngày 20/12/1860, khi người Pháp khánh thành trường Thông ngôn; Petrus Key đứng đầu trường này.( Ibid., tr.18)

 

Năm 1974, Phạm Long Điền, qua bài “Trương Vĩnh Kư trong quĩ đạo xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp” (Bách Khoa Q [1974], tr. 45-54; & R [1974], tr. 32-42) cung cấp một niên biểu khác: Năm 1842, khi mới 5 tuổi, Petrus Key đă theo Linh mục Tám của vùng Cái Mơn (Bách Khoa Q [1974], tr.47); bốn năm sau, 1846, theo Cố Long, một Linh mục người Pháp (Ibid., tr.47); hai năm sau nữa, 1848, Cố Long đưa qua Pinhalu, Miên (Ibid., tr. 47); năm 1850, qua Pinang, học trường Dulama (Ibid., tr. 47); năm 1857, nghe mẹ từ trần, rời Pinang về Nam Kỳ (Ibid., tr. 47-8); hai năm sau, được Giám mục Lefèbvre giới thiệu cho người Pháp. Rồi năm 1861, Cố Doan [Đoan] làm mai cho lấy vợ, Vương Thị Thọ, con Vương Tấn Nguơn, Hương chủ làng Nhơn gian, Chợ quán.

 

Khoảng giữa thập niên 1990, tại hải ngoại, Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm cũng chép lại gần như nguyên văn các chi tiết trên. Nào là “lănh binh Trương Chánh Thi dưới thời Minh Mạng,” “chết năm [1845] trong khi đang đồn trú tại Nam Vang” (tr. 12); thuở nhỏ Petrus Key học chữ Nho với thày “đồ Học,” được “cụ Tám” xin mang về nuôi; rồi theo cố Long, cố Ḥa học tiếng Latin và chữ Việt mới (tr. 12); năm 1848 qua học ở Miên, rồi qua Pinang; năm 1858, mẹ chết, về nước.(tr. 13)

 

          Trong nước, năm 1993, Nguyễn Văn Trấn hầu như chỉ lập lại những lỗi lầm của người đi trước. Theo ông Trấn, Petrus Key sinh ngày 16-12-1837 tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lệ, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre). (Trấn, 1993, tr. 9) Cha là vơ quan dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, “làm sứ thần bên cạnh vua Cao Miên, đóng quân ở phụ cận Nam Vang,” chẳng may chết v́ “ma thiêng nước độc” khi Petrus Key mới có 3 tuổi. Hai năm sau, Petrus Key học với một ông đồ. Năm 1846 được một giáo mục An Nam là “cố Tám” từng chịu ơn ông Trương Chánh Thi ghé nhà, xin mang đi nuôi ăn học. Cố Tám chết, một linh mục Pháp là cố Long đưa Petrus Key lên Nam Vang, cho vào trường “Pô-nhia Lư” [Pinhalu] của cố Ḥa (Belleveaux).(tr.9-10) Năm 1851, khi Petrus Key đă 14 tuổi, cố Long đưa sang Pinang học “Seminaire général des missions étrangères en Extrême-Orient”. Năm 1852, làm tu sinh ở Pinang. Trường này có hơn 300 học sinh, nhờ vậy Petrus Key học được tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hindu (tr. 12). Năm 1859, măn khóa 8 năm ở Pinang, “im lặng” về nước. Năm này, Pháp đă chiếm Đàẵng, mẹ đă chết.(tr. 13) Dạy học ở Cái Nhum, rồi trốn lên Sài G̣n, ở chung với Lefèbvre.(tr. 16) Tháng 12/1859, trở thành thông ngôn của “quan ba hải quân” (sic) Jauréguiberry.(tr. 17) Năm 1963 được Phan Thanh Giản xin làm thông ngôn cho sứ đoàn qua Pháp.(tr.24)

 

          Khối văn chương được nhiều người nh́n nhận [established] về Petrus Key này có vẻ bất ổn. Chúng ta thử lược duyệt từng chi tiết từ phụ thân Petrus Key tới những đặc tính khác của ông.

 

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu, Trích giaodiem.com tháng 5/2003

NDVN, 18/8/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend