NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TIẾN SĨ VŨ NGỰ CHIÊU: Góp Phần Nghiên Cứu Về Trương Vĩnh Kư (1837 - 1898)


  Được đăng ảnh  

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CACờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris: Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

 

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

*************

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Tony Blair picture 1811810

 

 

Lê Hồng Phong

 

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu  

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

 Giuse Phạm Hữu Tạo  

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

  

* "BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa..... (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) - (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 – tr 7 Liên Thành Biến Động Miền Trung)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ? Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?

5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

 

 

L.T.G.: Tôi vốn không chuyên biệt về khía cạnh chính trị trong giai đoạn Pháp thuộc. Lại không định viết tiểu sử các tác nhân, ngoại trừ tập Nhân Vật Chí (kư tên Chính Đạo) ghi chép vắn tắt dài theo hơn phần tư thế kỷ nghiên cứu vừa qua (đă tái bản, có bổ sung năm 1997, và sẽ in lần thứ ba năm 2005). Những tài liệu phát hiện về Petrus Key cũng như các tác nhân lịch sử cận và hiện đại thường rất t́nh cờ. Với ước muốn dùng các thay đổi văn hóa và xă hội để giải thích chiến thắng của người Cộng Sản năm 1975, ngoài những vấn đề ngoại giao, chính trị, kinh tế, không thể không nghiên cứu thêm các tôn giáo và ư thức hệ tại Việt Nam trước năm 1945. Bởi vậy, năm 1996, khi t́m đọc các tài liệu về Giám mục Dominico Lefèbvre, vô t́nh bắt gặp lá thư thủ bút của Petrus Key vào cuối tháng 3/1859 để tự tiến thân với các quan tướng Pháp. Khi đọc tư liệu của Trung tá Hải quân Henri Rieunier, cựu chánh văn pḥng của Jean Bernard Jauréguiberry, cũng người cầm đầu phái bộ Pháp của “Cochinchine” [Nam Kỳ] bên cạnh sứ đoàn Phan Thanh Giản năm 1863, mới xác tín rằng Petrus Key, thông ngôn hạng nhất của Soái phủ Sài-g̣n, là thông ngôn của phái bộ Pháp, dưới quyền Gabriel Aubaret,  không phải của sứ đoàn Việt như thường huyễn truyền (thông ngôn của triều Nguyễn là hai người khác, kể cả một linh mục Việt, Nguyễn Hoằng). Khi đọc tư liệu văn khố Hội truyền giáo hải ngoại, mới biết chính sách mua trẻ mồ côi để tăng số giáo dân và thày kẻ giảng (thí dụ như Lettre commune năm 1858), và từ đó hiểu tại sao những Petrus Key và Ngô Đ́nh Khả v.. v... bỗng dưng trở thành các “chú” của nhà Chúa Blời. (Xem Phụ bản) Đọc tư liệu Joseph Page và Jauréguiberry mới rơ nghị quyết của ổy Ban Cochinchine năm 1857 yêu cầu sử dụng “thày kẻ giảng và 600,000 giáo dân Ki-tô làm ṇng cốt” cho “tân trào” bảo hộ Pháp. Đọc tài liệu trường Collège général de Pinang mới rơ chương tŕnh huấn luyện các thày kẻ giảng bản xứ, và đại cương về các chủng sinh [Nên không thể không đặt câu hỏi Petrus Key tốt nghiệp trường Pinang chưa mà không được thụ phong linh mục hay thày kẻ giảng ở Pinang, đă phải vội vă “cưỡi ngựa”, vượt sông vượt biển về Cái Nhum chờ đón những sứ giả “Moises và Jacobs” mà “Thiên chúa” gửi sang “giải phóng” giáo dân Việt năm 1858? Phải chăng v́ Lefèbvre (người ngày đêm trông đợi binh thuyền Pháp tới đ̣i vua Tự Đức nợ máu) đă được thông báo về Nghị quyết 1857 của Ủy Ban Cochinchine, yêu cầu thiết lập một tân trào với các thày kẻ giảng làm trụ cốt và sự trợ giúp của 600,000 giáo dân?]. 

 

                  Pestrus Trương Vĩnh Kư

 

* VỀ CON NGƯỜI TRƯƠNG VĨNH KƯ  :  LTS (Tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh): Bến Tre có nhiều nhân vật xứng đáng là niềm tự hào chẳng những của một xứ dừa mà c̣n là của cả nước ta về ḷng TẬN TRUNG VỚI NƯỚC, TẬN HIẾU VỚI DÂN như Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thị Định, Ca Văn Thỉnh…. Tuy nhiên trên Tạp chí Văn nghệ Hàm Luông, số Xuân Bính Thân 2016 với bài “Xứ dừa – nơi sinh ra những con người huyền thoại” của tác giả Đinh Hữu Quang đă đưa Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Kư sánh ngang tầm những tên tuổi ấy là một việc làm lộn x̣ng lịch sử. Chuyện này xưa rồi nhưng lâu lâu lại rộ lên theo ḍng thời cuộc nên “người yêu sử” đành tra lại tích cũ tŕnh với bà con Bến Tre và bạn đọc gần xa về hai nhân vật lịch sử đầy tai tiếng này.

 

PETRUS KEY hay PETRUS KƯ?  ....  Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Kư, P.J.B. Trương Vĩnh Kư, Sĩ Tải Trương Vĩnh Kư, hay Petrus Kư, thường được coi như một đại văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” (Xem, chẳng hạn, Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Kư [Con người và sự thật], Sài G̣n: 1993, tr. 7) Dưới thời Pháp thuộc, rồi Cộng Ḥa Nam Kỳ, Quốc Gia Việt Nam, và Việt Nam Cộng Ḥa, người ta lấy tên Petrus Key (Kư) đặt cho trường trung học công lập lớn nhất ở Sài G̣n, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương tŕnh giáo dục nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân), được đặt tên cho trường học lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; v́ nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn....

 

* Gỡ Lần Những Manh Mối Lịch Sử - Gia Phả Petrus Key: Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu  .....Duyệt xét các cung văn về Petrus Key, một vấn đề khiến người học sử không thể không thắc mắc: Đó là, tại sao bà Nguyễn Thị Châu trao Petrus Key cho các cố đạo nuôi?....

  

Trong khi đó, v́ chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Ki-tô t́m đủ cách để gia tăng số tín đồ. Trong kế hoạch gia tăng giáo dân trên  có việc dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đ́nh Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ.....

 

* PETRUS KEY Và VẤN ĐỀ NGOẠI NGỮ   ....V́ thành đạt này, những người ngưỡng mộ Petrus Key đă vẽ chân cho rắn đến nhiều khi   phi-nhân-hóa ông. Người đọc sách sử không thể không tự hỏi thực chăng chú bé 11 tuổi Trương Vĩnh Kư nói thông thạo “5 thứ tiếng,” và sau này thông thạo tới “26 thứ tiếng?” Thực chăng ông Petrus Key xứng danh là một nhà ngôn ngữ học (linguist), hay chỉ là một thông ngôn (interpreter hay translator) xuất sắc?...

 

Theo tài liệu Hội truyền giáo Hải ngoại, trường này dạy hai thứ tiếng chính: Pháp và Việt (sử dụng mẫu tự Latin, tức quốc ngữ hiện nay). Ngoài ra, học viên c̣n được học triết lư Greek (Hy Lạp), thần học và cổ ngữ Latin....Đại chủng viện Pinang không có đủ số chuyên viên để dạy bảo Petrus Key 26 thứ tiếng. Chương tŕnh huấn luyện cũng không đ̣i hỏi học sinh phải biết nhiều ngoại ngữ, và trên thực tế các học viên chỉ được dạy bảo ba thứ tiếng: Pháp, Latin và chữ Việt sử dụng mẫu tự Latin....

 

Tóm lại, khi trong tuổi thanh xuân, Petrus Key có thể biết được năm, sáu thứ tiếng. Sau này, Petrus Key nghiên cứu thêm chữ Hán và chữ Nôm, và có thể biết (đọc, viết hoặc nói) được 7, 8 thứ tiếng là cùng.(Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138) Nhưng nếu nói thông thạo, th́ chỉ khoảng 3, 4 thứ tiếng (Pháp, Việt, Việt Hán và chữ Nôm). Chỉ ngần ấy đă đủ là một học giả trong thế kỷ XIX và XX!....

 

* Vai Tṛ Của Petrus Key Trong Sứ Đoàn-Thông Ngôn-Nhà Báo  .... [Thực ra, từ năm 1919 và 1921, tờ Bulletin de Amis du Vieux Hue (BAVH, Thành tích biểu của Hội Những ngụi bạn của cố đô Huế) đă có những loạt bài dịch tập Nhu Tây sứ tŕnh nhật kư của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ. Các tài liệu này đều xác nhận thông ngôn chính của sứ đoàn Nguyễn là Linh mục Nguyễn Hoằng. Petrus Key và Tôn Thọ Tường là phụ tá của Trung tá Aubaret, thông dịch viên chính thức (LM. Nguyễn Hoàng, NDVN) cho sứ đoàn Phan Thanh Giản trong thời gian tại ParisMadrid....

 

Nhiệm vụ chính của Petrus Key trong giai đoạn này là nắm gọn vua Đồng Khánh-dạy bảo vua phải biết đưa hai tay ra nắm lấy người Pháp, và lựa chọn vào Viện Cơ Mật những người đồng hóa quyền lợi bản thân với quyền lợi nước Pháp....

 

Tóm lại, thời gian ở Huế nói riêng, và suốt gần 40 năm phục vụ chế độ Bảo hộ Pháp, Petrus Key luôn luôn bày tỏ một ḷng yêu nước nồng nàn. Nhưng là ḷng yêu nước Pháp, tổ quốc mới của ông ta.

 

Petrus Key Và Các Vụ Án Lịch Sử Liên Hệ  ....Để t́m hiểu sự thù ghét giữa Minh Mạng và các nhà truyền giáo, cần lược duyệt lại giai đoạn từ khi nhà Tây Sơn (1776-1802) tiêu diệt chúa Nguyễn (1600-1776), làm chủ Đàng Trong.... vừa lên ngôi chưa đầy hai năm, ngày 4/3/1804 (tháng Giêng Giáp Tí, 11/2-11/3/1804), từ Thanh-Hoa, Gia Long ban chỉ dụ không được sửa chữa nhà thờ, chùa chiền v.. v....Vua cũng ra Dụ chê bai thuyết thiên đường, địa ngục, nước phép của Ki-tô giáo:

 

“Lại như đạo Gia tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết....”....

 

Thất vọng về Gia Long, các giáo sĩ nuôi tham vọng đầu tư vào con Thái tử Cảnh (đă chết v́ bệnh đậu mùa năm 1801), tức Hoàng tôn Đán (Mỹ Đường), và công khai chống lại Hoàng tử Đảm (tức Hiệu),....

 

Tóm lại, những vụ án Nguyễn Văn Thành hay Tống Thị Quyên-Hoàng tôn Đán chỉ là cái cớ cho các giáo sĩ sử dụng để đả kích vua Minh Mạng, bất chấp sự thực. Từ năm 1816, sau khi Gia Long chọn Hoàng tử Đảm làm Thái tử, các giáo sĩ và giáo dân công khai chống lại quyết định này. Không những tung tin Gia Long giết chết Hoàng tử Cảnh (như lời chứng của Giám mục Francois Pellerin trước Ủy Ban Cochinchine ở Paris vào tháng 5/1857), họ c̣n cáo buộc Minh Mạng (Hoàng tử Đảm) đă “soán ngôi” của cháu.....

 

KẾT TỪ VÀ PHỤ BẢN “Góp Phần Nghiên Cứu Về Petrus Key”   ....Trong ḍng lịch sử quốc dân, v́ lư do nào đi nữa, Petrus Key và số thông ngôn đương thời—cùng những Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn, Trần Lục, Vũ Văn Báo, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Cao Xuân Dục, v.. v...—sẽ được xếp hạng chung là những người hợp tác với Pháp từ buổi đầu. Cách này hay cách khác, họ đă trở thành và được người Pháp nh́n nhận như những khai quốc công thần của chế độ Bảo hộ Pháp...

 

Nói cho cùng lư, Petrus Key và bao người đồng thời khác chỉ là sản phẩm của chế độ thực dân Âu châu nói chung, và trực hoặc gián tiếp là nạn nhân của chính sách thực dân Ki-tô/vật bản của Pháp. Chính v́ thế mà mới có những trăn trở cuối đời Petrus Key về “công và tội,” khi thức ngộ được rằng dẫu có “đưa cả hai tay ra mà nắm lấy người Pháp” th́ ḿnh vẫn chỉ một thứ “người bản xứ được khai hóa” để phục vụ quyền lợi Pháp và Hội truyền giáo.....

          Công bố những tài liệu mới phát hiện này hay không, chúng vẫn nằm ở đó, thu thập bụi thời gian và chờ ngày bị mục nát, nếu chưa được những người nghiên cứu khác t́m đọc. Nhưng tôi đă quyết định công bố tất cả các sử liệu t́m được suốt hơn 20 năm qua, dưới sự hướng dẫn của ánh sáng lương tâm nghề nghiệp. Sự thực nhiều khi khiến đau ḷng, nhưng hậu thế Việt Nam xứng đáng và có quyền được hiểu biết những sự thực ấy. Họ có đọc chăng, suy nghĩ ǵ, đó là quyền của họ. Gần trọn nửa đời bị bưng tai, bịt mắt tại Việt Nam, thấy xà cừ mà tưởng lầm là bạc—nửa đời trăn trở dưới vực thẳm giữa những triền đá dựng đứng, dốc ngược của sự ngu dốt sặc sỡ và lừa dối hào nhoáng—khiến tôi không-thể-không công bố chúng. Thứ bóng tối kinh hoàng nhất là bóng tối của sự ngu dốt, khiến nhân diện nhợt nhạt, trí tuệ hôn ám. Nỗi hổ nhục sâu cay nhất là cứ tưởng ḿnh “biết rồi!” những điều ḿnh thực sự chẳng biết ǵ cả. (Xem Nguyên Vũ, Paris: Xuân 1996, Houston: Văn Hóa, 1997; và, Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập, Houston: Văn Hóa, 1999-2000)

 

          Đă hẳn tôi hiểu rất rơ rằng công bố các tư liệu văn khố mới phát hiện không có nghĩa tất cả những người đương thời sẵn sàng chấp nhận sự thực ấy. V́ như tôi đă nhắc đó đây, cảm nhận về lịch sử (a perception of history) thường ảnh hưởng đám đông hơn chính sự thực lịch sử. Đó là nỗi buồn riêng ḿnh ḿnh biết của người c̣n giữ được sự lương thiện trí thức. Hoặc, nói theo những sách vở cổ thời Tây phương, đó là hớp độc dược mà Socrate (470-399 TTL) phải nuốt qua cuống họng v́ tội “làm ung hoại tuổi trẻ”, hay con thuyền chở chàng “nô lệ” Plato (427-347 TTL); nhưng nhất định không thể là lời xin lỗi nghẹn ngào, ứa nước mắt của Galliléo Galiéli (1564-1642) về việc phát hiện ra rằng trái đất quay quanh mặt trời, mà không phải mặt trời quay quanh trái đất như Giáo Hội dạy bảo, và đă trở thành một thứ “kinh điển đă thiết lập” [establsihed literature]. Hoặc, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là nỗi buồn đứt ruột của những nhà y học đă t́m cách tái tạo [cloning] được một bào thai sơ khai [embryo gem cells] , nhưng đang chịu đủ thứ búa ŕu dư luận (như bị kết án là kiêu ngạo, không tin ở Thượng đế, thiếu đạo đức, không chấp nhận và thách thức thuyết sáng tạo của đạo Ki-tô); có thể bị luật pháp ngăn cấm. Nên chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên khi nghe lời ong tiếng ve về những tài liệu lịch sử mới phát hiện đó, như muốn “bêu xấu,” hay “nói xấu,” làm giảm uy tín các “lănh tụ” dưới thời Pháp thuộc, hoặc chính những người đang cai trị ở Việt Nam. Cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy xuất hiện các “tác phẩm” của bầy cuồng tín tôn giáo và ư thức hệ, nhắm hạ nhục và nguyền rủa, vu cáo những người t́m sự thực.

 

          Người trí thức lương thiện, dĩ nhiên, luôn ấm như Xuân mà lạnh như Thu trước lời lăng mạ, hay mưu mô chồn cáo của loài tinh tinh, và ngay cả bạo lực. Hành tŕnh vào tri thức và chân lư phải trả giá rất đắt. H́nh ảnh của Promotheus bị kền kền moi gan, móc mắt suốt 13 kiếp trên đỉnh núi Olympia v́ dám “đánh cắp lửa trời,” soi sáng cho trần gian, là cái giá phải trả ấy. Và, dĩ nhiên, núi lên càng cao, càng lạnh. T́m hiểu và công bố những tội ác xâm phạm nhân quyền của quốc dân Việt là điều không một người Việt nào có thể xao lăng; bất kể cái giá phải trả!

 

Trong tập Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, kư tên thực Vũ Ngự Chiêu, tôi đă tŕnh bày trường hợp Petrus Key khá đầy đủ. Dựa trên tài liệu văn khố mà không phải những tác phẩm và nguồn tin đă xuất bản suốt hơn trăm năm qua (thường chỉ sao chép lại những lỗi lầm của người đi trước, rồi thêm thắt chỗ này, chỗ nọ, tự nhận của ḿnh), tôi  nghĩ những ǵ  viết về Petrus Key đă tạm đủ. Petrus Key, trong ḍng lịch sử quốc dân, chỉ là một tác nhân bản xứ phụ thuộc (thày kẻ giảng bỏ tu, làm thông ngôn và công tác văn hóa) trong chính sách xâm lăng và cai trị Việt Nam của người Pháp (1858-1945, 1945-1955). Sự khác biệt giữa những Petrus Key, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, v.. v... chỉ là vấn đề lượng hơn phẩm, về h́nh thức [pathos] hơn thực chất [ethos]. Những lời đả kích, chụp mũ quàng xiên nhắm vào những người nghiên cứu sử nào đủ biến đen thành trắng? Phấn son nào đủ tô hồng, chuốt lục cho những khuôn mặt không thể chuốt lục, tô hồng? Dẫu vậy, người học sử nghiêm túc thường cố tránh phê b́nh, đánh giá trong các nghiên cứu của ḿnh, chỉ nỗ lực tái dựng sự kiện lịch sử, một cách trung thực tối đa, với những tài liệu có trong tay. Phán xét là của hậu thế. Nên, tôi đă chỉ dùng một thuật ngữ phi-chính-trị để mô tả họ: Thành phần trung gian bản xứ. Thuật ngữ này có thể dùng chung cho bất cứ một xă hội bị ngoại bang đô hộ hay chiếm đóng nào, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào.

 

          Sở dĩ trong tâm bút Ngàn Năm Soi Mặt này phải trở lại vấn đề Petrus Key v́ hai lư do. Trước khi hoàn tất bộ Các vua cuối nhà Nguyễn, trong tập tâm bút Paris: Xuân 1996 (1997) kư tên Nguyên Vũ, tôi đă công bố một tài liệu then chốt trong cuộc đời sự nghiệp chính trị (và từ đó, văn học) của Petrus Key. Đó là lá thư Petrus Key viết cho Hải quân Trung tá Jauréguiberry vào cuối tháng 3/1859, do Phụ tá Giám mục Borelles chuyển giao, tự tiến thân để làm thông ngôn cho Pháp, hoặc do tự nguyện, hoặc theo lời xúi dục của các bề trên, hoặc cả hai. Bức thư này đă được in lại phần nào trong nguyệt san Quốc Dân (xuất bản tại Houston) năm 1996 và tập Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68). Có người không được đọc số báo hay tập sách trên, hoặc tảng lờ phóng ảnh tài liệu trong đó, đặt câu hỏi thực chăng có lá thư “nói xấu” Petrus Kư ấy. Một câu hỏi đầy khôi hài. V́ trong cuốn Paris: Xuân 1996, tôi trưng dẫn xuất xứ khá rơ ràng: Đó là tư liệu của Jauréguiberry, hiện cất giữ trong Văn khố sử học Hải quân Pháp [Service historique de la Marine] tại Château de Vincennes. (Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 110, 130 chú 32, 297) Muốn biết tài liệu trên có thực hay chăng, một người trí thức lương thiện chỉ cần đến Château de Vincennes, hoặc nhờ thân hữu ở Paris kiểm chứng giùm. V́ chắc chắn không một nhà nghiên cứu nào có thể cho in lại toàn bộ những tư liệu văn khố ḿnh phát hiện.

 

          Nhưng như trên đă nói, cảm nhận về lịch sử thường có tính cách thuyết phục hơn chính sự thực lịch sử. Người ta thường chỉ thích đọc và “khám phá” những ǵ ḿnh tin là sự thực hơn chính sự thực. Bản thân tôi vẫn chưa quên được sự phản kháng từ chính nội tâm ḿnh khi t́m thấy tập hồ sơ xin nhập học Trường Thuộc Địa (Ecole coloniale) Pháp, theo lối cổng hậu, của Nguyễn Tất Thành vào tháng 9/1911; hồ sơ hoạt động cho t́nh báo Liên Sô Nga, Trung Cộng, và t́nh báo Mỹ của Lin, Hồ Quang hay Lucius; hoặc công tŕnh của Quân ủy Trung Cộng, cùng các Tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, “hóa phép” Vơ Nguyên Giáp thành một danh tướng; hồ sơ về việc Phạm Văn Đồng nh́n nhận lănh hải mới do Trung Cộng vẽ ra năm 1958 để có quân viện đánh chiếm miền Nam và 300,000 cố vấn Trung Cộng, v.. v... Hoặc, tài liệu lần đầu tiên tiết lộ về cuộc đảo chính cung đ́nh không đổ máu ngày 2/5/1933, cuộc từ chức ngày 18/7/1933 của Ngô Đ́nh Diệm (1897-1963) cùng âm mưu của các phe Ki-tô giáo chống lại kế hoạch “đại cải cách” của Toàn quyền Pierre Pasquier; lá thư đề ngày 21/8/1944, trong đó Giám mục Ngô Đ́nh Thục (1897-1984) xin Toàn quyền Jean Decoux nghĩ tới công lao hăn mă của cha ḿnh, Ngô Đ́nh Khả (như đă đào mả “rebelle" [ngụy hay giặc] Phan Đ́nh Phùng ở Tây Bắc Quảng-b́nh năm 1896), mà nương tay với hai em Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm; hay việc Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Khôi thú nhận với Paul Arnoux, Tổng Giám đốc Cảnh Sát Đông Dương, rằng chế độ Bảo hộ Pháp là “bát cơm” [bol de riz] ḍng họ Ngô. Từ thái độ phản kháng âm thầm ấy—giống như h́nh ảnh một tù nhân bị giam giữ trong hang tối quá lâu, thường quáng mắt khi đột ngột bị lôi kéo ra ngoài trời rực nắng— đến sự rẫy rụa, ḥ hét giận dữ là lẽ tự nhiên. Hơn nữa, sau gần hai thế kỷ bị bưng tai, bịt mắt và tẩy năo bằng truyền đơn khẩu hiệu, trí óc nhiều người đă được điều kiện hóa trong khuôn khổ các truyền đơn khẩu hiệu ấy. Nên chỉ có trắng và đen. Có đạo và ngoại đạo. Thù và bạn. Cộng Sản và Quốc Gia. Yêu nước và Việt gian. Ta và địch. Phe ta và phe địch. Ta phải trường tồn, hay đẹp, địch phải xấu xa, cần bị tiêu diệt. Không c̣n một khoảng trống nào cho lẽ phải, hay sự suy lư vượt lên trên những dấu mốc nhị nguyên sỉn tanh dấu máu hận thù ấy. Con người bị hạ thấp xuống đâu đó gần con vật thí nghiệm của Pavlov. Chỉ cần một tiếng chuông gióng lên thôi đă có những biến chứng sinh học.

 

          Bởi thế, tôi chỉ cười, khi có người tung tin rằng các tài liệu tôi t́m thấy là “giả mạo,” hay “sai lầm,” hoặc việc công bố có “dụng tâm” nếu không phải “có thiên kiến.” Là người nghiên cứu sử chuyên nghiệp, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và sẵn sàng ghi nhận những sai lầm, nếu có, của ḿnh. Sai lầm nếu có trên, chỉ thuần do kỹ thuật, hoặc do tôi chưa có dịp tham khảo đầy đủ tư liệu, mà chẳng bao giờ do tiên kiến “xây dựng kỳ đài lịch sử” tưởng niệm, vinh danh, hay “đào mộ” vùi chôn một tác nhân nào. Hơn nữa, được huấn luyện chuyên nghiệp khá cao về sử học, tôi hiểu được tầm quan trọng của sự khách quan cũng như lương tâm nghề nghiệp. Nên tôi đă im lặng, cười, trước luận điệu chỉ trích hàm hồ, v́ tự hiểu riêng ḿnh nhất thời khó đủ sức lay chuyển, nói chi đập phá những kiến thức giả ngụy do các tài liệu tuyên truyền mạo danh là “sử”—Những tài liệu tuyên truyền viết từ những chân trụ đồng chơm chởm giáo mác của Mă Viện; từ “boong” chiến hạm hay nh́n nhắm dài theo ṇng những khẩu đại bác đen bóng của các thế lực thực dân; được “vẩy nước thánh” với những lời cầu nguyện trên những cây thập tự giá, hay, những tiếng “rao giảng” “thánh chiến,” “nghĩa vụ quốc tế” của những kẻ cuồng tín; hoặc, lanh lảnh tiếng reo ḥ, chiêng khua, trống gơ đệm nhịp cho các cánh tay giơ cao ngọn giáo, lưỡi mác của người bản xứ để tự ca ngợi sự oai hùng, vĩ đại của các chiến công “châu chấu đá voi.”

 

          Như tôi đă cười, im lặng, khi một cháu bé 10-12 tuổi, con bà bạn mới từ Việt Nam qua Mỹ định cư, chỉ vào h́nh b́a tập Hồ Chí Minh, 1892-1969 bảo tôi “Bác sai rồi, cụ Hồ sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 mới đúng!” Bị nhồi sọ từ nhỏ những “sự thực giả ngụy,” đệm nhịp bằng những bài đồng ca như “đêm qua em nằm mơ thấy ....,” phản ứng của cháu con bà bạn dễ hiểu thôi! Giận, trách mới thực là sai lầm. Tôi tin rằng mai này khi lớn khôn lên, được đọc sách sử thế giới, cháu sẽ mỉm cười nghĩ đến chuyện cũ.

 

          Như tôi đă cười, im lặng, khi thấy các tác giả tập Vàng Trong Lửa trong nước  cho rằng Nguyễn Thế Anh và tôi—qua tập Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành - “không hiểu nổi hành tŕnh t́m đường cứu nước” của cậu Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh sau này. Một câu phê b́nh thuần túy để phê b́nh, hay chỉ với mục đích giới thiệu tựa sách của Nguyễn Thế Anh và tôi?

 

Và, như tôi cũng đă chỉ im lặng, cười, chẳng bận tâm đối đáp với vài ba kẻ cóp nhặt các tư liệu tôi đă sưu khảo được sau hai thập niên làm việc tại các văn khố, chép vào sách họ, tự xưng đă tham khảo các tài liệu văn khố trên. Rồi “bí ẩn” rông càn về tục kị húy, cuộc đảo chính không đổ máu ngày 2/5/1933, cao giọng cung văn những thành phần trung gian bản xứ theo đạo Ki-tô, v.. v.. (Nhưng v́ là của giả, trộm cắp vặt, vẫn không che dấu nổi sự dốt nát). Lại c̣n cao giọng vu cáo tôi là “phịa” ra những tư liệu đă phá vỡ thứ kiến thức ao tù, ruộng cạn, và/hay đạp đổ loại niềm tin kiểu b́nh nước cạn, mặn chát tại các góc tối tăm của Nguyên Hồng trong Những nhân vật ấy đă sống với tôi.

 

[Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, trong tập II bộ Thực chất Giáo hội La Mă, đă có vài chương dành riêng cho hiện tượng “ziết sử” thế-giới-thứ-ba này].

 

          Tôi không có và không muốn phí  th́ giờ với loại mà Giáo sư Quang gọi là côn-đồ-văn- hóa, chẳng những thiếu kiến thức sử học, mà c̣n hàm hồ đầy tư tâm. Nhưng thái độ của tôi hẳn đă khác nếu lời cáo buộc trên do một người học sử chuyên nghiệp đưa ra. Tôi sẵn sàng tranh luận, trong nguyên tắclư lẽ tối thiểu của một cuộc tranh luận sử học: Muốn có một nhận định nào về tư liệu sử học, cần tŕnh bày rơ sự đúng/sai của tư liệu ấy, và trưng dẫn những bằng chứng khả tín cần thiết để tán đồng hay phản đối.

 

          Từ ngày ra hải ngoại, tôi chọn cho ḿnh ba bút hiệu. Tên thực, Vũ Ngự Chiêu, kư dưới các biên khảo sử học. Chính Đạo để viết những nghiên cứu nhẹ tính chất kỹ thuật hơn. Và, Nguyên Vũ, như một nối dài của nghề nghiệp sáng tác cũ, từ quê nhà. Các tác phẩm kư tên Nguyên Vũ thường là tư duy của tác giả về người, việc và vật phải gặp gỡ, chứng kiến, đầy tính cách cá nhân. Ba bút hiệu trên liên hệ với nhau, và chắc hẳn luôn luôn lấy sự thực làm đường đi, dù có dị biệt về phân loại của các tác phẩm. Những tác giả thận trọng thường phân biệt kỹ càng khi trích dẫn tác phẩm của tôi. Nhưng có người cố t́nh nối ba bút hiệu làm một, như “sử gia” Nguyên Vũ, cho mục tiêu nào đó.

 

Cũng nên thêm về hai chữ “sử gia” trong ngoặc kép trên. Theo tiêu chuẩn quốc tế, hoặc ít nữa ở Mỹ và Pháp, sử gia (historian) là người có bằng Tiến sĩ về ngành sử học rồi tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy ngành này. Nó là một học vị không thể tự xưng hay phong cho một ai đó theo ư thích riêng của ḿnh. Chẳng hiểu người viết hai chữ “sử gia” Nguyên Vũ có hàm ư ǵ? Tôi không có bằng Tiến sĩ Sử học chăng? Hay tôi không tiếp tục nghiên cứu và viết sử suốt 17 năm qua, sau ngày tốt nghiệp? Cách nào đi nữa, cũng chẳng đáng quan tâm. Tôi vẫn nghĩ danh chỉ là khách của thực, và thường muốn tự coi ḿnh như một người học sử. Tước vị sử gia hay những bằng cấp với tôi thật vô nghĩa, dù chúng là những tấm thông hành giúp tiến xa hơn trên hành tŕnh vào tri thức.

 

          Trở lại với những chi tiết viết về Petrus Key trong tập Paris: Xuân 1996. Do lỗi kỹ thuật, khi đánh máy (trang 70, ḍng 7) mất hàng chữ “thập niên 1920, chế độ Bảo hộ Pháp, và rồi,” nên chỉ c̣n “từ năm 1946, chính phủ Nam Kỳ Tự trị của Y sĩ Nguyễn Văn Thinh đă lấy tên Petrus Kư đặt tên trường trung học bản xứ lớn nhất Sài G̣n.” Giáo sư Trần Thượng Thủ, nguyên giáo chức trường Petrus Kư, ở Houston, và Y sĩ Trần Ngươn Phiêu từ miền Tây Bắc Texas đă nhắc tôi lỗi kỹ thuật này sau khi sách ra đời. Xin cảm tạ, và nhân đây xin độc giả đă mua sách sửa lại giúp.

 

Ngoài ra, trong sơ thảo Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, tôi đă sử dụng tài liệu của các nhà truyền giáo nên những đoạn nói về vụ án Hoàng tôn Đán không được nhất quán (tr. 52, 57). Khi nói về cuộc nổi dạy của “Lê Văn” Khôi tôi c̣n  ghi lại lỗi lầm của một số tác giả đi trước, rằng Khôi là “con nuôi của Lê Văn Duyệt” (tr. 81, chú 23). Tên thực của cố Trường, Th. Le Grand de la Liraye, đă viết không nhất quán (thiếu chữ “La”; tr. 169, ḍng 12, tr. 172, ḍng 16,21,24). Nay muốn mượn chương viết về Petrus Key, công bố rơ sai lầm của ḿnh. Mong độc giả đă có trong tay tập I Các vua cuối nhà Nguyễn (ấn bản 1999 mà chưa kịp có phần Đính chính) lượng t́nh sửa giúp [Xem đoạn dưới].

 

Đa tạ.

NDVN, ngày 18/8/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend