NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TÍN ĐỒ CA TÔ BẢN ĐỊA ĐƯỢC RÈN LUYỆN NHƯ THẾ NÀO?


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

 

 

 

 

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

 

Thị trường chứng khoán lại sụt giảm trước viễn cảnh u ám của kinh tế Hoa Kỳ

 

 

 

Hai ngày sau cuộc họp thượng đỉnh G20 ở Washington, các thị trường chứng khoán thế giới lại sụt giảm, nhất là sau khi ngân hàng Mỹ Citigroup loan báo sẽ cắt giảm 50 ngàn việc làm trong những tháng tới

 

    Thông tin này đă khiến thị trường Wall Street hôm qua sụt mất 2,63% điểm. Tại châu Âu, các thị trường tiếp tục xu hướng sụt giảm . Tính đến trưa hôm nay, Paris bị mất 1,57% điểm, Luân Đôn 1,50% và Francfort 1,39%.

 

    Tại châu Á, sau khi Nhật Bản hôm qua xác nhận là kinh tế đă đi vào suy thoái, thị trường Tokyo hôm nay sụt 2,28% vào giờ đóng cửa. Hồng Kông cũng bị mắt 4,54% điểm.

 

    Theo một nhà phân tích tài chính ở Nhật Bản, mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên các thị trường. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Washington vừa qua, các nước công nghiệp phát triển và các nước đang trổi dậy đă cam kết sẽ phối hợp các chính sách chấn hưng kinh tế và giám sát tốt hơn nền tài chính toàn cầu. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh này lại không đề ra những kế hoạch cụ thể nào, cũng như không lập ra một cơ chế để kiểm soát hoạt động của các thị trường

 

Thanh Phương, RFI, ngày 18/11/08

 

 

  

Kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc càng thêm u ám

 

T́nh h́nh kinh tế ngày càng trở nên tồi tệ tại châu Á. Thị trường chứng khoán Tokyo lại tụt giảm. Hai lĩnh vực ngân hàng và xe hơi của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn. C̣n tại Hàn Quốc, chưa bao giờ số doanh nghiệp bị phá sản lại đạt mức cao như vậy từ 3 năm qua

 

Hôm nay thị trường chứng khoán Tokyo đă đóng cửa với chỉ số Nikkei bị mất đi gần 60 điểm, nghĩa là tụt giảm 0,66%. Các nhà đầu tư tỏ ra dè dặt trước những khó khăn tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp xe hơi.

 

Như vậy là ngân hàng số một của Nhật Bản, Mitsubishi UFJ Financial Group, đă công bố những kết quả trong sáu tháng đầu năm nay c̣n tệ hại hơn là dự trù, mặc dù ngân hàng này đă quyết định tăng số vốn là 990 tỷ yen (tức 8 tỷ eurô). C̣n tập đoàn tài chính số 3 của Nhật, Sumitomo Mitsui financial Group, th́ tụt giảm gần 8% cho dù tập đoàn này cũng có ư định tăng nguồn vốn. Do vậy mà các nhà đầu tư càng tỏ ra bi quan cho cả lĩnh vực ngân hàng.

 

Về phần công nghiệp xe hơi, Toyota, tập đoàn xe hơi số một tại Nhật Bản, thông báo hôm nay là tất cả các nhà máy đặt tại Hoa Kỳ sẽ ngưng sản xuất xe hơi trong hai ngày 22 và 23 tháng 12. Lư do là v́ mức cầu đă sụt giảm trên thị trường Hoa Kỳ. Đầu tháng này Toyota đă cho biết là tính đến tháng mười số xe bán ra tại Mỹ đă giảm đi gần 26% trong một năm.

 

C̣n mức lời của công ty Nissan sẽ là con số không trong quư hai của năm nay v́ mức cầu giảm và v́ đồng yen c̣n quá mạnh. Ông Carlos Ghosn, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Renault và Nissan, đă tuyên bố với nhật báo Mỹ Wall Street Journal rằng năm 2009 sẽ là một trong những năm khó khăn nhất của tập đoàn này.

 

Trong lúc đó, tại Hàn Quốc, có 321 doanh nghiệp bị phá sản trong tháng mười, con số cao nhất từ tháng ba năm 2005. Trong tháng trước đă có 203 công ty bị phá sản tại Hàn Quốc.

 

Thanh Thủy, RFI, 19/11/08

 

 

 

 

 

 

 

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

 

Nguyễn Mạnh Quang

 

 

 

 

Trời sinh ra con người, đồng thời cũng phú cho con người một tấm ḷng lương thiện. Thầy Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện.” Nhưng khi lớn lên, con người phải bươn chải, bôn ba, lăn lộn trong việc mưu sinh, rồi sinh ra bon chen, đố kỵ, tị hiềm và ganh ghét lẫn nhau, rồi dùng đủ mọi mánh mung hay thủ đoạn bất chính, gian ác và hiểm độc để hạ giá những người khác (nhất là những người đồng nghề đồng nghiệp) với dă tâm "đè người khác xuống để nâng cao ḿnh" hầu thủ lợi. Nh́n thấy rơ những thói hư tật xấu này của người đời, các nhà hiền triết hay các bậc chính Nho đă cố gắng t́m ra một "phương cách giáo dục" giúp cho người đời giữ ǵn và phát huy cái “lương tính” trong thất t́nh của con người với mục đích làm cho mọi người biết hành xử theo quy luật “sao cho vừa mắt ta ra mắt người" (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân), biết "dĩ ḥa vi quư" và sống với nhau trong t́nh thương “tứ hải giai huynh đệ”. Nếu mọi người trong thiên hạ đều phát huy lương tính và đều cư xử với nhau như vậy cả, th́ loài người sẽ không c̣n gây ra những tội ác phát sinh từ ḷng tham lam ích kỷ và những ác tính đố kị, tị hiềm, hiếu thắng, hiếu chiến, hiếu sát, khát máu.  Được như vậy, nhiên hậu sẽ  không có chiến tranh, người người sẽ được an cư lạc nghiệp và đối xử với nhau như “anh em trong một gia đ́nh” như lời dạy trong Nho giáo.

Thế nhưng, đó chỉ là chủ trương các bậc đại hiền và cũng là chủ trương của các tôn giáo lớn như Phật Giáo, Khổng Giáo và Lăo giáo ở Đông Phương. Tiếc rằng, các hệ phái Thiên Chúa Giáo mà điển h́nh là Thiên Chúa Giáo La Mă lại không chủ trương như vậy.   

Những người thấu hiểu lịch sử thế giới đều khẳng định rằng đạo Thiên Chúa Giáo La Mă ở Tây Phương, tuy rằng tự phong là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền”, nhưng lại được xây dựng trên nền tảng của phỉnh gạt, lừa bịp và bạo lực. Nền tảng của tôn giáo này là hệ thống tín lư Ki-tô  đă có sẵn trong Thánh Kinh (cả Cựu Ước và Tân Ước) trong đó gồm những chuyện hoang đường cùng những chuyện loạn luân, dâm loạn, bạo ngược dă man, thêm vào những tín lư, giáo luật và tập tục cũng nặng tính cáng lừa bịp, chuyên chế và vơ vào  do chính Nhà Thờ Vatican bịa đặt ra với dă tâm tăng cường thủ đoạn và khả năng lừa bịp người đời để trục lợi.

Để  duy tŕ và phát triển cái công việc làm ăn bất chính này và cũng là để dễ dàng phỉnh gạt và lừa bịp người đời, Vatican chủ trương dùng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để ḱm hăm tín đồ và người dân dưới quyền măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt khiến cho họ không c̣n khả năng sử dụng lư trí để nh́n ra những mánh mung hay thủ đoạn bất chính và dă man trên đây của Giáo Hội.

Muốn thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ th́ phải có quyền lực chính trị. Do đó Giáo Hội lại tính đến việc phải thâu tóm quyền lực chính trị và trong tay. Đây là nguyên nhân TẠI SAO Nhà Thờ Vatican lại đưa ra chủ trương “Tôn giáo (Giáo Hội La Mă) chỉ đạo chính quyền”, nghĩa là tôn giáo phải đứng trên chính quyền và ra lệnh cho chính quyền phải triệt để  thi hành những chính sách và lệnh truyền của tôn giáo.   (Cái chủ trương này đă được Nhà Thờ Vatican tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 đúc kết thành câu vè “Nhất Chúa, nh́ cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” (chính quyền tay sai của Nhà Thờ Vatican.)

Cũng v́ thế mà từ khi thời kỳ Cách Mạng Dân Chủ (Demarcatic Revolutions) ra đời (1603-1815) cho đến ngày nay, tại Âu Châu cũng như ở Mỹ Châu và các nơi khác trên thế giới, bất kỳ quốc gia nào thoát được ra khỏi ách thống trị của Nhà Thờ Vatican cũng đều đă ghi vào trong hiến pháp của họ điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”, cương quyết giành lấy quyền làm chính sách giáo dục để thi hành chính sách giáo dục tự do, khai phóng và đại chúng, để cho các nhà sư phạm được tự do giảng dạy,  khai tâm học sinh, được tự do nói lên những sự thật lịch sử về tính cách hoang đường và bịp bợm trong những tín lư Ki-tô  cũng như về những rặng núi của đủ mọi thứ tội ác của Giáo Hôi La Mă trong suốt chiều dài lịch sử từ khi Giáo Hội ra đời vào giữa thập niên 310.

Lúc c̣n là sinh viên đại học sư phạm ở Sài g̣n trước đây, người viết đă kinh nghiệm chính sách giáo dục ở miền Nam.  Trong thời gian được du học 3 năm ở Hoa kỳ, người viết lại có cơ hội t́m hiểu chính sách giáo dục tự do, khai phóng và đại chúng ở Bắc Mỹ, nhờ đó nh́n ra những sai lầm có chủ ư trong chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ ở miền Nam (dưới ảnh hưởng của Giáo Hội La Mă.)   Chương sách này chủ ư tŕnh bày sơ lược về chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ được thi hành tại các quốc gia nằm dưới ách thống trị  của Nhà Thờ Vatican ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

⊙⊙⊙

A.- TỔNG QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC TỰ DO VÀ KHAI PHÓNG

Ngày nay các nước văn minh thoát khỏi bàn tay của Giáo Hội La Mă đều có chủ trương thi hành chính sách giáo dục tự do khai phóng. Đây  là chính sách giáo dục trong đó chương tŕnh học không bị giới hạn bởi những điều cấm kỵ do tôn giáo đặt ra.  Đồng thời, phương cách giáo dục phải được cải tiến để làm cho học sinh được tự do nêu lên những thắc mắc và góp ư tích cực với thày giáo trong lúc học hỏi các bài học ở trong lớp.

Các ông thày dạy học phải được tự do giảng dạy và phải có nhiệm vụ khai tâm học sinh, làm cho các em  biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật, phát triển nhân tính và ư thức được trách nhiệm của ḿnh đối với mọi người xung quanh và đối với cộng đồng quốc gia dân tộc.

Quan trọng nhất là việc cổ động học sinh đọc thêm sách vỡ ngoài sách giáo khoa về mỗi đề tài của chương tŕnh. Muốn thực hiện việc này có hiệu quả, nhà trường cần phải thêm vào trong chương tŕnh giáo dục cho học sinh làm "tóm lược sách" (book report). Trong thời gian 23 năm dạy trung học ở tiểu bang Washington, người viết nhận thấy đây là một dụng cụ khai trí hữu hiệu nhất mà người viết nh́n thấy ở các học đường trên đất Hoa kỳ.

 

1.- Người làm nghề dạy học

Người làm nghề dạy học: Phần tŕnh bày ở trên cho chúng ta thấy rằng người làm nghề dạy học trong chính sách giáo dục tự do khai phóng không phải chỉ làm có công việc “truyền đạt chữ nghĩa, truyền đạt kiến thức và rèn luyện đức hạnh”, mà c̣n phải “KHAI TÂM” cho các môn sinh, và “mở mang trí tuệ cho môn sinh, lấy chân tâm mà hướng dẫn môn sinh về phương cách vận dụng trí óc vào việc lư luận, phân tách và t́m hiểu sự vật."

Viết đến đây, người viết nhớ đến lời nói của một tư tưởng gia Hoa Kỳ đăng trong tờ Daily Bulletin ngày 4 tháng 3 năm 1997 của trường Trung Học Stadium (Tacoma School District) nói về mục đích của giáo dục như sau: 

“Mục đích của giáo dục là biến tâm hồn con người thành một tâm hồn linh động truyền đạt, chứ không phải là một tâm hồn tù hăm trong một phạm trù hạn hẹp.” (The goal of education should be to turn the mind into a living fountain, not a holding pond.)

Những người chủ trương áp dụng chính sách giáo dục đúng nghĩa của giáo dục là những người lương thiện, mong muốn những ông thày phải đem hết ḷng chân thành vào việc giải thích sự thật của sự việc và sự vật, chẳng hạn như là:

- Những cái tốt cái hay và vẻ đẹp của một hệ thống tư tưởng hay của một khám phá mới về khoa học của bất kỳ cá nhân hay môn phái nào bất kể từ đâu tới.

- Những sai lầm của một hoặc nhiều tín lư, của một niềm tin (cũng gọi là đức tin), của bản chất của một việc làm bất chính.

- Những tác hại của những sai lầm về những tín lư, về những việc làm bất chánh của một thế lực nhân danh là tôn giáo hay bất kỳ một chủ thuyết nào.

2.- Chính sách giáo dục tự do và  khai phóng đối chọi với chính sách ngu dân của Vatican.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, ở đâu có chính quyền cho thi hành chính sách giáo dục tự do và  khai phóng,  th́ ở đó các mầm tư tưởng học thuật và kiến thức khoa học sẽ đâm chồi nẩy lộc vươn lên thành những cây trái, hoa lá xanh tươi, căng đầy nhựa sống, rồi trổ bông đơm trái đem lại nguồn sống vui tươi an lạc cho đời. 

Bằng chứng là ở Âu Châu, phải đợi đến thời kỳ phong trào nhân dân Âu Châu vùng lên chống lại Giáo Hội La Mă và đ̣i cải cách tôn giáo (1309-1648) với chủ thuyết nhân bản ra đời  (vào đầu thế kỷ 14) đưa đến Thời Đại Lư Trí - Age of Reason (1687-1789) cùng với Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ - The Age of Democratic Revolution (1603-1815), các nhà tư tưởng và khoa học gia như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), Victor Hugo (1802-1885), Charles Robert Darwin (1809-1882), v.v… mới có thể được tự do đưa ra  những tư tưởng cao đẹp, công bố phát minh khoa học, nhiên hậu mới làm cho loài người càng ngày càng tiến mạnh như ngày nay.  

Trái lại, Giáo Hội La Mă mang căn bệnh tự tôn, tự măn, nhận vơ là đại diện duy nhất của Thượng đế ở trên cơi trần gian này, nhận vơ là chủ nhân ông của trái đất, khinh rẻ loài người như bày thú vật và chủ trương dùng chính sách ngu dân để biến con người thành những hạng người súc sinh với dă tâm bơi ngược ḍng lịch sử trong mưu đồ sống lại cái thời bán khai của thời Moses và ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm trở về trước. Nói về căn bệnh tư tôn tự măn của Giáo Hội La Mă, trong bài viết  “Galileo: Four centuries ago this year, he put us in our place” đăng trên tờ The News Tribune [Tacoma, Washingon]  ngày 1 tháng 3 năm 2009, tác giả  Jeffrey Bennett viết như sau: 

“Nếu chúng ta tiếp tục hành động giống như là chúng ta là trung tâm của vũ trụ, th́ chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả của sự ngu dốt. Nếu chúng ta  phát triển một viễn cảnh thực sự của vũ trụ và đặt nền văn minh của chúng ta vào đúng chiều hướng của nó để tiến đến một tương lại tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người, một tương lai mà một ngày nào đó có thể đưa con cháu chúng ta đến các hành tính khác.”  Nguyên văn: (“We continue to act as though we are the center of the universe, but in that case we will suffer the consequences  of our ignorance. Or we can develop a true cosmic perspective and set our civilization on a course to a better future for all, a future that someday will take our descendants to the stars.” Jeffrey Bennett. “Galileo: Four centuries ago this year, he put us in pour place.”[1]

 

B.- CHÍNH SÁCH NGU DÂN VÀ GIÁO DỤC NHỒI SỌ CỦA VATICAN

Giáo Hội La Mă tự coi là trung tâm của vũ trụ, tự xưng là đại diện duy nhất của Thượng đế ở trên trái đất này, tự phong là  “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền”, và thường lớn tiếng tuyên bố rằng “Ngoài Giáo Hội không có cứu rỗi” (Hors de l’ Église, point de salut). Như vậy, muốn “được cứu rỗi”, th́ phải là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội. Dĩ nhiên, một khi đă thành tín đồ Ca-tô của Giáo Hội, tất nhiên là sẽ được Giáo Hội rèn luyện làm sao để cho họ chỉ có thể hành xử theo như ư muốn của Giáo Hội. Để đạt được mục đích này,  Giáo Hội luôn lớn tiếng đ̣i hỏi phải có một nền giáo dục để rèn luyện tín đồ theo tinh thần Công Giáo. Sự kiện này được sách Tôn Giáo và Dân Tộc ghi nhận rơ ràng như sau:

Giáo Hội cần có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền bá giáo lư mà c̣n để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo.”[2] 

Đào tạo thanh thiếu niên  “theo tinh thần Công Giáo”  tức là dạy dỗ, uốn nắn các em sao có thể “sống theo đức tin Ki-tô” và “sống theo lương tâm Công Giáo” (tức có khác với lương tâm người thường). Giáo dân phải triệt để tuân hành những lời dạy của nhà thờ. Những lời đạo đức suông của nhà thờ không bảo đảm được giá trị của nó. Từ nền tảng "kinh thánh" cho đến các chức sắc đại diện của nhà thờ, từ cổ chí kim đều có quá nhiều điều bất thiện, làm gương xấu xa và ghê tởm, có tư cách ǵ và làm sao dạy kẻ khác hiền lương?

1.- NHỮNG LỜI  DẠY VÀ NHỮNG TẤM GƯƠNG LỌAN LUÂN VÀ PHI LUÂN TRONG THÁNH KINH

Thánh kinh gồm có Cựu Ước và Tân Uớc.  Cựu Ước gồm có 39 cuốn và Tân Ước có 27 cuốn. Thường th́ các nhà xuất bản gom tất cả các sách trong Cựu và trong Tân Ước thành một cuốn. Hiện người viết có trong tay hai bản bằng tiếng Anh là (1) The New American Biblbe (Nashville, Tennessee: Thomas Nelson Publishers, 1987), và (2) Holy Bible (New York: American Bible Society, 1982), và một bản tiếng Việt là cuốn Kinh Thánh - Cựu Ước và Tân Ước (Không ghi thành phố xuất bản, do United Bible Societies xuất bản vào năm 1983). 

Hầu hết những câu chuyện và những lời răn dạy ghi trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước đều là những chuyện hoang đường láo khoét hàm chứa những đặc tính nói láo, huênh hoang khoác lác nhằm để  khoe khoang và dương danh quyền năng vô biên của ông Chúa Bố mà người Do Thái gọi là Jehovah và ông Chúa Con là Jesus.

Ngoài ra lại c̣n có những câu chuyện loạn luân, phản nhân luân, cực kỳ bất nhân và những lời răn dạy vô cùng bạo ngược và hết sức man rợ. Tất cả đều không những không thích hợp với các dân tộc có văn hiến mà c̣n tác hại cho việc ổn định trật tự trong xă hội loài người. Không phải chỉ có một vài chuyện xấu xa, độc ác và láo khoét trong Thánh Kinh mà  là có cà hàng ngàn những chuyện như vậy; nếu muốn nói cho hết, th́ phải dùng đến cả hàng ngàn trang giấy cũng chưa đủ. Chúng tôi chỉ có thể ghi lại đây một số những câu chuyện hay những đoạn văn có những nội dung như đă nói ở trên để quư vị đọc và kiểm nghiệm hầu nh́n ra con chiên của Giáo Hội La Mă được rèn luyện theo tinh thần Thánh Kinh như thế nào. 

a.- Những lời dạy man rợ trong Thánh Kinh:

Những lời dạy man rợ này đều nằm trong các  sách trong Cựu Ước và Tân Ước, gọi chung là  thánh kinh. Hầu hết những câu chuyện hay lời răn dạy  này đều mang nặng tính cách phi nhân bản, loạn luân, phản nhân luân và cực kỳ tàn ngược. Điển h́nh là những chuyện viết trong sách Leviticus (26: 14-18) và các chương trong các sách khác như Deteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5,31:1-54), Leviticus 24:19-20, 26: 1-43), Phục Luật (6:14, 7:1, 2 và 16, 12: 2-3, 13:6-9. 18: 4 và 20, 20:14-16, 22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12, 20 11, 22: 20), Matthew (10: 34-37), Luke (19:27), v.v...

Trên đây chỉ là một số trong hàng rừng những lời răn dạy ác độc cực kỳ man rợ. Tất cả những răn dạy đều tương tự như thế cả. Chẳng hạn như lời răn dạy (26:17) trong sách Leviticus có nguyên văn như sau:

 ”I will set My face against you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you, and you shall flee when no one pursue you”. ("Ta sẽ nh́n thẳng vào mặt các ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi. " ( Leviticus (26:17)

Hăy mang kẻ thù của ta ra đây, những người không muốn ta ngự trị họ và giết chúng ngay trước mặt ta.” (But bring here those enemies of mine, who dit not want me to reign over them, and slay them before me.” - Luke: 19:27). 

b.- Những chuyện loạn luân và phản nhân luân trong Thánh Kinh:

Không biết trong Thánh Kinh có bao nhiêu chuyện loạn luân và phản nhân luân. Người viết chi xin kể ra đây hai chuyện loạn luân trong Cựu Ước và một chuyên phi luân trong Tân Ước.

1).- Những chuyện lọan luân: 

"1.- Adam ăn ở với Eva, là vợ ḿnh; người thọ thai sinh ra Cain và nói rằng: Nhờ Đức Jehovah giúp đỡ, tôi mới sinh được một người . 2.- Eva lại sinh ra em  Cain Abel; Abel làm nghề chăn chiên, c̣n Cain th́ làm nghề ruộng.... 17.- Đọan, Cain ăn ở cùng vợ ḿnh; nàng thọ thai và sinh được Enoch,..."   (Sáng Thế Kư 4:1, 2 và 17)

Hai câu đầu của câu chuyện trên có thể gạt được người, nhưng đến câu "Cain ăn ở cùng vợ ḿnh" th́ ai cũng phải ngẩn ngơ. Theo chuyện đang dẫn, th́ lúc đó xă hội loài người chỉ có  hai vợ chồng Adam - Eva và hai thằng con trai là Cain và Abel,  tức là toàn bộ cộng đồng nhân lọai lúc bấy giờ chỉ có một người đàn bà  là bà Eva, và ba người đàn ông là Adam, Cain và Abel. Rồi  thằng Cain cưới vợ... Vậy th́ cô gái hay người đàn bà nào là vợ thằng Cain? Chẳng lẽ nó cưới mẹ nó là bà Eva hay sao?

Sự kiện này chứng tỏ tác giả viết Thánh Kinh là người ít học và thiếu thông minh, cho nên mới rơi vào t́nh trạng  "phi lư"  như vậy.  Nhà Thờ Vatican thường nói rằng, Chúa mặc khải cho tác giả viết thánh kinh. Nêu đúng như thế th́, ông Chúa của đạo Ki-tô thuộc lọai siêu ngu dốt!

- Chuyện  hai cô con gái luân phiên làm tinh với người cha ruột. Chuyện này cũng được ghi rơ trong sách Sáng Thế Kư (19:30-38) với nguyên văn như sau:

"30.- Lot ở Xoa th́ sợ hăi, nên cùng hai con gái ḿnh bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia. 31.- Cô lớn nói cùng em rằng: Cha ta đă già, mà không c̣n ai trên đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ. 32.- Hê! chúng ta hăy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền ḍng giống cha lại. 33.- Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha ḿnh; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 34.- Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy đêm hôm qua  ta đă nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hăy phục rượu cho cha nữa, rồi em hăy lại nằm cùng người, để lưu truyền ḍng-giống cha lại. 35.- Đêm đó hai nàng lại phục rượu cho cha ḿnh, rồi nàng nhỏ lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 36.- Vậy, hai con gái của Lot do nơi của ḿnh mà thọ thai, 37.- Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ dân Mô-áp đến bây giờ. 38.- Người em cũng sanh đặng một trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ." (Sáng Thế Kư: 19:30-38)

2).- Chuyện phản nhân luân được sách Matthew (10: 34-37) nói rơ như sau: 

Ta đến đây không phải mang lại sự b́nh an, mà là mang gươm dáo. Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau. Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta th́ không đáng ǵ đối với Ta, và kẻ nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng ǵ đối với Ta. ” ["Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword.” “For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daugher-in-law against her mother-in–law.” “And a man’ s foes will be those of his own household.” “He who loves father or mother more than Me is not worthy of Me. And he who loves son or daughter more than Me is not worthy of Me.” Matthew (10: 34-37).]

Ghi nhận: Thánh kinh dạy rằng: “Thiên Chúa tạo nên con người giống Thiên Chúa”. Thiên Chúa bạo ngược, loạn luân, phi luân và dă man như vây. Tất nhiên Giáo Hội La Mă, Nhà Thờ Vatican và tín hữu Ki-tô hay con chiên cũng phải bạo ngược, lọan luân, phi luân và dă man giống như Thiên Chúa. Sự thực như thế nào, lịch sử và thực tế đă cho chúng ta thấy rơ.

c.- Đời sống phóng đăng loạn luân và phi luân của các giáo hoàng.-  Xin xem lại Mục III trong Chương 7 ở trên.

 

2.- PHƯƠNG CÁCH ĐÀO TẠO THANH THIẾU NIÊN SỐNG THEO “TINH THẦN CÔNG GIÁO” 

Để có thể rèn luyện giáo dân sống theo tinh thần thánh kinh và sống theo lời dạy của Vatican, Giáo Hội sử dụng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi  với chủ trương làm cho giáo dân và nhân dân dưới quyền trở thành ngu đi khiến cho họ không c̣n khả năng sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật. Muốn làm được như vậy, Giáo Hội phải thi hành các biện pháp:- Coi nhẹ môn Sử Đia và Công Dân - Làm dân không rành quốc sử, sử thế giới, và lịch sử Giáo Hội La Mă - Phương pháp sư phạm độc thoại - Không dạy phân biệt giữa ư kiến và sự kiện - Không dạy điểm sách (book report), viết khảo luận, biên soạn - Dạy những tín lư nhảm nhí phản khoa học.

 

Coi nhẹ vấn đề đào tạo giáo viên dạy môn Sử Đia và Công Dân:

 

Bất kỳ chế độ đạo phiệt Ki-tô nào cũng có chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ.  Nói chung các chế độ này đào tạo giáo chức hay cán bộ giáo dục hoàn toàn khác với chủ trương đào tạo giáo chức tại các nước theo chính sách giáo dục tự do, khai phóng và đại chúng. Tại các quốc gia bị áp đặt phải sống trong chế độ giáo hoàng (papacy) tức đạo phiệt Ca-tô, những tín lư Ki-tô, những giáo luật và những lời dạy của Giáo Hội La Mă là  quan trọng hơn cả và được coi như là những hạt giống tư tưởng được triệt để  gieo rắc vào đầu óc non nớt của cac em học sinh; vai tṛ của người thợ gieo những hạt giống này phải được trao cho các ông tu sĩ hay giáo sĩ Ca-tô. V́ thế mà những bài học trong môn Sử Địa và Công Dân không được coi là những hạt giống tư tưởng gieo rắc vào đầu óc các em học sinh. Do đó môn học này bị coi như là vô cùng bất lợi cho những hạt giống tư tưởng Ki-tô giáo. Vi vậy mà việc đào tạo các giáo viên  phụ trách môn Sử Địa và Công Dân tại các trường Đại Học trở nên không cần thiết. Đây là quy luật đă được lịch sử khẳng định. Chế độ đạo phiệt Ca-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 cũng không đi ra ngoài quy luật này.

V́  có chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như vậy,  cho nên việc đào tạo giáo chức cho các trường tiểu học và trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 bị coi nhẹ. Dưới đây là phần tŕnh bày về t́nh trạng đào tạo giáo chức phụ trách về môn Sử Địa và Công Dân của các chính quyền miền Nam trong thời kỳ này.

 

T́nh trạng giáo chức dạy Sử Địa và Công Dân

trong chính quyền Miền Nam.

Chuyện hơi dài ḍng, nhưng cần phải nói cho tường tận để mọi người có thể nh́n thấy ư đồ xấu của Nhà Thờ Vatican và chính quyền miền Nam đối với môn Sử Địa và Công Dân, và nh́n thấy rơ là họ có chủ tâm trong việc triệt để không cung cấp tài liệu giáo khoa và tài liệu tham khảo cho sinh viên ban sử ở  trong lớp học. Riêng về tài liệu về lịch sử thế giới  th́ lại bị chính quyền cấm lưu hành ở ng̣ai thị trường. Lọai tài liệu này cũng không thấy có trong các thư viện. Đây là kinh bản thân của người viết khi c̣n theo học Ban Sử Địa  Khóa 4 (1961-1964) tại Trường Đại Học Sư Phạm Sàigon.

Cũng nên biết là cho đến năm 1965, tại miền Nam Việt Nam, chỉ  có ba trường đại học:

1.- Đại Học  Sàig̣n. Đây là một trong hai trường đại học công lập tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1965.  Trường được thiết lập và tổ chức theo mô h́nh của trường Đại Học Hà Nội của thời 1917-1954. Cũng v́ thế mà trường này thường đuợc coi như là Trường Đại Học Hà Nội chuyển vào Sàig̣n vào cuối năm 1954.

2.- Đại Học Huế: Trường đại học cũng là trường  công lập thành lập vào năm 1958. Tuy là trường đại học công lập, nhưng viện trưởng là Linh-mục Cao Văn Luận, cán bộ văn hóa đắc lực của Nhà Thờ Vatican. Điểm đặc là ông Llinh mục Luận chỉ có bằng cử nhân triết học, nhưng vẫn được bổ nhậm làm viện trường viện đại học này.

3.- Đai Học Đà Lạt: Trường đại học này là một đại học tư của Nhà Thờ Vatican. V́ là một trường đại học tư của Nhà Thờ Vatican, cho nên tất cả viện trưởng, nhân viên ban giảng huấn và tất cả nhân viên trong trưởng đều do Nhà Thờ Vatican tuyển chọn và bổ nhậm,  các môn học trong các phân khoa cũng đều do Nhà Thờ Vatican quyết định cả. Ở đây, không có cố vấn giáo dục người Mỹ trực tiếp hay gián tiếp hướng dẫn (chỉ đạo) trong bất cứ vấn đề ǵ của nhà trường.

Sự kiện này hoàn toàn khác với trường Đại Học Sàig̣n. Lư do: Tiền trả lương cho giáo, phát triền trương ốc, mua sắm các đồ thiết bị cho nhà trường, tất cả  đều do tiền viện trợ Mỹ đài thọ. Theo quy luật ai chi tiên th́ người đó năm quyền chỉ huy. Do đó, việc người Mỹ nắm quyền chỉ đạo hay hướng dẫn trong việc làm chính sách và điều hành trong các phân khoa đại học của Đại Học Sàig̣n là điều không thể tránh được.

Đại học Đà Lạt tuy là một trường đại học tư của Nhà Thờ Vatican, những tất cả đất đai trong khuôn viên đại học này là của quốc gia Việt Nam và tất cả các vật liệu xấy cất, tiền thuê mướn chuyên viên, lao công xây cất và tất cả mọi tốn phí đều do chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cướp đoạt tài nguyên quốc gia và bóc lột nhân dân để cung cấp. Một trong những bằng chứng này là việc Giám-mục Ngô Đ́nh Thục độc quyền khai thác gỗ rừng trong tỉnh Long Khánh suốt từ năm 1955 cho đến ngày ông đi khỏi nước vào ngày 7 tháng 9 năm 1963 để lấy tiền tạo dựng trường đại học này và cung ứng cho các cơ sở khác của Vatican và bỏ túi riêng của ông ta. 

Cả ba Đại Học này đều có mở Phân Khoa Sư Phạm. Thế nhưng chỉ có Phân Khoa Sư Phạm Sàig̣n và Phân Khoa Sư Phạm Huế là có Ban Sử Địa. C̣n Đại Học Đà Lạt không có  ban này.

Phân Khoa Sư Phạm của Trường Đại Học Sàig̣n được cải tổ vào năm 1958 được coi như là lớn hơn Phân Khoa Sư Phạm Huế. Riêng Phân Khoa Sư Phạm Sàig̣n thường được gọi là Trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n, mối năm đều có mở các ban Tóan, Lư Hóa, Vạn Vật, Anh Văn, Pháp Văn, Việt Hán cà Sử Địa. Mỗi năm Ban Sử Địa chỉ lấy có 40 tuyển sinh. Các ban Việt Hán, Lư Hóa, Tóan cũng vậy. Riêng ban Vạn Vật, ban Pháp Văn và Anh Văn chỉ có 30 tuyển sinh mỗi năm.

 Những tuyển sinh nhập học từ năm 1958 cho đến năm 1961 theo học chương tŕnh là 3 năm và mỗi tháng được cấp học bổng là 1.500 đồng. Những tuyển sinh nhập học từ năm 1962 trở về sau phải theo học chương tŕnh 4 năm và tiền học bổng bị giảm xuống c̣n có 1.000 đồng.

Tại Đại Học Sư Phạm Sàig̣n, không biết từ năm 1960 trở về trước, có bao nhiêu thí sinh   dự thi để hy vọng được lọt vào con số 40  thí sinh trúng tuyển. Vào năm 1961 là năm người viết được trúng tuyển, ước lượng con số thí sinh dự thi vào khoảng 1.200 trở lên. Nghe nói, con số thí sinh dự thi từ năm 1962  trở về sau c̣n nhiều hơn, nhưng con số sinh viên tuyển chọn vẫn giữ nguyên là 40 cho mỗi năm.

Không biết các ban khác (Việt Hán, Anh Văn, Pháp Văn, Toán, Lư – Hóa và Vạn Vật), giáo sư giảng day như thế nào? Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo ra làm sao? 

Người viết  không biết các khóa đàn anh và các khóa đàn em của người viết như thế nào. Riêng về Khóa 4 (1961-1964) của người viết,  vấn đề sách giáo khoa và tài liệu sử học thật sự là ở trong t́nh trạng vô cùng bi đát. Xin kể ra đây t́nh trạng bi đát này của Khóa 4 chúng tôi:

Toàn lớp, suốt trong ba niên học, có khoảng trên dưới 15 giáo sư giảng dạy, trong đó có một phần ba là người Pháp.

Khó khăn 1: Học ban sử mà chúng tôi không có một nguồn tài liệu nào cả. Nhà trường và các giáo sư cũng không có sách giáo khoa để phân phát hay bán cho chúng tôi như ở bên trường Luật Sàig̣n hay ở các đại học Hoa Kỳ và Canada. Tất cả chỉ trông cậy vào những lời giảng dạy của giáo sư ở trong lớp.

Khó khăn 2: Một số các giáo sư khi giảng bài hoặc là chỉ nh́n lên trần như thày Trương Bửu Lâm, hoặc là chỉ cúi mặt nh́n vào tài liệu hay sách đọc (như Giáo-sư Nguyễn Khắc Kham và Giáo-sư Nguyễn Ngọc Cư) và nói thao thao bất tuyệt mà không ngó ngàng đến sinh viên xem họ có hiểu bài hay ghi được những lời giảng dạy hay không.

Các giáo sư người Pháp giảng dạy tương đối chậm răi. Thế nhưng, dù là chậm răi đến đâu đi nữa th́ hơn 90% sinh viên trong lớp cũng chẳng hiểu ǵ cả, nói chi đến chuyện “ghi bài”.

Mối âu lo: Mối âu lo này là khó khăn 1 và 2 gây ra. Không có sách giáo khoa, không có tài liệu, không ghi được lời giảng của giáo sư, anh em chúng tôi lấy đâu ra tài liệu để học và thi? Cũng v́ thế, đă có một số anh em ở lớp trước đă bị rớt ở lại, hiện đang ngồi học chung với chúng tôi.

Về môn lịch sử Việt, chúng tôi có thể ghi bài của Giáo-sư Cư, đọc thêm mấy cuốn sách của nhà viết sử Phạm Văn Sơn và bộ Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim. Nhưng c̣n các môn sử Trung Cổ Âu Châu  do các Giáo-sư Bourrier phụ trách và Sử Nhật Bản do Giáo-sư Flamant phụ trách, môn Địa lư Nhân Văn do Giáo-sư Teuĺere đảm nhiệm, và môn Khí Hậu Học do Giáo-sư Recoussier dạy, chúng tôi không biết t́m tài liệu ở đâu ra. Trong thư viện của Trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n cũng như thư viện lớn ở Sàigon, không có một cuốn lịch sử thế giới nào và cũng không có những tài liệu liên hệ đến các môn hoc của các giáo sư người Pháp dạy chúng tôi.

Chúng tôi biết trước đó có bộ Lịch Sử Thế Giới do hai tác giả Nguyền Hiến Lê và Thiên Giang đồng sọan. Nhưng bộ sách này đă bị chính quyền Ngô Đ́nh Diệm tịch thu và cấm, không cho lưu hành từ cuối niên học 1956-1957 với lư do là trong bộ sách đó có nói đến thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882) và nói đến đời sống bê bối thối tha của các giáo hoàng trong thời Trung Cổ. Chuyện này được chính tác giả kể lại trong cuốn Đời Viết Văn Của Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1986) [3]

Hành động tịch thu và cấm, không cho lưu hành bộ sách Lịch Sử Thế Giới của hai ông Nguyễn Hiến Lê Thiên Giang là bằng chứng bất khả phủ bác  nói lê sự thật về việc Nhà Thờ Vatican chủ động trong việc khống chế và kiểm soát chặt chẻ các tài liệu lịch sử ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Một bằng chứng khác nữa là đầu thập niên 1970, thế lực của Nhà Thờ Vatican đ̣i mua hết cuốn "Đảng Cần Lao" của tác giả "Chu Bằng Lĩnh" (Mặc Thu) được nhà xuất bản Đồng Nai in và phát hành vào năm 1971. Nếu không chấp nhận th́ họ đe dọa sẽ thủ tiêu tác giả. Chuyện này được tác giả được ghi lại rơ ràng trong Lời Nói Đầu trong cuốn sách này với nguyên văn như sau:

"Theo thân hữu của nhà văn Mặc Thu cho biết, khi tác phẩm in xong, có một người đến gặp tác giả ra điều kiện mua hết số sách đă in với giá 1 triệu đồng bạc Việt Nam và không được in tiếp. Nếu không chấp nhận, họ đe dọa sẽ thủ tiêu tác giả. Sau đó, tác giả t́m hiểu th́ được biết số tiền 1 triệu đồng là của ông Trương Vĩnh Lễ, cựu chủ tịch quốc hội bỏ ra, và  người thi hành là của ông Cao Xuân Vỹ. Do đó, tác phẩm Đảng Cần Lao không đến tay quí vị độc giả là do áp lực kể trên. Nhưng may mắn trước đó tác giả đă tiên đóan là sẽ có chuyện xảy ta, nên đă cất giấu được một số đem tặng thân hữu và đưa vào ṭa đại sứ Mỹ được vài quyển." [Chu Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1993), tr. I.] 

V́ t́nh trạng nguy ngập như vậy, cho nên toàn thể anh em trong lớp đều đồng ư đưa tôi lên làm trưởng lớp để t́m cách giải quyết v́cho rằng tôi lớn tuổi hơn, đă từng là quân nhân và công chức, tính t́nh thật thà, mau mắn, luôn luôn có thái độ nghiêm túc và chững chạc. Thực ra, mối âu lo này cũng là mối lo rất lớn đối với tôi. V́ thế mà tôi sốt sắng nhận lời làm trưởng lớp. Tôi nói với anh em: “Tất cả cho việc học. Muốn vượt qua những khó khăn trên đây, chúng ta cần phải thành lập hai tiểu ban ghi bài: Một ban ghi bài tiếng Pháp và một ban ghi bài tiếng Việt.” 

Về vấn đề ghi bài tiếng Pháp, toàn lớp chỉ có một ḿnh anh Bùi Văn Thuật là có thể ghi được trọn vẹn và anh Thuật nhận lănh việc này. Về vấn đề ghi bài tiếng Việt, anh em đều đồng ư giới hạn chỉ ghi bài học của các Giáo-sư Nguyễn Ngọc Cư, Nguyễn Khắc Kham, Trương Bửu Lâm, c̣n các bài giảng của các giáo sư khác, anh em phải tự lo lấy.

Trong thực tế, chính quyền không những coi nhẹ việc đào tạo giáo viên dạy môn Sử Địa và Công Dân, mà c̣n t́m đủ mọi cách ngăn chặn, không cho lưu hành các nguồn tài liệu sử (đặc biệt là các tài liệu lịch sử thế giới) cả ở ng̣ai thị trường và trong các thư viện với dă tâm là để cho sinh viên không có tài liệu sử để tham khảo.

Hành động cố ư không cung cấp sách giáo khoa và các tài liệu sử cho Ban Sử Địa cùng với hành động không cho lưu hành bộ Lịch Sử Thế Giới do hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Thanh Giang biên soạn, và việc  trong  thư viện của Trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n cũng như Thư Viện Sàig̣n không có một bộ lịch sử thế giới nào, tất cả là những bằng chứng bất khả phủ bác cho ư đồ bất chính trên đây của chính quyền miền Nam (với bàn tay của Nhà Thờ Vatican ở hậu trường) tạo nên t́nh trạng này.

Hậu quả của nạn thiếu tài liệu giáo khoa:

Trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n là trường đào tạo giáo viên lớn nhất của Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 mà  phương cách đào tạo giáo viên dạy môn Sử Địa và Công Dân lại  tắc trách, vô trách nhiệm trong cung cách giảng dạy (không cần ngó tới sinh viên, và không cần biết sinh viên có hiểu bài không, không cần biết sinh viên có ghi bài được không), cố t́nh không phân phát tài liệu giáo khoa và cũng không phân phát tài liệu giảng dạy cho sinh viên, th́ những sinh viên tốt nghiệp làm sao có đủ kiến thức chuyên môn về lịch sử để  làm nhiệm vụ của một giáo đảm trách dạy môn sử ở các trường trung học?

Trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n lớn nhất ở miền Nam Việt Nam mà c̣n ở trong t́onh trạng khốn đốn như vậy, tất nhiên là các trương Đại Học Sư Phạm Huế, Đại Sư Phạm Đà Lạt và  Đại Học Cần Thơ  (mới họat động từ năm 1965) làm sao khá hơn được?

Với t́nh trạng đạo tạo giáo chức môn Sử Địa và Công Dân như vậy, tất nhiên là phẩm chất của các giáo viên công lập tại các bậc trung học Cấp II và Cấp III làm sao khá được? Trong thực tế, họ  chỉ là những người học thuộc ḷng những bài học trong các sách giáo khoa (do các ông học nô Ca-tô biên soạn) ngày hôm trước, rồi hôm sau đến lớp trả bài cho học sinh.

Giả dụ có một giáo viên nào muốn dạy cho hoc sinh biêt những sự thực lịch sử mà chính quyền cố t́nh bưng bít, th́ chắc chắn là sẽ có vấn đề với chính quyền với mức độ trầm trọng hơn mức độ của cụ Nguyến Lê như đă nói ở trên.

Cũng nên biết là, trong những năm 1954-1975, ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong các thành phố lớn như Sàig̣n, Chợ Lớn, Gia Định, Cần Thơ,  Đà Nẵng  và các vùng phụ cận, hơn 80% trường trung học tư thục nằm trong tay kiểm soát của Nhà Thờ  Vatican.  Tại các trường này, môn Sử Địa (đặc biệt là môn sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại) và môn Công Dân coi như là không có, và nếu có th́ ngay cả giáo viên phụ trách cũng ở vào t́nh trạng vừa không đủ tiêu chuẩn về bằng cấp vừa dốt đặc cán mai táu về môn học này.

Họ cũng là những người học thuộc ḷng bài học trong sách giáo khoa ngày hôm trước, rồi hôm sau đến lớp trả bài cho học sinh. Họ là những người do các linh mục hay ban giám đốc nhà trường đưa vào dạy chỉ v́ họ là tín đồ Ca-tô  hay có quan hệ thân t́nh với các ông linh mục hay ban giám đốc nhà trường, chứ không phải là một giáo viên có bằng cấp hay kiến thức vững chắc về môn Sử Địa và Công Dân.

Các trường trung học tư thục ở các tỉnh dù là do các linh mục làm chủ hay những người khác làm chủ cũng ở trong t́nh trạng này. Lư do là v́ việc mở trường tư thục hay mở lớp dạy học tư ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là một nghiệp vụ kinh doanh. Các ông chủ trường đều có mẫu số chung là tích cực tăng thu và giảm chi đến mức tối đa. Cũng v́ thế mà  những môn học phụ (với hệ số 1) như sử địa, vẽ (họa), hát (âm nhạc) thể dục, nữ công gia chánh đều bị chước giảm tối đa và họ có khuynh hướng mướn những người dạy càng kém phẩm chất càng có thể trả giá rẻ hơn.

Cũng đỡ cho các ông thày giáo này v́ hầu hết  học sinh Việt Nam trong thời kỳ này chẳng thiết tha ǵ với môn Sử Địa và Công Dân. Lư do chính là môn Sử Địa và Công Dân không nằm trong  chương tŕnh thi viết trong các kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp (đến năm 1962), Tú Tài I, Tú Tài II, và bị quy định là môn học phụ với chỉ số 1, trong khi đó các môn Toán, Lư, Hóa, Anh, Pháp, Việt Văn, Vạn Vật, được coi là môn chính với hệ số 4 và số 3, tệ lắm th́ cũng có hệ số 2. T́nh trạng này đă khiến cho  học sinh các trường công lập cũng như tư thục đều lơ là không thiết tha ǵ với môn học Sử Địa và Công Dân.

Hậu quả của việc coi nhẹ các môn Kiến Thức Xă Hội:

Việc cố ư  coi nhẹ việc đào tạo giáo viên phụ trách ban Sử Địa và chủ tâm ngăn cấm, không cho lưu hành các sách báo và các tài liệu sử thế giới đă đưa đến những hậu quả tai hại như sau:

Thứ nhất, không phải chỉ có tín đồ Ca-tô người Việt mà là tất cả những lớp người sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam từ năm 1862 (thời điểm triều đinh Huế nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican) cho đến ngày 30/4/1975 và những người tiếp nhận chính sách giáo dục ngu dân và nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican đều (1) chỉ biết rất lơ mơ về quốc sử, (2)  hầu như không biết ǵ về sử thế giới, và (3) cũng không biết một chút ǵ về những rặng núi của đủ mọi thứ tội ác của Giáo Hội La Mă chống nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Nhờ vậy mà các nhà văn nô Ca-tô mới tự tung tự tác “múa gậy giữa vườn hoang” (vũ trượng hoang viên), tha hồ tuyên bố ẩu tả về lịch sử hay múa bút viết bừa băi với chủ tâm lừa bịp người đời bằng cách bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử  để chạy tội cho cả Giáo Hội La Mă và tập đoàn con chiên làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Dưới đây là những ví dụ điển h́nh.

1.- Cuốn ngụy sử Trần Lục (Montréal, Canada, 1996) do các ông giáo sĩ và trí thức (!) Ca-tô như họp nhau cùng tác giả. Nguyễn Ngọc Quỳ đă có những lời nhận xét thâm thúy về cuốn này. [4]  

2.- Lữ Giang (tức cựu thẩm phán Nguyễn Cần) viết Những Bí Ẩn Đàng Sau Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam (Garden Grove, CA, 1994) và cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam  (Garden Grove, CA, 1999).

3.- Cựu luật-sư Nguyễn Văn Chức viết cuốn Việt Nam Chính Sử (Fall Church, VA:TXB, 1992).

4.- LM Vũ Đ́nh Họat viết bộ Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Fall Church, VA:TXB, 1991).

5.-  Nguyễn Gia Kiểng viết cuốn Tổ Quốc Ăn Năn (Paris TXB, 2001).

6.- Các ông Dương Diên Nghị, Nguyễn Châu, Lương Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Ḥang Đức Phương viết cuốn Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản, Tập I (San Jose, CA: TXB,  2002).

7.- Cao Thế Dung viết cuốn Việt Nam Huyết Lệ Sử (New Orleans, Louisiana: Đồng Hương, 1996).

8.- Lê Xuân Khoa viết cuốn Việt Nam 1945-1995 (Tập I (Bethesda, MD, 2004).

9.- Minh Vơ viết cuốn Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê (CA: Thông Vũ, 1998)

10.- Nhà giáo kiêm nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn tuyên bố khơi khơi trong cuốn Paris By Night 81 rằng “Bắc Hàn không xâm lăng Nam Hàn” và viết cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003).

11.- Ông Vũ Hải Hồ bịa đặt ra chuyện Cựu Đại Sứ Pháp Jrean Marie Mérillion viết cuốn Sàigon Et  Moi cũng không ngoài mục đích giống như các tác giả của 10 trường hợp ở trên. Xin xem Phụ Bản các thư từ trao đổi giữa Tiến-sĩ Hoàng Ngọc Thành và thư trả lời của Cựu Đại Sứ Pháp Jrean Marie Mérillion  in nơi các trang 622-623 trong cuốn Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1994).   

Và các ông "trí thức Ca-tô" khác cư ngụ ở Montréal tha hồ phóng bút tâng bốc Nhà Thờ Vatican và chế độ đạo phiệt của tên bạo chúa tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm.

Cũng nên biết là “kiến thức tổng quát” (thâu nhận ở bậc trung học) của tất cả các ông trí thức nửa mùa trên đây đều ở trong t́nh trạng “què quặt” hay “bất quân b́nh” (chỉ biết lơ mơ về quốc sử, không biết ǵ về lịch sử thế giới và cũng không biết ǵ về lịch sử Giáo Hội La Mă). Mục đích duy nhất trong việc viết sử của các ông này là vừa để bào chửa chạy tội cho những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mă chống lại nhân loại (trong đó có Việt Nam) trong gần hai ngàn năm qua, vừa để chạy tội cho tập đoàn con chiên làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Mỹ, vừa để  sỉ nhục và chưởi bới những tác giả có các tác phẩm nói lên những sự thật về tội ác của Nhà Thờ Vatican đă cấu kết với Đế Quốc Xâm Lược Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị nước từ năm 1858 cho đến tháng 7 năm 1954 với dă tâm vô hiệu hóa những tác phẩm của họ.

Thứ hai, từ đó cho đến ngày nay, ở Miền Nam cũng như ở hải ngoại, không có một giáo viên nào trong số các giáo viên tốt nghiệp Ban Sử Địa của các Đại Học Sư Phạm Sàig̣n, Đại Học Sư Phạm Huế và Ban Sử tại Phân Khoa Văn Khoa Sàigon có thể biên sọan được một tác phẩm nói về bàn tay của Giáo Hội La Mă trong ḍng Lịch Sử Thế Giới hay trong ḍng Lịch Sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.

Điều đáng trách là có một số người vốn là những người tốt nghiệp từ trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n hay từ Trường Đại Học Sư Phạm Huế về môn Sử Địa và đă từng phụ trách dạy môn Sử ở miền Nam Việt Nam trong nhiều năm trước ngày 30/4/1975, không những đă không lên tiếng nói về bàn tay của Giáo Hội La Mă trong ḍng lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, mà lại c̣n viết sách hay những bài viết  có nội dung với chủ tâm lên tiếng bênh vực  Nhà Thờ Vatican bằng cách lên án những tác giả có những tác phẩm nói về những khu rừng tội ác của Nhà Thờ Vatican và chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đ́nh Diệm là quá khích và chống Thiên Chúa Giáo.

Sự kiện này chứng tỏ rằng kiến thức về sử học của các ông bạn này c̣n thua rất xa kiến thức sử của những người không phải là giáo viên dạy sử nhưng họ đă bỏ công ra t́m hiểu và nghiên cứu để t́m hiểu những sự thật về lịch sử của nước ta trong thời cận và hiện đại. 

Đọc bài viết “Tản Mạn Quanh Cuốn Trần Lục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳ, chúng ta sẽ thấy rơ thực trạng này. [5] Xin trích ra một vài hàng tiêu biểu:

"... Và buồn cho nền giáo dục miền Nam, nơi tôi đă thâu nhận kiến thức Trung học, năm phút! Buồn cho một thủ đô miền Nam, vừa có hai tên đường Phan Đ́nh Phùng và Đinh Công Tráng, lại vừa có tên trường của chính kẻ đă đắc lực góp công giúp Tây tiêu diệt hai vị anh hùng chống xâm lăng nầy: Trần Lục! Từ chuyện cũ của Miền Nam đó, bây giờ chuyện hải ngoại cũng lại giống y chang, nổi cộm lên ray rứt cả trong đầu lẫn trong tim..."

Những cuốn sử sau đây đều do các học giả không phải là những người đă thừng theo học Ban Sử Địa tại các Trương Đại Học Sư Phạm Sàig̣n hay Ban Sử Địa của Trường Đại Học Sư Phạm Huế và cũng không phải là những người theo học Ban Sử tại Đại Học Văn Khoa Sàig̣n.

1).- Les Missionaires Et La Politique Coloniale Francaise Au Vietnam (1857-1914). Heaven, CT: Yale Southeast Asia Studies, 1990) hay  Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam. Los Angeles, CA: Hương Quê, 1988 của Cao Huy Thuần,

2).- Bước Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp, TXB, 1995) của học giả Nguyễn Xuân Thọ,

3).- Thập Giá và Lưỡi Gươm ( Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) của Linh-mục Trần Tam Tỉnh.

4).- Các ấn phẩm của Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu hoặc là dưới bút hiệu Chính Đạo và Nguyên Vũ,

5).- Tất cả các ấn phẩm của học giả Charlie Nguyễn,

6).- Tất cảc các sách và bài viêt của Giáo-sư Trần Chung Ngọc,

7).- Tất cả các tác phẩm của ông Bùi Kha,

8).- Tất cả các tác phẩm của ông Ngô Triệu Lịch,

9).- Tất cả những ấn phẩm do Giao Điểm phát hành và đăng trên giaodiemonline.com,

10).- Tất cả những tác phẩm đăng trên sachhiem.net,

11).- Tất cả những ấn phẩm của ông Chu Văn Tŕnh,

12).- Cuốn VNMLQHT (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993) của cụ Đỗ Mậu,

13).- Tất cả các ấn phẩm của Giáo-sư Lư Chánh Trung,

v.v....

Tất cả các tác phẩm trên đây đều là công tŕnh biên soạn của các tác giả qua nhiều năm nghiên cứu các tài liệu sử ở các thư viện ở Bắc Mỹ, ở Âu Châu, ở Úc Châu hay ở trong internets (mới có sau này từ đầu thập niên 1980).

Hạ giá môn học sử địa và công dân: Quỷ quyệt hơn nữa, tại miền Nam Việt Nam, trong những năm 1954-1975, với  khoảng hơn 95% theo học hai Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm) và Ban B (Khoa Học Toán), chính quyền c̣n dùng thủ đoạn cực kỳ thâm độc để làm cho hoc sinh không c̣n thiết tha với việc học môn Sử và Địa bằng cách hạ giá môn học này và môn Công Dân với việc đặt ra quy chế hệ số: Môn Lịch Sử  và Địa Lư bị coi là  môn học phụ với hệ số 1, thời lượng chỉ có 1 giờ một tuần, và bị loại ra khỏi chương tŕnh thi viết (chỉ nằm trong chương tŕnh thi khẩu hạch thôi). Trong khi đó th́ các môn học như Tóan, Lư, Hóa, Khoa Học Thực Nghiệm (Vạn Vật), ngoại ngữ, Quốc Văn được coi là các môn học chính và được quy định với hệ số từ 3 đến 5,  thời lưọng cũng ấn định rộng răi từ 3 đến 5 hay 6 giờ môt tuần, và tất cả đều nằm trong chương tŕnh thi viết.

Trong  khi đó, theo kinh nghiệm của người viết, tại Hoa Kỳ môn Sử Địa và Công Dân, gọi chung là Social Studies, được coi là một môn hoc chính, thời lượng tương đương với thời lượng của môn Anh Văn và nhiều hơn các môn Toán và Khoa Học (Lư, Hóa,  Biology). Cũng giống như các quốc gia khác, tại Hoa Kỳ, ở bậc trung học từ lớp 6 đến lớp 12, mỗi niên học có 34 tuần lễ,  mỗi tuần lễ có 5 ngày học, mỗi ngày học có 6 giờ học, mỗi giờ học có độ 55 phút. 

Ở MIDDLE SCHOOL: Các trường  Middle School (Cấp 2 hay Trung Học Đệ Nhất Cấp) ở Hoa Kỳ gồm 3 lớp 6, 7 và 8, học theo chế độ lục cá nguyệt. Mỗi lục cá nguyệt, học sinh phải đi học 17 tuần lễ, mỗi tuần lễ 5 ngày, và mỗi ngày học 6 giờ, mỗi giờ 55 phút. Trong 6 giờ học này, có một giờ là Social Studies (Kiến Thức Xă Hội gồm có Sử, Địa và Công Dân). Cả 6 lục cá nguyệt hay 3 năm học đều như vậy cả. Như vậy, thời lượng dành cho môn Sử Địa và Công Dân bằng 1/6 tổng số thời lượng của học sinh có mặt trong tất cả các lớp học ở Middle School.  Tính ra, cả 3 năm học ở Middle School, học sinh phải học tới  17 ( 17 tuần lễ trong một lục cá nguyệt) X 5 (5 ngày học trong một tuần) X 6 (6 lục  cá nguyệt ở Middle School) =  510 giờ (Sử, Địa và Công Dân.)

Ở HIGH SCHOOL: Hịgh School (Cấp 3 hay Đệ Nhị Cấp) có 4 lớp 9, 10, 11 và 12 cũng học theo chế độ lục cá nguyệt giống như ở Middle School. Hoc sinh bắt buộc (required) phải hoàn tất 46 học kỳ (c̣n gọi là tín chỉ hay credits) theo hệ thống lục cá nguyệt (17 tuần lễ một học kỳ), gồm khoảng 31 học kỳ gọi là bắt buộc (required) và 15 học kỳ gọi là nhiệm ư (selective). 31 hoc kỳ (tín chỉ) bắt buộc gồm đủ các môn học gọi là academic courses và occupational couses.

Về những lớp trong chương tŕnh học thuật (academic courses), có những môn học như Anh Văn, Toán, Khoa Học (Vật Lư, Hóa, Sinh Học, Địa Chất (Earth Science), Khoa Học Xă Hội (Sử, Công Dân, Địa Lư Thế Giới và từng vùng hay từng quốc gia). Về những lớp dạy nghề (occupational courses), có các môn học như Làm Mộc, Làm Gốm, Làm Nguội, (có thể có cả sửa máy xe hơi) Kế Toán, Vẽ (họa), Gia Chánh (nấu ăn và may), Doanh Thương (đánh máy, vi tính), Công Kỹ Nghệ (Industrial Arts) Nhạc, Tŕnh Diễn như Vũ,  Kịch, v.v... Riêng về môn Sử Địa và Công Dân,  học sinh bắt buộc phải lấy 1  học kỳ World Geography, 2 học kỳ Sử Hoa Kỳ, 1 học kỳ Sử tiểu bang, 1 học kỳ Civics, 1 học kỳ "World issues" (World Problems), (có thể lấy thêm 1 hay hai học kỳ "World History" hoặc là "World Cultures").

Ngoài ra, học sinh  c̣n phải lấy 1 học kỳ vừa là Địa Lư vừa là Địa Chất (trước kia gọi là "Earth Science" và hiện nay gọi là "Science and Sustaninability" (Sience and Sustaninability gồm những đề tài hóa học, sinh học, với địa chất học và vật lư trong những ngữ cảnh liên hệ đến đời sống của học sinh và cộng đồng địa phương và thế giới). Như vậy, tổng số giờ học dành cho môn Social Studies (Sử, Địa và Công Dân) lên tới 6 (6 credít) X 17 (17 tuần lễ) X 5 (5 ngày trong một tuần) = 510 giờ, và nếu tính thêm môn Earth Science hay Science and Sustaninability sẽ lên tới 510 giờ + 85 giờ = 695 giờ Sử Địa và Công Dân.

Như vậy, tổng số giở Sử Địa và Công Dân cả ở Middle School hay Cấp II (510 giờ) và ở High School hay Cấp III  (395 giờ) sẽ là: 510 giờ + 695 giờ = 1205 giờ.

Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, mỗi niên học là 34 tuần lễ. Mỗi tuần lễ chỉ có 1 giờ Sử Địa và một giờ Công Dân. Cộng chung mỗi tuần chỉ có  là 2 giờ Khoa Học Xă Hội. Như vậy, trong một niên học, tổng số giờ học về môn Khoa Học Xă Hội (Sử Địa và Công Dân) chỉ có 2 giờ x 34 (tuần) = 68 giờ, và tổng số giờ Khoa Học Xă Hội trong 7 niên học ở cả Cấp II và Cấp III chỉ có: 68 giờ x 7 (niên học) =  476 giờ. 

Phần tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rơ là thời lượng dành cho môn học Sử Địa và Công Dân trong chương tŕnh học bậc trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 chỉ bằng 39.5% thời lượng của môn học này cho học sinh trung học ở Hoa Kỳ.

 Ngoài ra, ở Hoa Kỳ, môn Sử Địa và Công Dân được coi là môn chính và học sinh bắt buộc phải học và phải thi viết giống nhưng các môn Quốc Văn (Anh Văn) Toán, Tóan, Khoa Học, ngoại ngữ, và tất cả các môn học khác.  Trái lại, ở miền Nam Việt Nam (trong những năm 1954-1975) môn Sử Địa và Công Dân bị coi là môn học phụ với hệ số 1 (so với 4 và hệ số 5 của các môn học chính như Toán, Lư, Hóa, Khoa Học Thực Nghiệm, Quốc Văn và ngọai ngữ ). Không những thế, môn Sử Địa và Công Dân c̣n bị loại ra khỏi  chương tŕnh thi viết trong các kỳ thi lấy bằng Tú Tài I và Tú Tài II. 

Với t́nh trạng này, hầu như những học sinh hai Ban A và B (chiếm tới trên 95% tổng số học sinh Đệ Nhị Cấp ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975) không c̣n quan tâm đến môn học Sử Địa và Công Dân nữa. Chờ khi th́ viết xong rồi,  học sinh mới bắt đầu mở cuốn sách tóm lược những câu hỏi và trả lời vắn tắt của tác giả Lê Kim Ngân, học được chữ nào hay chữ ấy. Nếu lọt được qua cửa ải thi viết,  khi vào thi “vấn đáp” (khẩu hạch), họ tin rằng có thể giải quyết được bằng kế sách ca bài ca “con cá” với giáo sư giám khảo. Kinh nghiệm cho thấy rằng, với truyền thống “lượng cả bao dong” của nền tam giáo cổ truyền, ít có một ông thày khảo hạch (thi vấn đáp) nào lại đành ḷng cho một thí sinh một số điểm quá tệ từ  05/20 xuống tới 00/20. Với kinh nghiệm đă từng lăn lộn với  các kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp vào năm 1957, Tú Tài I vào năm 1958, Tú Tài II vào năm 1959, và hơn 10 năm trong nghề dạy môn Sử Địa và Công Dân ở miền Nam, người viết nh́n thấy rơ vấn đề này hơn ai hết.

Hậu quả và cũng là mục đích của Vatican:

Phần tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rơ chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ đă làm cho tín đồ Ca-tô và nhân dân dưới quyền hoàn toàn không biết ǵ về quốc sử, không biết ǵ về lịch sử thế giối, không biết ǵ về lịch sử Giáo Hội La Mă, và cũng không biết phải hành xử thế nào cho đúng với bổn phận và trách nhiệm của một người dân trong một quốc gia của thời đại dân chủ tự do trong thế giới tiến bộ văn minh như ngày nay. Chính v́ ở trong t́nh trạng dốt nát như vậy, họ mới không biết ǵ về những rặng núi tội ác của Giáo Hội chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Đây là lư do TẠI SAO họ lại dễ dàng và nhắm mắt tin vào những lời nói láo của Nhà Thờ Vatican rằng Giáo Hội La Mă là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền.” 

Chúng ta biết rằng những đứa con rơi của các ông giáo sĩ Ca-tô (đă nói rơ trong Chương 7 ở trên) đều không biết cha mẹ chúng nó là ai và tất nhiên cũng không biết gia phả bản thân và gia đ́nh của chúng. Ta goi chúng là những đứa con hoang. Tương tự như vậy, ta cũng có thể gọi những người dân không biết lịch sử (gia phả) của đất nước của chính họ lả những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc, và những người không biết rơ lịch sử (gia phả) thế giới (tức là không biết rơ những bước thăng trầm và những bước tiến hóa của loài người) là những đứa con hoang trong cộng đồng nhân loại.

Từ những sự kiện trên đây, Giáo Hội La Mă nhận thấy rằng:  

1.- Chỉ có những đứa con hoang trong xă hội (mồ côi cả cha và mẹ),  chỉ những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc (không học hay chỉ biết lơ mơ về quốc sử), và chỉi có những đứa con hoang trong cộng đồng nhân loại (không biết ǵ về lịch sử thế giới) mới hết ḷng tin tưởng và tuyệt đối trung thành với Nhà Thờ Vatican. 

2.- Những t́nh cảm hồn nhiên, thơ mộng, cao đẹp và thiêng liêng của trời phú cho con người (t́nh yêu thương thiết tha giữa lứa đôi trai gái,và t́nh thương yêu giữa cha mẹ với con cái cũng như giữa con cái và cha mẹ) là trở ngại vô cùng lớn lao cho việc đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo.  

Cũng nên biết “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo” có nghĩa là làm cho thanh thiếu niên chỉ có một thứ t́nh yêu duy nhất đối với Giáo Hội La Mă hay Nhà Thờ Vatican, tức là họ sẽ không có một thứ t́nh yêu nào khác có thể sánh ngang với ḷng trung thành của họ đối với Giáo Hội. Dĩ nhiên, khi mà họ chỉ có một thứ t́nh yêu duy nhất dành cho Giáo Hội La Mă, th́ họ  phải coi những bài học trong Thánh Kinh  cũng như đời sống của các nhà lănh đạo và giới tu sĩ của Giáo Hội như là khuôn vàng thước ngọc để noi theo và hành xử. Có như vậy, th́ họ mới được gọi là giáo dân “ngoan đạo”, hoặc “sống đạo theo đức tin Ki-tô” hay “sống theo lương tâm công giáo”.

Cũng v́ thế, mà chúng ta không lấy ǵ làm ngạc nhiên khi thấy những con chiên  “ngoan đạo” đều có đầy đủ những ác tính của các ông Chúa Bố Jehovah, Chúa Con Jesus (như đă nói rơ trong thánh kinh), của các giáo hoàng và của giới tu sĩ (như đă tŕnh bày trong Chương 7 ở trên). Đó là những ác tính ganh ghét, đố kị, tị hiềm và kèn cựa, không muốn cho ai được bằng ḿnh. Những ác tính này đă ghi rơ ràng trong Cựu Ứớc. Tất cả những ác tính trên đây của Giáo Hội cũng như của giáo dân sẽ được thể ra bằng hành động khi mà họ có quyền lực ở trong tay. Vấn đề này sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong Chương 13 ở sau.

 

Sử dụng phương pháp sư phạm độc thoại:

(Ở đây xin nói riêng về môn Sử Địa và Công Dân, các môn học khác có những phương pháp thích hợp để khai tâm học sinh.)

Bất kỳ quốc gia nào thi hành chính sách giáo dục tự do khai phóng và đại chúng cũng đều áp dụng phương pháp sư phạm đối thọai và thảo luận. Theo phương pháp này, học sinh đă có sẵn sách giáo khoa (do nhà trường phân phối hay có  bán sẵn ở thị trường) đem về nhà để đọc trước. Những đề tài học hỏi đều nằm trong sách giáo khoa. Vào ngày khai giảng hay ngày đầu tiên của khóa học, thường thường, giáo viên  phân phối cho mỗi học sinh hay sinh viên chương tŕnh của khóa học theo đó các em biết trước đề tài nào sẽ được thảo luận vào ngày tháng nào để chuẩn bị đọc trước, và nếu cần các em sẽ vào thư viện t́m tài liệu để đọc thêm. Đến giờ học, giáo viên hay giáo sư đem đề tài đó ra thảo luận với học sinh và có nhiệm vụ phải giải đáp những thắc mắc do học sinh nêu lên, rồi giảng rộng thêm những ǵ có liên hệ đến đề tài mà sách giáo khoa không đủ chỗ để nêu lên. Phương pháp dạy học này cũng đă được các  nhà  Nho áp dụng trong việc dạy học tại các nước theo văn minh Khổng Mạnh trong thời chữ Hán c̣n được sử dụng trong văn thư hành chánh. 

Trái lại, các nước bị áp đặt phải sống dưới ách thống trị của Nhà Thờ Vatican (như miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975), không được phép sử dụng phương pháp thảo luận và đối thoại như trên, mà  chỉ áp dụng phương pháp sư phạm độc thoại. Phương pháp sư phạm độc thoại thường được các ông truyền giáo sử dụng trong việc rao giảng tín lư Ki-tô như chúng ta thường thấy vào những giờ lễ trong các nhà thờ khi các ông linh mục hành lễ và đọc những bản văn được biên soạn sẵn mà họ  nói là “lời Chúa”. Phương pháp này đ̣i hỏi hoc sinh phải chấp nhận những luận cứ hay tất cả những ǵ ghi sẵn trong bài học và học thuộc ḷng để thực hành, không được thắc mắc, không được t́m hiểu sự vật. Theo phương pháp này, thày giáo đến lớp, ngồi vào bàn, mở sách hay tài liệu ra đọc, bắt học sinh  phải ngồi im lặng lắng tai nghe.

Giáo-sư Lư Chánh Trung kể lại kinh nghiệm cúa ông khi c̣n học ở bậc trung học như sau:

"Bây giờ, vào trường Taberd là thế giới của đạo giáo. Đạo giáo bao trùm đời sống và việc học. Kinh kệ khởi đầu và kết thúc mỗi hoạt động. Mỗi buổi sáng, nửa giờ đầu luôn luôn dành cho giáo lư.

Phương pháp là học và trả thuộc ḷng. Ông thày chỉ một chú học tṛ và gơ thước cái cốp, chú này đứng dậy trả câu thứ nhất: "Hỏi: Đức Chúa Trời là ǵ? - Thưa: Đức Chúa Trời là đấng tạo nên trời đất muôn vật..." (bằng tiếng Pháp). Thước lại gơ cái cốp và chú học sinh thứ hai đứng dậy... cho đến khi hết bài. Tôi là thằng làm biếng tổ, sáng nào cũng co rúm người, cố làm cho ḿnh nhỏ lại như hột cát để thoát khỏi cái nh́n của Sư huynh. Nhưng cái cực h́nh kinh khủng nhất là đầu lớp học buổi trưa, học sinh phải lần nguyên một chuỗi tràng hạt. Trời nóng như thiêu, giọng kinh trầm trầm kéo dài như không bao giờ dứt, đứng yên một chỗ không cục cựa, tôi cảm thấy tứ chi ngứa ngáy như có trăm ngàn con kiến đang ḅ lên. Nhưng riết rồi cũng quen và một khi đă thuộc kinh tôi cũng ê-a hằng giờ với mấy đứa kia, không c̣n bực bội nữa: Tiên học lễ, hậu học."[6]

Nếu không có sách giáo khoa bán cho học sinh, th́ ông thày đọc cho họ chép bài cho đến khi hết giờ. Chủ đích của phương pháp này là tạo cho học sinh có thói quen thụ động không sử dụng lư trí vào việc phân tách  để t́m hiểu sự vật. Phương pháp dạy học kiểu này được áp dụng triệt để trong lănh vực khoa hoc xă hội trong đó có môn Sử Địa và Công Dân.

Hậu quả: Chúng ta biết rằng, nếu lâu ngày không vận dụng trí óc vào việc suy nghĩ, phân tách và lư luận, th́ các tế bảo lư trí trong năo bộ sẽ bị èo ọt, c̣m cơi hư hại. Những người ở vào t́nh trạng này sẽ trở nên lười suy nghĩ, nếu cố gắng suy nghĩ, th́ họ sẽ bị nhức đầu và chỉ c̣n biết nghe theo và tuân hành những lệnh truyền của những người chỉ huy họ giống như một con chó được nhà bác học Pavlov sử dụng làm con vật thí nghiệm. Những người ở vào t́nh trạng này được gọi là những người “bị điều kiện hóa”.

Những tín đồ Ca-tô cũng bị điều kiện hóa giống y như con chó Pavlov bằng phương pháp này được gọi là “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo”. Cũng nên biết rằng “bị điều kiện hóa” có nghĩa là bị biến thành hạng người cực kỳ ngu xuẩn.

T́nh trạng này đă khiến cho  tín đồ Ca-tô và những lớp người theo học các trường học qua phương pháp dạy học này trở thành thụ động lười suy nghĩ. Gặp khi có việc ǵ cần phải giải quyết, th́ có họ khuynh hướng trông nhờ vào người khác để giải quyết giùm. Đây là nguồn gốc của tinh thần vọng ngọai và là cha đẻ của đặc tính vong bản. Cũng v́ thế mà những lớp người  này :

a.- Không  thể suy đoán ra tính cách bịp bợm và lừa dối trong những tín lư Ki-tô.

b.- Không biết ǵ về tính cách chuyên đoán, áp bức và bóc lột trong các giáo luật Ki-tô.

c.- Không nh́n thấy mối nguy hại của chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" và "chính sách bất khoan dung" hết sức dă man của Giáo Hội đối với các tôn giáo và nền văn hóa khác.

d.- Không nh́n thấy những mâu thuẫn giữa những lời viết trong Kinh Thánh, những mâu thuẫn giữa một bên là những lời rao truyền khoác lác bịp bợm của Giáo Hội và một bên là cung cách hành xử hàng ngày của họ đối với những thành phần thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác. 

Điển h́nh cho những mâu thuẫn này là  (1) sách Leviticus (26:14-18) nói rơ Chúa Cha Jehovah là "một thứ hung thần ác quỷ nặng ḷng ganh ghét, đố kỵ, ti hiêm, vô cùng độc ác và cực kỳ vô cùng tàn ngược" mâu thuẫn với  lời rao truyền của Giáo Hội bảo rằng "Thiên Chúa  Ṭan Trí, Toàn Năng, Toàn Thiện và ḷng lành vô cùng", và (2) chuyện ông Jesus có khả năng biến hóa 5 cái  bánh ḿ và hai con cá thành một khối lượng bánh ḿ và số cá dư thừa cho hơn 5 ngàn người ăn không hết (Mathiew: 14:15-21) mâu thuẫn với chuyện ông ta không đủ khả năng biến hóa làm cho cây vả sinh trái cho ông ta ăn vào lúc đói ḷng, rồi ông tức giận nổi cơn độc ác làm cho cây vả này khô héo tàn tạ (Mathiew: 21: 18-20).

e.- Không nh́n thấy tính cách "xảo trá và bịp bợm" trong "những ngôn ngữ mập mờ và ỡm ờ" qua cửa miệng của giới tu sĩ Ca-tô khi rao giảng thuyết tín lư Ki-tô và những hành động "gạ gẫm nữ tín đồ" phá nát hạnh phúc gia đ́nh giáo dân.

Khi những hành động này được phơi bày ra trước ánh sáng công luận th́ người tín hữu lại bào chữa rằng đó là những chuyện riêng rẻ, hay "linh mục cũng là người, nên đôi khi sa ngă là thường". Đây là trường hợp của các linh-mục Cao Đăng M. ở Porland (Oregon), Nguyễn Hữu Dụ và Đào Quang Ch. ở Houston (Texas), Trịnh Thế H. Chicago (Illinoís), Trần Công Ngh.  ở California và tất cả các linh mục khác được Linh-mục Joseph Nguyễn Thanh Sơn nêu đích danh nơi trang 27 trong tờ Tận Thế Số Ra Măt, 15 /6/2002 và hàng ngàn vụ ô nhục khác ở Bắc Mỹ đă được phơi bày ra trước ánh sáng công luận từ tháng 2/2002 cho đến ngày nay (tháng 4/2009).

Trong khi tín đồ và những người tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican vẫn tin tưởng tuyệt đối vào những ǵ viết trong Thánh Kinh, th́ những người biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật đă nh́n thấy rơ những sự phi lư và mâu thuẫn trong những bản văn nói về ông Thiên Chúa (chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus) ở trong thánh kinh và họ đặt ra những nghi vấn về ông Thiên Chúa này. Đoạn văn dưới đây được gửi từ một diễn đàn thư tín cho chúng thấy một thí dụ của người có suy lư:

Khi tranh  căi về vấn đề tôn giáo, tụi Thiên Chúa Giáo thường lấy thuyết linh hồn, "Ai sáng tạo vũ trụ..." để làm sai lệch suy nghĩ đứng đắn của loài người. Điều đó có cần thiết không? Điều đó chỉ là "lư luận" không đem lợi ích ǵ thiết thực cho con người.. Nếu thực có Thiên Chúa th́:

1.- Thiên Chúa là Gay, hoc la Lesbian (lại cái): một ḿnh mà sinh đẻ ra loài người?

2.- Không có quyn lực: Ma quỷ quấy phá mà không biết làm sao để diệt. C̣n thua con khỉ ở bên Tầu: Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ Không  đi đến đâu  đánh dẹp ma quỷ đến đó.

3.-  Ng ngn: Đă sinh ra con là biết con ḿnh tính t́nh như thế nào, lại đem ra thử (để con rắn  dụ dỗ an trái cây hiểu biết…) Nếu biết mà vẫn làm th́ Thiên Chúa là đồ đần.

4.- Không công bng: Sinh ra đă có người bị bịnh, tật bẩm sinh, ngu muội. Lại sinh ra người th́ thông minh, giầu có....

5.- Tàn nhẫn: Đem con cái (mà Thiên Chúa sáng tạo ra mà thử làm tṛ chơi: gạt gẫm ăn trái cây hiểu biết. Không có bậc cha mẹ nào lại đi gạt gẫm con cái như vậy bao giờ.

6.- Bn xn, bn tin: Người  Nga, người Mỹ dùng nô lệ, vân c̣n cho họ ăn uống, quần áo mặc, thuốc men đẻ trị bệnh, nhà để ở. Nhưng Thiên Chúa sinh ra loài người "Để phụng sự Chúa” mà bắt loài người (con của Chúa) tự lo tất cả mọi cái, tư miếng cơm manh áo, đến nhà ở, thuốc men....Như vậy Thiên Chúa không phải là kẻ bủn xỉn, bần tiện là gi? C̣n tệ hơn cả những chủ đồn điền  Nga Mỹ thời xưa nữa.

7.- Độc ác, vô nhân đạo: Tao ra Volcano, Lava, Sunami...,bịnh hoạn, nghèo đói để trả thù v́… không nghe lời Chúa, (ăn trái cây hiểu biết). Nếu con của chúng ta an vụng 1 quả cam, hay quả táo, ta có nên hành hạ chúng như vậy không?

8.- Nếu nhầm lẫn mà ḷai người phải gánh chịu bây giờ là do Chúa sinh ra, th́ Chúa là kẻ bất tài, một progammer cho quá nhiều Virus vào để chơi con ḿnh (loài người).

Vậy thừa nhận có Thiên Chúa hay không để làm ǵ? Để tôn thờ, phụng sự một kẻ tạo ra nô lệ nhưng không cho ăn uống, không cho quần áo, nhà cửa, mà c̣n gieo rắc bệnh hoạn, thiên ai, ô nhiễm.... Vậy có nên tôn thời một kẻ đă đày đọa chúng ta hay không?

Câu trả lời xin để hậu thế. Thế hệ này đă bị lừa dối, tự lừa dối nhau qua nhiều thế hệ rồi. Thế hệ trẻ sáng suốt sẽ tự đánh giá lấy. Nếu có Thượng Đế, chắc chắn không phải là Thượng Đê Gay/ Lesbien của Thiên Chúa Giáo.” [7]

Không dạy cho học sinh phân biệt sự khác nhau giữa ư kiến (opinions) và sự kiện (facts), giữa nguyên nhân và hậu quả, giữa gốc và ngọn, giữa thuận lư và nghịch lư, giữa phải và trái, giữa đúng và sai,  v.v....

Hậu quả: khi viết hay biên sọan một tác phẩm nào đó, họ đều lúng túng và lẫn lộn, không thể phân biệt được sự khác nhau giữa  những hành động yêu nước và hành động phản quốc, giữa  những nhà ái quốc và những tên Việt gian phản quốc, giữa nguyên nhân và hậu quả, v.v... Điển h́nh là ngay cả mấy ông trí thức Ca-tô đă từng là giáo sư giảng dạy  tại Trường Đại Học Văn Khoa Sàig̣n như các ông Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Trung, Phạm Việt Tuyền, v.v... cũng không biết sử dụng lư trí để phân biệt được sự khác nhau giữa  một bên là  thuật ngữ của các nhà chính khách lăo luyện như Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Tổng Thống Dwight David Eisenhower, Tổng Thống Lyndon Baines Johnson khi nói chuyện hay đối đáp với những người mà họ cần phải mua chuộc (lấy ḷng) và một bên là những sự kiện lịch sử.

Họ không biết rằng lịch sử là lịch sử, ở vào bất kỳ thời đại nào, hoàn cảnh nào hay thời thế như thế nào, th́ những sự kiện lịch sử cũng vẫn không thay đổi. C̣n thuật ngữ của các chính trị gia già đời  luôn luôn thay đổi theo nhu cầu của t́nh thế hay hoàn cảnh chính trị của thời cuộc, miễn là sao đem lại lợi ích cho chính sách hay con đường họ đang theo đuổi . Đối với họ, cùng một cá nhân hay một thế lực, ngày hôm nay có thể là thù địch, những vào một lúc nào đó lại trở thành đồng minh hay người bạn đồng hành. Cũng v́ thế mà Tổng Thống De Gaulle của nước Pháp mới tuyên bố “v́ quyền lợi quốc gia, chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn và cũng không có kẻ thù vĩnh viên.” và  Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower cũng tuyên bố: “Kẻ thù của kẻ thù là bạn của chúng ta, và bạn của kẻ thù là kẻ thù của chúng ta.”  

Ta có thể gọi những lời tuyên bố như trên là một thủ đọan chính trị gia của các đại chính trị gia. V́ lẽ này mà  từ giữa thập niên 1950 cho đến đầu thập niên 1970, Hoa Kỳ coi miền Nam Việt Nam là tiền đồn chống lại làn sóng Cộng Sản đang dâng tràn từ phương Bắc và triệt để thi hành chính sách Chống Cộng. V́ theo đuổi chính sách này mà họ bỏ ra hàng trăm tỉ Mỹ Kim để nuôi dưỡng chính quyền và quân đội miền Nam làm công cụ phục vụ cho nhu cầu chiến lược chống Cộng này của họ. Nhưng đến đầu thập niên 1970, sau khi đă kết thân được với Trung Cộng (trở thành bạn của Hoa Kỳ), Hoa Kỳ không c̣n cần sử dụng miền Nam để làm tiền đồn cho nhu cầu chống Cộng nữa. Cũng v́ vậy mà Hoa Kỳ mới quyết định bỏ rơi miền Nam, và không cần phải bỏ tiền ra nuôi nợ chính quyền và quân đội miền Nam nữa. Do đó mới có biến cố ngày 30/4/1975.

Xin thêm một thí dụ khác là trường hợp ông Ngô Đ́nh Diệm. Khi cần sử dụng ông Diệm làm con cờ cho họ sử dụng, th́ họ o bế ông Diệm, bốc thơm và tôn ông ta như là:“Một người hùng Đông Nam Á”, là “Constantine Châu Á”, là “Klovít (Clovit mới trong lịch sử của Giáo Hội (La Mă).”(Trần Tam Tỉnh, Sđ d., tr. 122.) Nhưng khi nói chuyện riêng với nhau về “các ông người Việt Quốc Gia” đến cầu cạnh xin xỏ họ để được đưa lên cầm quyền, th́ Tổng Thống Eisenhower nói với hội đồng chính phủ Mỹ rằng:“Trong đám mù, thằng chột làm vua.” (Lê Hữu Dản, Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, Caliornia, 1997), tr.  23-24.)Sau này, trong chuyến viếng thăm Sàig̣n vào năm 1961, Phó Tổng Thống Lyndon Johnson đă cường điệu so sánh ông Ngô Đ́nh Diệm với ông Churchill của nước Anh. Sau đó, lên phi cơ trở về Hoa Kỳ, kư giả Stanley Karnow hỏi ông rằng:

Phải chăng ông thực sự so sánh Diệm với ông Churchill như vậy sao?” Phó Tổng Thống Lyndon Johnson đă trả lời liền rằngCái cục cứt! Diệm là thằng bé duy nhất chúng ta có ở đây!”  Nguyên văn: “Carried away by oratorical hyperbole during a visit to Saigon in 1961, Lyndon Johnson, then vice-president, had compared Diem to Churchill. “Did you really mean it?” I asked him aboard his airplane later. “Shit,” he drwaled, “Diem’s the only boy we got there.”(Stanley Karnow, Vietnam A History (New York The Viking. 1983), P. 210.  

 Đối với lịch sử và dân tộc Việt Nam, ai cũng biết rằng, ông Ngô Đ́nh Diệm xuất thân từ một gia đ́nh có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ. Chính bản thân ông Ngô Đ́nh Diệm cũng là một tên Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, mưu đồ bán nước cho Nhật và sau cùng  là bán nước cho Mỹ. Ngoài tội ác bán nước cho các đế quốc trên đây, ông Diệm c̣n can tội  (1) tổ chức cuộc đại lễ vào tháng 2 năm 1959 tại Sàig̣n và mởi viên khâm sứ của Ṭa Thánh Vatican tại Sàig̣n là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế để dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (tức là dâng nước Việt Nam cho đế quốc Vatican), (2) thi hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực tán sát tới hơn 300 ngàn người, (3) ngày 30/11/1962, hồ hởi, toa rập và công khai tán đồng việc quân đội Mỹ sử dụng chất độc Da Cam (một thứ vũ khi hóa học) rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lănh thổ miền Nam Việt Nam gây “nguy hại cho môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.[8] V́ những việc làm tội ác dă man này mà các nhà viết sử đă khẳng định ông ta là “một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại.”[9]  Tất cả những ǵ nêu lên trên đây về ông Diệm đều là sự thật.

Sự thật là như vậy. V́ thế mà từ đầu niên 1963 về trước, chính quyền Kháng Chiến Việt Nam (1945-1954) và chính quyền miền Bắc (1954-1975) luôn luôn gọi ông Diệm là tên phản động đại Việt gian. Vào khỏang cuối năm 1954, khi ông Diệm được Mỹ và Vatican đưa về Việt Nam lập chính phủ, ông ta trở thành một tay sai đắc lực của Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican, chính quyền miền Bắc không ngớt sử dụng ngôn từ hay lời lẽ  nặng nề để lên án ông ta. Những lời lẽ  lên án này c̣n nặng nề gấp bội phần so với những lời  lẽ lên án ông Bảo Đại trước đó. Tôi c̣n nhớ hồi cuối năm 1954, nhà Thơ Tú Mỡ có sáng tác một bài thờ trào phúng nói về chuyện ông Diệm được đưa về Việt Nam cầm quyền, trong đó có câu “Giặc Pháp thay bù nh́n như thay tă”.

Ấy thế mà vào đầu năm 1963, v́ nhu cầu chiến lược ly gián giữa Mỹ và anh em Nhà Ngô, chính quyền miền Bắc quay ra o bế ông Ngô Đ́nh Diệm: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không ngần ngại gọi ông Diệm là “một nhà ái quốc”, và thậm chí chính cụ c̣n gửi một cành đào đến Dinh Gia Long để tặng riêng ông Ngô Đ́nh Diệm nữa.   

Thế nhưng, lịch sử là lịch sử, ở vào bất kỳ thời đại nào, hoàn cảnh nào hay thời thế như thế nào th́ những sự kiện lịch sử cũng vẫn không thay đổi. C̣n những lời lẽ của các nhà chính khách thường thường là có tính cách xă giao và luôn luôn thay đổi, thay đổi với từng lọai người đối thoại và thay đổi với hoàn cảnh lịch sử hay hoàn cảnh chính trị khi họ tuyên bố hay nói chuyện. Sự thay đổi này cũng giống như Hoa Kỳ hay bất kỳ các cường quốc nào thay đồi chính sách của họ.

Nhưng v́ không biết sử dụng lư trí để phân biệt được sự khác nhau giữa một bên là những sự kiện lịch sử và một bên là lời nói nặng tính cách phỉnh nịnh của các nhà chính khách để lấy ḷng người đối thoại, cho nên các ông trí thức Ca-tô tự nhận là những người Việt "Quốc Gia chân chính" thường hay đem lời nói của  Chủ Tịch Hồ Chí Minh phỉnh nịnh khen ông Ngô Đ́nh Diệm (vào đầu năm 1963) là nhà ái quốc (để dụ khị con mồi ngả theo đường lối chính trị của miền Bắc) hay lời các Tổng Thống  Eisenhower và Johnson phỉnh nịnh bốc thơm ông Diệm (để khích lệ con mồi hăng say là tay sai cho họ) để chứng minh rằng ông Ngô Đ́nh Diệm là một nhà ái quốc chân chính đă chết v́ dân. Đúng là vừa ngu xuẩn (không biết chủ đích của những lời nói phỉnh nịnh nặng tính cách ngoại giáo của nhà chính khách trên đây)  vừa lưu manh (có dă tâm ḷe bịp người đời).

Một thí dụ khác nữa rơ ràng nhất và cũng gần đây nhất. Khi cho xuất bản các cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 1998 và 2000), bộ sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mă (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), và cuốn thơ song ngữ A Poem For My Children – Bài Thơ Cho Con (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), chúng tôi đều tŕnh bày những sự kiện lịch sử trên đây với những tài liệu  dẫn chứng rơ ràng (ngọai trừ cuốn A Poem For My Children) để hỗ trợ cho những lập luận  của chúng tôi đưa ra. V́ thế mà ngay cả các nhà trí thức "con chiên" ngoan đạo thuộc loại kiên cường bênh vực cho Giáo Hội La Mă cũng không thể phản biện được.

Vào đầu thập niên niên 1990, chính quyền Việt Nam thi hành chính sách đổi mới, bỏ lại quá khứ sau lưng để hướng về tương lai, thi hành chính sách ḥa đồng và đ̣an kết dân tộc với mục đích lôi kéo những thành phần vốn dĩ nằm trong thế lực thù địch của chính quyền hiên nay dù là ở quốc nội hay quốc ngoại để cùng bắt tay nhau xây dựng đất nước cho được phú cường  hầu có thể sánh vai cùng với các nước tiên tiến trong cộng đồng thế giới. Cũng v́ thế mà chính quyền Việt  Nam mới nói rằng cái nh́n lịch sử ngày nay đă khác, không c̣n căn cứ vào những trang sử đau buồn của đất nước khiến cho có thể làm thương tổn hay gây bất lợi cho chính sách đoàn kết quốc gia, đoàn kết dân tộc mà chính quyền đang theo đuổi và triệt để thi hành.

Đây là cơ hội tốt cho các ông văn nô đạo Chúa cũng như các nhà trí thức "Người Việt Quốc Gia"  được hả dạ.  Bấy lâu nay đang ở thế bí, không thể nào phản biện được những lập luận nêu lên trong các tác phẩm vạch trần bộ mặt của Giáo Hội La Mă của chúng tôi.  Các ông bèn chộp lấy lời tuyên bố  “cái nh́n về lịch sử ngày nay đă khác ngày xưa” của Nhà Nước Việt Nam để làm sức mạnh thuyết phục chúng tôi phải công nhận bằng văn tự rằng Giáo Hội La Mă là một “Hội Thánh duy nhât thánh thiện, công giáo và tông truyền”, rằng “ông Ngô Đ́nh Diệm là “một nhà ái quốc chân chính đă chết v́ dân” và ngay cả chính quyền Việt Nam hiện nay cũng công nhận theo! 

Một trong những ông trí thức này là Giáo-sư Nguyễn Văn Trung đă trực tiếp nói với người viết như vậy.  Vào ngày 10/11/2001, nhân dịp đến thành phố ở Seattle dự lễ kỷ niệm đệ tam hay đệ tứ chu niên ngày khai sinh ra tờ báo Chính Luận, Giáo-sư Nguyễn Văn Trung gọi điện thọai đến nhà tôi để xin được nói chuyện với vợ chồng chúng tôi.

Tuy có chút thắc mắc v́ chúng tôi chưa quen biết ông, nhưng đoán biết chuyện viết lách thế nào cũng liên hệ, vợ chồng tôi đồng ư đón ông về nhà tôi để nói chuyện. Có nhiều đề tài được nêu ra trong cuộc nói chuyện liên quan đến tư thế lịch sử của những người Công Giáo xưa kia được chính quyền miền Nam vinh danh. Nhưng có một chi tiết mà chúng tôi vẫn c̣n nhớ măi là câu ông tuyên bố:

Khi c̣n ở Việt Nam, tôi có may mắn được tiếp xúc với nhiều nhân vật cao cấp thuộc thành lănh đạo của chính quyền Việt Nam. Tất cả họ đều nói rằng cái nh́n về lịch sử của chúng tôi ngày nay khác với ngày xưa. Cho nên, bây giờ, chúng tôi (chính quyền Việt Nam) không nói Giáo Hội La Mă là kẻ thù của dân tộc và cũng không muốn khơi lại những vết thương của đất nước mà nói rằng những người Việt Nam cộng tác với Pháp hay với Vatican hoặc là với Mỹ  là Việt gian. Họ cũng là những người yêu nước theo cách riêng của họ”. Như vậy, tôi yêu cầu anh (người viết) nên xét lại những lập luận trong những tác phẩm đă xuất bản và cả những tác phẩm đang viết hay sắp xuất bản của anh.” 

Vợ tôi thắc mắc:

Giáo-sư nói như thế có nghĩa là lịch sử sẽ tùy theo cái nh́n của các nhà cầm quyền hay sao?

Tôi tiếp theo:

Lịch sử là lịch sử, ở vào bất kỳ thời đại nào, hoàn cảnh nào hay thời thế như thế nào th́ những sự kiện lịch sử cũng vẫn không thay đổi. C̣n những lời lẽ của các nhà chính khách có tính cách xă giao và luôn luôn thay đổi với từng lọai người đối thoại và thay đổi với hoàn cảnh lịch sử hay hoàn cảnh chính trị khi họ nói.

Sự thay đổi này cũng giống như Hoa Kỳ hay bất kỳ các cường quốc nào thay đồi chính sách của họ.  Cũng v́ thế mà từ giữa thập niên 1950 cho đến đầu thập niên 1970, Hoa Kỳ coi miền Nam Việt Nam là tiền đồn chống lại làn sống Cộng Sản đang dâng tràn từ phương Bắc và triệt để thi hành chính sách Chống Cộng, nuôi dưỡng chính quyền và quân đội miền Nam làm công cụ phục vụ cho nhu cầu  chiến lược chống Cộng này của họ.

Nhưng đến đầu thập niên 1970,  sau khi  đă kết thân được với Trung Cộng (trở thành bạn  của Hoa Kỳ), Hoa Kỳ  đă thay đổi chính sách đối với với Trung Hoa lục địa và cũng thay đổi chính sách đối với miền Nam Việt Nam kể từ đó. Sự thật như thế nào, chắc giáo sư cũng đă rơ!"

Nghe tôi lư luận như thế, Giáo-sư Nguyễn Văn Trung tỏ ra thất vọng, và không kềm được sự tức giận, ông đề nghị:

Nếu bây giờ, chúng tôi tổ chức một cuộc hội thảo để nhận xét về các cuốn Đệ Nhất Cộng Ḥa Ṭan Thư  1954-1963 và hai cuốn Thực Chất  của Giáo Hội La Mă của anh, th́ anh nghĩ thế nào?”

Tôi đáp:

Tùy theo thành phần tham dự cuộc hội thảo này. NẾU thành phần tham dự cuộc hội thảo này gồm toàn những người nằm trong Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm và những người tự nhận là những người "Quốc Gia chân chính", tôn vinh ông Ngô Đ́nh Diệm lên làm lănh tụ  anh minh của họ, TH̀ tất cả  tác phẩm của tôi sẽ bị lên án và  cá nhân tôi sẽ bị sỉ vả, bị chửi bới bằng đủ mọi thứ  ngôn từ vô cùng hạ cấp theo đúng truyền thống trong đạo Ki-tô La Mă.

Ngược lại, NẾU những thành phần tham dự cuộc hội thảo này gồm những người có kiến thức lịch sử, thấu hiểu lịch sử thế giới, thấu hiểu lịch sử Giáo Hội La Mă cũng như lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại cùng với những thành phần ngoài đạo Ki-tô, và  cũng là nạn nhân của các chế độ đạo phiệt Ca-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975,  TH̀ chắc chắn  là phần thắng sẽ về tôi,  và những người bênh vực Giáo Hội La Mă và chế độ đạo phiệt Ca-tô của ông Ngô Đ́nh Diệm sẽ bị lên án là bọn cuồng nô vô tổ quốc, vong phản  dân tộc.”

Đến đây, Giáo-sư Trung chuyển sang câu chuyện khác.

Phần tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rơ với phương cách  “đào tạo thanh thiếu niên hay con người theo tinh thần công giáo” của Nhà Thờ Vatican đă làm cho các tế bào lư trí trong trung khu năo bộ của những người tiếp nhận sở học của họ qua chính sách này bị thui chột và tê liệt, khiến cho họ không c̣n khả năng lư trí để t́m hiểu sự vật hay không c̣n khả năng để phân tách được thuật ngữ của một chính trị gia hay các nhà ngoai giao chuyên nghiệp.

Những thuật ngữ ngoại giao điển h́nh có thể kể khi Cụ Hồ Chí Minh có lần nói "ông Ngô Đ́nh Diệm là một nhà ái quốc” (sic) và các nhà lănh đạo hay các nhân vật cao cấp chính quyền Việt Nam nói với giới tu sĩ Công giáo và các ông “dân Chúa” rằng, cái nh́n của họ  về lịch sử ngày nay đă khác hẳn ngày xưa rồi . Ngay cả đến một giáo sư đại học như nhà trí thức "con chiên" Nguyễn Văn Trung mà c̣n không biết sử dụng lư trí để suy luận, cho nên mới không hiểu được chiều sâu của thuật ngữ trên đây của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, th́ c̣n nói chi đến các ông trí thức nửa mùa mới học xong bậc cử nhân hay mới học xong bậc trung học họăc là mới học xong cấp II bậc trung học!

Ngoài những sự kiện đă được tŕnh bày ở trên,  độc giả có thể kiểm chứng vấn đề này bằng cách t́m  đọc những tác phẩm của các tác giả dân Chúa được gọi là trí thức như các  ông Lê Hữu Mục,  Nguyễn Văn Lục, Lữ Giang (Tú Gàn tức Nguyễn Cần), Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Văn Chức, Lâm Lễ Trinh, Tôn Thất Thiện, Nguyễn Học Tập, Phan Thiết (Nguyễn Kim Khánh), hoặc là đọc những bài viết với những ngôn từ thiếu giáo dục được phổ biến trên các diễn đàn điện tử hay trong xă hội E-mail  đang thịnh hành hỉện nay của  những ông "con chiên" học hành chưa qua bậc trung học hay chưa học xong hết bậc 1 (bậc cử nhân) ở đại học.

Không dạy cho học sinh  phương cách viết điểm sách (book report). V́ không được học phương pháp điểm sách, cho nên khi họ viết điểm sách của các tác giả mà họ không ưa thích họ t́m cách hạ giá và sỉ vả tác giả bằng cách bới móc đời tư  và thêm thắt nhiều điều không tốt để bôi bác và sỉ vả tác giả. Thành thử ra bài "điểm sách" của họ trở thành bài  viết “điểm mặt” tác giả. Đây là trường hợp ông "con chiên" Trương Phú Thứ  viết bài “Đọc Sách: A Poem For My Children” đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 559 tháng 5 năm 1999, trang 26, 27, 86 và 87, viết bài (Điểm sách) Xóm Đạo của tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn đăng trên diễn đàn Take2Tango (http://www.take2tango.com/?display = 6761) ngày 25/4/2009 cũng như những trường hợp của các tác giả dân Chúa khác viết bài và viết sách nói về cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Hoa Kỳ: TXB, 1986). Đây cũng là một nét đặc thù của nền văn hóa Ca-tô của các ông bà “dân Chúa” thường rêu rao là  “sống theo lương tâm Công Giáo” hay “sống đạo theo đức tin Ki-tô”. 

Không dạy cho học sinh, sinh viên biết phương pháp viết bài tiểu luận, khảo luận,  biên soạn một cuốn sách theo phương pháp khảo luận. Hậu quả là:

a.- Chỉ đạo lănh vực viết lách của kẻ khác sang đề tài chống cộng. Khi phải đối đầu với bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mă của người viết th́, họ đặt vấn đề  là “Tại sao không viết về miền Bắc Việt Nam hay các chế độ Cộng Sản?” mà lại “chỉ viết về Miền Nam và Giáo Hội La Mă?”

Không phải chỉ có một người mà có rất nhiều người đặt ra câu hỏi như trên. Thưa rằng ngay ở các lớp bậc trung học, các em học sinh đă được dạy phương cách viết “điểm sách” và “viết tiểu luận”, theo đó có thể chọn bất cứ đề tài nào mà tác giả cảm thấy thích thú hay có khả năng nhất, và các câu chuyện cũng phải xoay quanh đề tài đó mà thôi, nếu không sẽ cho là bị lac đề

Đặt ra câu hỏi như vậy là hàm hồ, lố bịch và sống sượng, biểu lộ thái độ lo sợ về những sự thật xấu xa trong khu rừng của đủ mọi thứ tội ác của Nhà Thờ Vatican sẽ bị phơi bày ra trước công luận. Có thể những người hỏi như thế nghĩ rằng Giáo Hội La Mă là một vùng cấm địa mà không một ai được rớ hay nói tới. Nhưng ở thời đại ngày nay, không ai được phép bịt miệng kẻ khác nói những điều có thật của lịch sử.

b.- Tự ư bắt quặt sang lái đề tài khác (lại cũng chống cộng) khi ở vào thế bí, thành ra lạc đề. Tệ hơn nữa, nhiều khi không thể tranh luận được, họ lại quay ra lên án hay gán cho đối thủ những tội danh tưởng tượng để tránh né và che lấp t́nh trạng thiếu hiểu biết hay dốt nát của họ về đề tài. T́nh trạng này đă xẩy ra rất thông thường trong các cộng đồng tín hữu của Vatcian và những người đồng minh chống Cộng của họ ở hải ngọai.

c.- Để chống lại công tŕnh sưu khảo mà kết luận bất lợi cho nhà thờ, những văn sĩ Ca-tô chê bai rằng viết theo phương pháp khảo luận là “tạp ghi cóp nhặt quan điểm của nhiều người và nhiều tác giả..” Đây là trường hợp ông (cựu luật sư) Nguyễn Văn Chức nói về cuốn Việt Nam Chính Sử (Fall Church, VA: Alpha, 1992) với nguyên văn như sau:

“Cuốn VNMLQHT không phải là một cuốn hồi kư. Đúng hơn, nó là một tạp ghi cóp nhặt quan điểm của nhiều người và nhiều tác giả. 93 cuốn sách và 52 tạp chí được trích dẫn. Bản thân ông Đỗ Mậu chỉ xuất đó đây như một loại giây leo c̣m cơi sống bám vào những chất liệu cóp nhặt.”[10]  

 

Làm cho giáo dân và nhân dân dưới quyền hầu như không biết ǵ về quốc sử, không biết ǵ về lịch sự thế giới, và cũng không biết ǵ về lịch sử Giáo Hội La Mă, mà chỉ biết những ǵ mà Giáo Hội cho biết. Muốn đạt được mục đích bất chính này, Nhà Thờ Vatican phải nắm lấy phần chủ động trong việc làm chương tŕnh học để họ quyết định: 

a.- Không đưa vào chương tŕnh học toàn bộ những bài học quốc sử và cấm phổ biến những sách sử mà Giáo Hội không cho phép. Nếu v́ miễn cưỡng phải có môn quốc sử trong chương tŕnh học, tay sai của Nhà Thờ Vatican chọn lọc một số bài lịch sử và tóm lược đến mức độ chỉ c̣n là h́nh thức cho lấy có, rồi đưa vào chương tŕnh. Việc làm như thế đă giảm thiểu tối đa giá trị của các bài học có thể kích thích ḷng yêu nước của thanh thiếu niên.

Kết quả là học sinh chỉ mơ mơ hồ hồ về quốc sử và có thể nói là không biết ǵ về quốc sử. Người viết đă tiếp xúc với rất nhiều con chiên của Nhà Thờ Vatican, hầu hết họ không biết ǵ về quốc sử, nhưng lại nhớ khá rơ về các ông Abraham, Moses, các vua Saul, vua David, vua Salomon, vua Hérode, v.v… của nước Do Thái. Trái lại, hầu như họ không biết ǵ các vua Hùng dựng nước và các triều đại Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê, Tây Sơn và Nguyễn của dân tộc ta.

Độc giả có thể kiểm chứng vấn đề này bằng cách đọc những mấy trang  1592-1593 trong cuốn Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Fall Church, VA: Alpha, 1991) của Linh-muc Vũ Đ́nh Hoạt, trong đó ông cho rằng “Chuyện Vua Hùng là Chuyên hoang đường không đáng tin.”  Điều khôi hài là trong khi đó th́ ông ta lại tin tưởng mănh liệt vào cả rừng chuyện láo khoét cực kỳ hoang đường gấp triệu lần trong thánh kinh Ki-tô nếu so với chuyện các vua Hùng của dân tộc Việt Nam ta.

Một số trong cái rừng chuyện cực kỳ hoang đường này là (1) hai cục đất sét được nặn ra giống như h́nh người rồi hà hơi vào thành con người thực sự có đủ cả thất t́nh và lục dục và bảo rằng hai cái khối đất sét h́nh người này là ông bà tổ của lọai người, (2) chuyện con rắn biết nói xúi giục bà Eva ăn trái cây hiểu biết, (3) chuyện Chúa tạo dựng nên vũ trụ trong 6 ngày, (4) chuyên Chúa hiện thân là thánh ma (holy Ghost) xuống hiếp dâm bà Maria mang bầu và đẻ ra ông Jesus, (5) chuyện bà Maria đă từng có tám người con mà vẫn c̣n trinh, v.v... 

Chúng ta biết rằng những người không biết quốc sử th́ không có ḷng yêu nước. Như vậy rơ ràng là chủ trương của Nhà Thờ Vatican là phải làm thế nào để bọn con chiên và người dân dưới quyền không có ḷng yêu nước. Có như vậy th́ Vatican mới dễ dàng mê hoặc và sử dụng họ vào việc chống lại đất nước và dân tộc của họ. Hành động của các tín hữu người Việt trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay là bằng chứng rơ ràng cho sự kiện này. Đó là kết quả đầy thắng lợi của Vatican trong việc hạn chế, cắt xén và kiểm soát gắt gao môn quốc sử.

b.- Không đưa toàn bộ những bài học lịch sử thế giới vào chương tŕnh học và triệt để cấm phổ biến những sách sử có đầy đủ toàn bộ bài học lịch sử thế giới từ A đến Z. Trong chương tŕnh học, nếu bất đắc dĩ phải có những bài học lịch sử thế giới, th́ đó chỉ là những bài học đă được chọn lọc và đă bị sửa lại để mất đi cái ư nghĩa đích thực của nó.

Về vấn đề kiểm soát gắt gao môn lịch sử thế giới, xin đọc các trang 99-101 trong cuốn Đời Viêt Văn của Tôi  (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1986) của tác gỉa Nguyễn Hiên Lê. Mấy trang sách này đă được chúng tôi trích dấn trong Tiểu Mục A: Coi nhẹ vấn đề đào tạo giáo viên dạy môn Sử Địa và Công Dân (nơi tiều đề nói về mối lo âu) ở trên và cũng nằm trong chương sách này. 

Sở dĩ Giáo Hội phải làm như vậy là để tránh né, không làm nguy hại đến hệ thống tín lư Ki-tô hoặc là không phơi bày ra những việc làm tội ác của Nhà Thờ Vatican chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Đại khái là những bài học có liên hệ đến những đề tài dưới đây bị Nhà Thờ loại bỏ khỏi chương tŕnh học hoặc bị diễn dịch sai lạc để bóp méo sự thật:

Thứ nhất là lư thuyết khoa học khẳng định rằng trái đất đă xuất hiện ở trong vũ trụ cách đây hàng nhiều triệu năm và bầy người đầu tiên cũng đă có mặt ở trên trái đất này cách đây cả mấy triệu năm. (Lư do là những điều này hoàn toàn trái ngược với những ǵ đă nói trong thánh kinh).

Thứ hai là những bước tiến của loài người trong các lănh vực khoa học, kỹ thuật, chính trị, văn chương, học thuật và xă hội. (Lư do là v́ những vấn đề này sẽ phơi bày ra những tính cách và thủ đọan dối trá trong thánh kinh và trong những lời dạy của Nhà Thờ Vatican).

Thứ ba là các Phong Trào Đ̣i Cải Cách Tôn Giáo (The Reformation 1309-1648), Thời Đại Lư Trí (the Age of Reason - 1500-1789), Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ (The Age of Democratic Revolutions - 1603-1815), Các Phong Trào Xă Hội Phản Đối Thế Lực Đương Quyền (Movements of Social Protest 1800-1900),  v.v... Đây cũng là những phần quan trọng mà Giáo Hội La Mă có chủ tâm bưng bít và đă bưng bít liên tục cho đến ngày nay.

Thứ tư là thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882).

Thứ năm là đời sống hoang đàng, loạn luân, loạn dâm và phi luân của các giáo hoàng và giới tu sĩ.

Thứ sáu là những cuộc tranh giành quyền lực và tàn sát lăn nhau trong Giáo Hội La Mă.

Thứ bảy là việc phát động các cuộc thập tự chiến và việc thiết lập các Ṭa Án Xử Dị Giáo.

Thứ tám là việc ban hành những thánh lệnh ăn cướp (đất đai) trong thế kỷ 15.

Thứ chín là phong trào các nước Âu Châu vùng lên làm cách mạng chống lại Vatican.

Thứ mười là những hành động Vatican cấu kết với các cường quyền Âu Châu để áp bức và bóc lột nhân dân.

Thứ mười một là những hành động Vatican cấu kết với các đế quốc xâm lược đem quân đi chinh phục đất đai ở ngoài Âu Châu làm thuộc địa.  

c. Cô lập giáo dân: Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Linh-mục Trần Tam Tỉnh có ghi lại trong  cuốn Thập Giá và Lưỡi Guơm về chủ trương quy tụ giáo dân vào sống trong một công đồng riêng biệt để thi hành chính sách bưng bít những ǵ mà Nhà Thờ Vatican muốn bưng bít:

"Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại  thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đ̣an ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều ǵ không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mac, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh  đă dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng  ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, c̣n giáo dân th́ không thể rờ tới.)"[11]

 

  Nhồi nhét vào đầu óc con chiên những tín lư Ki-tô nhảm nhí phản khoa học và những lời dạy lưu manh, phản nhân luân, bất nhân, bất nghĩa và phản khoa học. Song song với việc dùng phương pháp độc thoại và kiểm sóat chặt chẽ những bài học sử trong chương tŕnh học, Nhà Thờ Vatican c̣n triệt để nhồi nhét vào đầu óc tín đồ:

a.- Những tín lư Ki-tô chọn lọc lấy từ trong thánh kinh nhưng sửa đổi sao cho phù hợp với chính sách tuyền truyền của Giáo Hội, (Xin xem các sách trong Cựu Ước và Tân Ước để biết về những tín lư Ki-tô nhảm nhí này. Một số trong những tín lư này đă được tŕnh bày ở trên.)

b.- Những lời dạy bịp bợm và cực kỳ lưu manh của Giáo Hội. Dưới đây là một số những lời dạy hoặc những lập luận gian xảo của Giáo Hội mà tất cả mọi giáo dân ngoan đạo (cuồng tín), đều phải tuân thủ:

1.- Niềm tin tôn giáo không cần đến lư trí.

2.- Phúc cho ai không thấy mà tin.

3.- Vâng lời quư hơn của lễ. Phải quên ḿnh trong vâng phục

4.- Chỉ cần có một niềm tin bằng hạt cải th́ có thể bê cả trái núi quăng xuống biển.

5.- Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Ṭa Thánh Vatican và các đấng bề trên. 

6.- Không ai có quyền xét đoán Giáo Hoàng.

7.-  Chỉ có Giáo Hội La Mă mới được quyền cai quản toàn cầu. Các hoàng đế và vua chúa sẽ được hôn bàn chân của Giáo Hoàng khi đến thăm (bệ kiến) ông ta. Chỉ công nhận quyền lực của Ṭa Thánh Vatican, chỉ công nhận các chính quyền Liên Minh với Ṭa Thánh Vatican và các chính quyền đă tuân phục Vatican hay các thế lực liên minh với Vatican.

8.- Ngoài Giáo Hội, không có cứu rỗi.

9.- Chuyện tốt khoe ra, chuyện xấu che lại. Phải giấu kín những chuyện xấu trong giáo hội, không nên để cho người ngoại đạo được biết.

10.- Cha (linh mục) là đại diện của Chúa. Phải coi Cha như Chúa. Những ǵ Cha nói và hành động là nói và hành động theo ư Chúa.

11.- Là giáo dân ngoan đạo, không được bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha, sẽ bị Chúa trừng phạt đày xuống hỏa ngục đời đời. Nếu các Cha có làm ǵ sai trái, th́ đă có Chúa phán xét. 

12.- Giáo Hoàng có thể giải trừ cho nhân dân khỏi phải làm bổn phận đối với các ác quyền bất công, tức là xúi giục nhân dân chống lại các chính quyền nào không chịu thần phục Vatican.  Nhà Thờ Vatican đă và đang làm như vậy đối với chính quyền Việt Nam. Những hành động của Giám mục Ngô Quang Kiệt và những linh mục xúi xục giáo dân (đàn cừu non) Hà Nội chống phá chính quyền, từ cuối năm 2007 đến nay là bằng chứng.   

Thực ra c̣n nhiều lắm! Người viết chỉ  tạm đưa ra sơ sơ 17 lời dạy trên đây của Nhà Thờ  Vatican. Lấy lư trí và phân tách, chúng ta thấy bất kỳ lời dạy nào trên đây của Nhà Thờ Vatican cũng hàm chứa ư đồ phỉnh gạt và lừa bịp tín đồ với dă tâm bốc hốt và vơ vét  thật nhiều quyền lực vào trong tay. Những người ngoan đạo đă bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mă làm cho thui chột hết tất cả những tế bào lư trí trong năo bộ, cho nên họ không c̣n có khả năng nh́n ra cái dă tâm bịp bợm của Vatican trong những lời dạy trên đây.

Chúng ta thấy những lời dạy bịp bợm và vơ vào trên đây của Nhà Thờ Vatican hoàn toàn trái ngược với những lời dạy hết sức vô tư và hoàn toàn vô vị lợi với chủ tâm chỉ  muốn rèn luyện cho con người để họ biết sử dụng lư trí  hầu có thể hành xử sao cho "vừa mắt ta ra mắt người" và cũng là để khỏi bị người đời lừa gạt. Dưới đây là mười lời khuyên dạy vô tư của Nhà Phật.

1.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó là truyền thuyết.

2.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó thuộc về truyền thống.

3.- Chớ vội tin vào điều ǵ, chỉ v́ điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

4.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó được ghi lại trong kinh điển hay trong sách vở.

5.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó thuộc lư luận siêu h́nh.

6.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó phù hợp với lập trường của ḿnh

7.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

8.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó phù hợp với định kiến của ḿnh.

9.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

10.- Chớ vội tin một điều ǵ, chỉ v́ điều đó được các nhà truyền giáo hay đạo sư của ḿnh truyền thuyết.” [12]

T́m hiểu sâu rộng hơn nữa,  chúng ta sẽ thấy rằng, Vatican hay Giáo Hội La Mă không những chỉ  đ̣i hỏi tín đồ phải triệt để vâng lời và tuân thủ những lời dạy nặng tính cách phỉnh gạt, lừa bịp và vơ vào (như đă nói ở trên), mà c̣n có chủ tâm cưỡng bách tín đồ phải triêt để  hành xử đúng theo lời giáo huấn phi luân giống y hệt như những lời phán phi luân của Chúa Jesus trong  Matthew (10: 34-37) [đă trích dẫn ở trên]. Sự kiện này được ông Phan Đ́nh Diệm, một trí thức Ca-tô và cũng là Hội Trưởng Hội Giê-Su Giáo (Houston, Texas) ghi lại như sau: 

"XÉT RẰNG (4): Công Đồng Chung thứ 19 Tridentinô (Trentô 1545-1564), Giáo Hội đă ra tay củng cố "quyền giáo huấn" là một "chân lư tuyệt đối". Công Đồng đưa ra tín lư và giáo điều vào canon h́nh luật (thánh luật), một lời nói phạm vào điều cấm của một canon (thánh luật) là thụ án hỏa thiêu sống dễ như chơi. Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v... trước ṭa án của Giáo Hội. Giáo Ḥang Paul IV (1555-1559) tuyên bố: "Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn"  v.v... Ví dụ canon thứ nhất bị thiếu sống, viết: "Nếu bất cứ ai nói rằng, con người có thể tự biện minh trước Thiên Chúa bằng việc làm của chính nó, bất kể việc làm qua giáo huấn nhân bản tự nhiên, hay giáo huấn của luật, nhưng không qua ân sủng của Thiên Chúa, (không) thông qua Đức Jesus Kitô, nó phải tuyệt thông (let him be anathema)...Hàng trăm "canon anathema chi li vụn vặt như thế", giáo điều được "huấn quyền tuyệt đối của Giáo Hội" đưa vào h́nh luật, giết hại cơ man nào là người trong 8 thế kỷ (năm 1232, Giáo Ḥang Gregory IX (1227-1241) thiết lập ṭa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition).  Một phương ngôn của khoa thần học Roma là: "Khi Giáo Hội Roma nói, mọi tiếng nói khác phải câm đi". Một Giáo Hội tự "tuyệt đối hóa" ḿnh nắm cực quyền trên sinh mạng sống đồng loại như thế, người ta không thể nói đến dân chủ.” [13]

Những lời dạy phản nhân luân và mất dạy này đă  ảnh hưởng mạnh mẽ vào đầu óc của những con chiên và những người Việt Nam tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Vatican trong thời kỳ 1862-1945 trên toàn cơi Đông Dương, và đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975. Chính sách giáo dục mà Giáo Hội La Mă luôn luôn đ̣i hỏi phải để cho Giáo Hội có một nền giáo dục độc lập để “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo” là như thế đó!  

Đây là chính sách giáo dục khốn nạn và dă man nhất trong lịch sử nhân loại v́ nó sẽ làm cho con người mất hết t́nh thương yêu hồn nhiên bẩm sinh đối với những người thân thương trong gia đ́nh cũng như đối với tổ quốc và dân tộc. Tác dụng của nó là làm cho mối liên hệ giữa con người và con người như lứa đôi trai gái, vợ chồng, cha mẹ và con cái phải nhường bước trước "đức tin Kitô" hay "ḷng kính thương" của họ đối với Giáo Hội La Mă. Nói cho rơ hơn, chủ tâm của Nhà Thờ Vatican là làm cho mất đi cái sức mạnh t́nh yêu  thương  giữa những người trong cùng một gia đ́nh và t́nh yêu cúa người dân đối với đất nước.

Một khi  đă mất đi cái sức mạnh của  thứ t́nh yêu này, th́  nền tảng của gia đ́nh bị băng họai. Ở vào t́nh trạng này, con người trở nên bơ vơ trơ trọi và phải t́m một điểm tựa khác để bấu víu mà  dựa vào. Giáo Hội tin rằng, Giáo Hội sẽ là điểm tựa cho tín đồ ở vào trường hợp này, và khi đó tín đồ sẽ dành hết ḷng kính yêu của họ cho Giáo Hội (được ngụy trang là "t́nh yêu đối với Thiên Chúa").

Ng̣ai việc làm dă man trên đây, Giáo Hội c̣n có chủ tâm hủy diệt t́nh yêu dân tộc và t́nh yêu tổ quốc trong ḷng tín đồ. Có nhiều bằng chứng về chủ trương dă man này  bằng hành động cũng như bằng  những ngôn từ  của giới tu sĩ và bọn trí thức Ca-tô:

1.- Trong 27 nguyên tắc của bản tuyên cáo "Dictatus papae"  do Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) ban hành vào năm 1075, có hai nguyên tắc nói thẳng thừng rằng, “chỉ có Giáo Hội La Mă  mới được quyền cai quản toàn cầu” Giáo Hoàng có quyền truất phế tất cả các ông hoàng đế.” (Chương 13 sẽ nói rơ vấn đề này.) 

2.- Các nhà truyền giáo dạy dỗ tín đồ người Việt rằng, “Đừng thừa nhận quyền lực nhà vua và luật pháp nước họ” và dạy con chiên rằng “Đức Giáo Hoàng ở La Mă (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, học chỉ tuân phục quyền lực của Ṭa Thánh Vatican mà thôi.”[14]  

3.- Trong câu vè “Nhất Chúa, nh́ cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”[15] mà Nhà Thờ Vatican sáng tác rả để giáo dục giáo dân người Việt trong nững năm 1954-1963.  

4.- Tháng 8 năm 1964, Linh-mục Hoàng Quỳnh đă đưa ra khẩu hiệu “Thà mát nước, chứ không thà mất Chúa.”[16] Khẩu hiệu này được coi như một triết lư hành động được nêu lên cho giáo dân theo đó mà hành xử.  

5.- Linh-mục Trịnh Văn Phát viết: 

”Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đă suy nghĩ và tự hỏi ḿnh phải làm ǵ cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với giáo hội v́ tôi là người của giáo  hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho giáo hội. Có nhiều anh em yêu  cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời tôi không có tự do  chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của giáo hội.” [17]    

6.- Ông "con chiên" Petrus Trương Vĩnh Kư viết thư thỉnh cầu vị chỉ huy đạo quân thập ác của nước Pháp c̣n nằm ở ngoài khơi Việt Nam gấp rút tiến đánh Việt Nam. Lá thư này được ghi lại trong sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 188-1945 (Tập 1) với nguyên văn như sau:

"Tháng 3/1859, Petrus Key viết "Grand Chef et Vous Tous, très honorables officers de la flotte francaise": Ayez pitié de nous; Ayez pitié de nous. Vous êtes nos libérateurs et la main des ennemis nous a touchés! Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous savons aussi que qui trop embrasse mal étreint; Et cependant nos souffrances nous poussent à invoquer votre puissance et à vous exposer du fond du coeur tout ce que je viens de soumettre à votre prudence et à votre sagesse." [18]  

7.-  Ông cựu luật-sư Công giáo Nguyễn Văn Chức viết:  

”...Bổn phận của chúng ta, người công giáo tỵ nạn, đối với Giáo Hội và  quê hương... V́ vậy, nếu trong công cuộc loại trừ bạo quyền Cộng Sản, tôn  giáo tại Việt Nam là động lực vận hành và thúc đẩy, th́ trong công cuộc  phục hưng con người sau khi xóa bỏ chế độ Cộng Sản, tôn giáo tại Việt  Nam sẽ là nhân tố chủ đạo, chỉ đạo và quyết định. Riêng về phía Thiên  Chúa Giáo, quyền Thánh Kinh sẽ là cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con  người và đạo lư tại Việt Nam.” [19]  

Rơ ràng là ông Gia-tô Nguyễn Văn Chức muốn đem quyển Thánh Kinh đầy những tín lư hoang đường nhảm nhí với những lời dạy độc ác, trả thù, tàn sát những người khác tôn giáo cực kỳ dă man, những chuyện loạn luân, phản nhân luân và luân dâm loàn để làm cẩm nang dạy dỗ đàn con chiên Việt Nam. Đồng thời, ông ta lại tỏ ra là một tín đồ ngoan đạo, tuyệt đối trung thành với Ṭa Thánh Vatican, triệt để tuân hành những lời dạy láo khóet trong Thánh Kinh và lời dạy lưu manh của Giáo Hội rằng “Đức Giáo Hoàng ở La Mă (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ phải tuân phục quyền lực  của Ṭa Thánh Vatican mà thôi.”  Ông ta cũng đă cụ thể hóa ḷng trung thành với Ṭa Thánh Vatican bằng lá thư đề ngày 25/2/1955 thỉnh cầu Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thành lập đạo quân thập tự Việt Nam để bảo vệ chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đ́nh Diệm và thi hành sứ mạng mở mang nước Chúa của ông bằng bạo lực. Xin xem toàn bộ bản chụp lá thư này nói các trang 527-529 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư 1954-1963 (Tacoma, Washington, 1998). 

Độc đáo hơn nữa, trong bài viết “Một Khuôn Mặt Siêu Việt Trong Một Thế Giới Hữu Hạn”, đăng trong Tạp Chí Thế Giới Ngày Nay Số 139, nơi trang 51, ông Nguyễn Văn Chức c̣n viết một câu văn bất hủ chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Nguyên văn câu đó như sau:  

“Đối thoại với Giáo Hoàng là mang tội bất kính, là phường vô lại hay vô  giáo dục” Trần Chung Ngọc. “Vài ư kiên về  bài “Được Đối Thọai Với Giáo Hoang John Paul II” của ông Đơ Mạnh Trí.” [20]  

8.-  Các ông "con chiên" Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lư Ṭng Bá, v.v...,  hùa nhau thành lập cái gọi là Việt Nam Cộng Ḥa Foundation, rồi viết thư gửi Liên Hiệp Quốc yêu câu cơ quan này dùng quyền lực tái lập việc t́nh trạng chíi đôi đất nước Việt Nam thân thương của chúng ta để thành lập chế độ đạo phiệt Ca-tô làm tay sai cho Giáo Hội La Mă  với danh xưng tàng h́nh là Việt Nam Cộng Ḥa, giống như thời "chế độ Diệm" (1954--1963) và "chế độ Diệm không Diệm" (1967-1975).[21]  

9.-  Ông Gia-tô Nguyễn Mậu viết:  

”Vấn đề được nêu lên ở đây với tất cả mạo muội và run sợ v́ có thể bị xem  như là vô lễ phạm thượng. Chúng tôi trông vào sự độ lượng của hàng giáo  phẩm cũng như hy vọng rằng sự trưởng thành của giáo dân ở thời đại này  sẽ giúp thật nhiều cho sự thể hiện lư tưởng Ki tô hữu.”  Nguyễn Mậu. “Thời Sự Trong Tuần.”[22]

Nực cười nhất là suốt trong chiều dài lich sử cận và hiện đại của nước ta, khi  lao vào làm những hành động vong bản, phản quốc, phản dân tộc, tàn sát những người đồng hương thuộc các tín ngưỡng khác, cướp của, đốt nhà, đốt chùa, phá đ́nh, phá miếu, hăm hiếp đàn bà con gái, giết người, mổ bụng, phanh ngực nạn nhân lấy gan đem nướng và lấy mật ḥa với rượu, rồi ngồi nhậu hả hê với nhau th́ họ KHÔNG RUN SỢ!. Ấy thế mà khi phải nêu lên một vấn đề ǵ với các đấng bề trên của họ th́ họ RUN SỢ, coi là "VÔ LỄ, "PHẠM THƯỢNG", và họ cho rằng "Đối thoại với Giáo Hoàng là mang tội bất kính, là phường vô lại hay vô  giáo dục”.  Chính sách đào tạo thanh thiếu niên “theo tinh thần công giáo” của Nhà Thờ Vatican đă biến tín đồ Ca-tô người Việt thành hạng người siêu  ngu xuẩn, siêu hèn hạ và siêu dă man như thế đó! 

10.- Ngày 15/3/2001,  Giám-mục Nguyễn Văn Thuận tuyên bố những lời lẽ phản quốc để đời như sau: 

“Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao th́ cứ nhớ lại biến cố Đông Âu th́ rơ.” [23] 

Ai cũng hiểu rằng khi đưa ra lời tuyên bố như vậy là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận muốn nhắn nhủ những người đồng đạo của ông ta rằng:  

“Yên trí đi, tuy rằng không tuyên bố ồn ào hay công khai, nhưng Ṭa Thánh Vatican đă và đang hành động tiến chiếm Việt Nam giống như trước đây Vatican đă làm ở Đông Âu và Việt Nam trước đây.”  

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận được coi như một trong số mấy người Việt Nam đi tu leo lên chức vụ hồng y. Khác với các ông hồng y người Việt Nam khác, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận được tín đồ Ca-tô người Việt xưng tụng hết ḿnh v́ ông này là cháu gọi Ngô Đ́nh Diệm bằng cậu (cậu ruột). T́nh trạng được xưng tụng này đă khiến cho hồng y Nguyễn Văn Thuận vốn dĩ mang cái bản chất hợm hĩnh, huênh hoang khoác lác của truyền thống trong xă hội dân Chúa, lại càng trở nên hợm hĩnh, huênh hoang khóac lác nhiều hơn. Cũng v́ thế mà khi đến California, vào ngày 15/3/2001, ông hồng ư này mới đưa ra lời tuyên bố phản quốc để đời như trên. 

Lời tuyên bố trên đây chứng tỏ rằng ông Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đă đặt quyền lợi của Ṭa Thánh Vatican lên trên quyền lợi của tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Nói cho rơ hơn, ông ta đă coi Vatican là nước tổ và coi tổ quốc Việt Nam là thù địch.  

Đưa ra lời tuyên bố phản quốc trên đây, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đă để lộ cho mọi người thấy rơ ông ta  là một thằng mất gốc và phản quốc. Chúng ta biết rằng bất cứ một người Việt Nam nào cũng thấu hiểu cái truyền thống “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” của dân tộc Việt Nam ta. Ai cũng biết rằng ngày nay Việt Nam có được giải giang sơn chạy dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu và lan sang tới biên giới Việt Miên tại Hà Tiên là nhờ công lao mồ hôi và xương máu của tiền nhân ta trong các công cuộc dựng nước, mở nước và giữ nước từ mấy ngàn năm cho đến bây giờ. Không biết khi tuyên bố như vậy, ông hồng y này có nhớ rằng ông ngoại của ông ta là Ngô Đ́nh Khả và người cậu ruột của ông ta là ông Ngô Đ́nh Diệm cũng đă từng “tuyệt đối tin tưởng vào Vatican” để rồi cha con nối tiếp nhau gục mặt đi trên bốn chân làm tay sai cho quân cướp ngoại thù Thập Ác Vatican. Bố (Ngô Đ́nh Khả) th́ đào mả nhà ái quốc Phan Đ́nh Phùng, lấy xác đốt thành tro, rồi lấy tro trộn vào thuốc súng bắn đi để lập công với giặc, con (Ngô Đ́nh Diệm)i th́ tổ chức một cuộc đại lễ hiến dâng cả nước Việt Nam cho Đức Bà Maria để làm hài ḷng Vatican.  Đúng là: 

Trứng rồng lại nở ra rồng,

Việt gian lại đẻ ra ḍng Việt gian. (Nhại ca dao Việt Nam). 

11.- Ông Nguyễn Gia Kiểng viết đọan văn  ngược ngạo, hết sức Ca-tô trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn như sau:

"Việc bách hại  người Công Giáo đă là một vết nhơ khó tẩy xóa được trong lịch sử Việt Nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt Nam, chứ không phải một đ̣an quân xâm lược nào, đă tàn sát một số lớn người Việt Nam hoàn toàn vô tội. Thảm kịch c̣n lớn hơn nữa v́ nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ. 

"Điều ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền Việt Nam nào, nhân danh sự liên tục quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai làm kinh khủng đó."  [24] 

12.- Giáo sĩ và giáo dân người Việt thuờng sử dụng  cụm từ  “Phục vụ Chúa”. 

Vấn đề đặt ra là đă nói rằng, “Chúa toàn năng, toàn thiện, có mặt ở khắp mọi nơi và biến hóa vô cùng”, th́ Chúa đâu có cần ai phục vụ, nếu không phải là “phục vụ Nhà Thờ Vatican”, góp bàn tay theo đuổi tham vọng bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại? 

 

⊙⊙⊙

 

Trên đây là một số bằng chứng về cái bản chất vong bản, phản quốc, phản dân tộc, phản quê hương và  tinh thần khiếp sợ Ṭa Thánh Vatican, khiếp sợ các ngài mang chức thánh trong Giáo Giáo Hội La Mă của bọn tu sĩ và "con chiên" Việt Nam. Chúng ta thấy tất cả những lời tuyên cáo, dạy dỗ, khẩu hiệu sặc mùi chính trị độc tôn của Nhà Thờ Vatican trên đây hoàn toàn trái với truyền thống văn hóa của dân ta với những châm ngôn như “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “Việc nước trước việc nhà”, “Phục vụ tổ quốc” , “V́ nước quên minh”  hay “Vị quốc vong thân”,  và: “Chết v́ tổ quốc, Cái chết vinh quang, Ḷng ta sung sướng, Trí ta nhẹ nhàng.” (Khi hiên ngang  bước lên đọan đầu đài, người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học đă ung dung đọc mấy câu thơ này.)   

Như vậy, rơ ràng là dă tâm của Nhà Thờ Vatican vừa biến tín đồ thành hạng người vừa mất hết t́nh yêu hồn nhiên đối với những người thân thương đối với gia đ́nh, vừa mất hết t́nh yêu thiêng liêng đối với dân tộc và tổ quốc, vừa chẳng biết v́ đâu mà con người đă vươn lên tới nền văn  minh tin học như ngày nay. 

Chúng ta biết rằng, những người không có t́nh yêu đối với gia đ́nh sẽ trở thành một đứa con hoang trong xă hội,  những người không có t́nh yêu thiêng liêng đối với dân tộc và tổ quốc th́ sẽ trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng quốc gia, và những con người không biết gỉ về những cuộc tranh đấu gao go cam khổ của tiền nhân  để chống chọi với thiên nhiên và chống lại các thế lực kỳ đà cản trở bước tiến hóa của loài người th́ sẽ trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng nhân lọai. 

Về phương diện tâm lư, những người  mà  t́nh yêu lứa đôi hay t́nh yêu vợ chồng hoặc t́nh yêu gia đ́nh  BỊ HỦY DIỆT hay KHÔNG CÓ  hoặc COI NHẸ (bất kể là lư do ǵ), đều là lọai người  bất b́nh thường.  Hầu hết những người bất b́nh thường  thuộc lọai này đều là những người KHÔNG C̉N NHÂN TÍNH. Chúng ta biết rằng, những con người không c̣n nhân tính sẽ hành động chẳng khác ǵ loài súc sinh.

Như vậy là với chủ trương sử dụng những người thân thương trong gia đ́nh để nằm vùng ŕnh ṃ ḍ xét lẫn nhau rồi báo cáo với các đấng bề trên của họ, Giáo Hội đă có dă tâm "súc vật hóa con người", biến con người xuống hàng "súc sinh" và làm băng họai xă hội. Trong Chương 10 ở sau, chúng tôi sẽ nêu lên những con người mất hết nhân tính trong xă hội Ki-tô. 

 

CHÚ THÍCH


[1]The News Tribune [Tacoma, Washingon] 2 March 2009, Morning edition: B6. 

[2] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàig̣n: Lửa Thiêng, 1973), tr. 66.

[3] Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Westminster, CA:  Văn Nghệ,1986), tr. 99-101.

"Đầu niên khóa 1954-55 trong chương tŕnh Trung Học Đệ Nhất Cấp có thêm môn Lịch- sử Thế-giới dạy trong 4 năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi phải chép "cua" (cours). Ông đồng ư. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ; ông viết hai cuốn giữa cho lớp đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in; năm 1955 in xong trước kỳ tựu trường tháng chín. Bộ (Lịch-sử Thế-giới) đó khá chạy, sau tôi nhường cho nhà Khai Trí tái bản.  

Một chuyện đáng ghi là v́ bộ (sử) đó mà năm 1956 tôi bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát (tôi) là "đầu óc đầy rác rưởi" chỉ v́ chúng tôi nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồn gốc loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc giả đó là người Công Giáo.  

Sau đó lại có một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết bộ (lịch sử thế giới) đó v́ trong cuốn II viết về thời Trung Cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài ông Giáo-hoàng. Bộ phái một viên bí thư có bằng cấp cử nhân tiếp xúc với tôi. Ông này nhă-nhặn khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như đọc bộ sử Pháp của Michelet; rồi nói rằng sách của tôi được bộ Thông Tin cho phép in, lại nạp bản rồi, th́ không có lư ǵ tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông cáo cho các trường đừng dùng thôi: cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, c̣n bán th́ tôi cứ bán, không ngại ǵ cả. Tôi chiều ḷng ông ta. Ông ta lại hỏi lớp mẫu giáo của tôi đă được phép của bộ chưa. Tôi đáp: Đơn nộp cả năm rồi, giấy tờ đủ cả, tôi đă nhắc Sở Giáo Dục thành phố, mà người ta cứ làm thinh, không cho phép mà cũng không cấm. Ông ta chỉ gật đầu. Hồi đó bộ Lịch Sử Thế Giới của tôi chỉ c̣n một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó, trong Nam th́ không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết. Tôi không tái bản. Công Giáo thời đó lên chân như vậy. Nghe nói một ông tỉnh trưởng ở miền Tây không dám cho hội Phật Giáo cất chùa trong thị xă và bảo: "Công Giáo cất nhà thờ, bây giờ Phật Giáo cũng xin cất chùa, bộ các người muốn ḱnh với Công Giáo hả?"

Một hôm bà láng giềng của tôi cho hay: "Ít lâu nay tôi thấy ngày nào cũng có một hai người ngồi ở quán cà phê bên kia đường nh́n về phía nhà thầy và nhà tôi như ŕnh cái ǵ. Hôm qua một người vào nhà hỏi tôi: "Ông Lê ở nhà bên lúc này đi đâu mà không thấy?" Tôi đáp: "Ông ấy đau, nằm ở trong pḥng, chứ đi đâu? Thầy cứ vô mà hỏi. Rồi họ đi". Vậy là mật vụ ŕnh tôi mà tôi không biết. V́ tôi là công chức thời Pháp mà tản cư lâu quá, về lại không hợp tác với chính phủ Diệm, hay v́ bộ Lịch Sử Thế Giới mà họ theo dơi như vậy? Có lẽ cả hai.  

Hơn một chục năm sau, một giáo sư ở Huế vào thăm tôi, hỏi: "Tại sao hồi đó ông không làm đơn tŕnh bày rằng ông đă dùng sách nào để viết về các ông giáo hoàng thời Trung Cổ đó, rồi xin cho bộ sử của ông được dùng trong các trường?" Tôi đáp: "Không khi nào tôi làm việc xin xỏ đó". Sau ngày 30-4-1975, giáo sư đó lại thăm tôi nữa, bảo: "Tôi phục tư cách của ông từ hồi đó."

[4] Nguyễn Ngọc Quỳ. “Tản Mạn Quanh Cuốn Trần Lục.” http://www.sachhiem.net/ LICHSU/NguyenNgocQuy.php  Ngày 5 tháng 4, 2009.

“Trước hết, điểm mặt xem ai nâng Trần Lục lên: Hội Truyền thống Giáo phận Phát Diệm, Đức ông Trần Ngọc Thụ (Rome), các LM Nguyễn Thái B́nh, Trần Phúc Vị, Trần Phúc Nhân (ba vị nầy từ Việt Nam qua), LM Nguyễn Gia Đệ (Canada), LM Trần Quư Thiện, hai Đức ông, 3 Linh Mục, cùng với ông Lê Hữu Mục và 5 trí thức giáo sư Công giáo (đồng tác giả trong một cuốn sách dày 640 trang để vinh danh và ca tụng LM Trần Lục) , ông Vũ Quang Ninh và ông Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh, hai nhân sĩ Công giáo tại Mỹ, …như thế cũng tạm đủ để kết luận tính đại diện cho quan điểm Sử học và Văn hóa của toàn bộ Giáo hội Công giáo Việt Nam về con người Trần Lục rồi. Vả lại, cho đến giờ nầy, không thấy một cuốn sách nào của người Công giáo viết "khác", lại càng chẳng thấy một người Công giáo Việt Nam nào lên tiếng "phản đối" các vị nầy, kể cả những chuyên viên viết lách Công giáo lúc nào cũng sẳn sàng đ̣i "dạy Sử" cho cả nước như các ông "tiến sĩ" Cao Thế Dung, ông Tú Gàn thẩm phán Nguyễn Cần và ông cựu Nghị sĩ đao to búa lớn Nguyễn văn Chức.

Bây giờ hăy xem họ nâng ông Cha Trần Lục nầy lên đến độ cao nào: "danh nhân anh tài không những của Giáo hội Công giáo mà c̣n của dân tộc Việt Nam chúng ta" (LM Trần Quí Thiện), "danh nhân không những trong nước Việt Nam mà c̣n cả ngoài nước", "(Đức Ông Trần văn Khả)", "đức độ và tài ba", "LM Trần Lục là một vĩ nhân của lịch sử hiện đại" (ông Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh), "gương chung cổ cho người cả nước đời đời soi chung" (ông Vũ Huy Bá), …và nhiều lời tâng bốc mà chính những anh hùng liệt nữ nước ta như các bà Trưng bà Triệu, và các vị Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học cũng không sánh bằng.”

[5] Nguyễn Ngọc Quỳ. Tlđd.

“Trong buổi hầu chuyện duy nhất với Bác Hoàng Xuân Hăn lúc tôi vừa mới chân ướt chân ráo đến Paris, Bác có cho biết lư do Bác luôn luôn nặng ḷng với quê hương là v́ Bác nghiên cứu Sử. Càng biết nhiều về những biến cố đă xảy ra trên quê hương, và càng biết rơ dân tộc ta đă đối trị với những biến cố đó như thế nào, Bác lại càng thấy gắn bó thiết tha với con người và đất nước Việt Nam. Bác c̣n dặn thêm là phải đan bện hiểu biết Sử học với hiểu biết Văn hóa và Địa lư để tạo thành thế chân vạc Văn-Sử-Địa th́ kiến thức mới vững vàng và tấm ḷng mới sắt son. Tôi luôn luôn ghi nhớ lời căn dặn đó của Bác trong quá tŕnh nghiên cứu và viết lách nghiệp dư của ḿnh.

Lời căn dặn nầy lại càng thúc bách hơn vào tháng Mười năm nay, khi một người bạn gửi tặng cuốn "Linh Mục Trần Lục – Thực Chất Con Người và Sự Nghiệp" do hai ông Bùi Kha và Trần Chung Ngọc viết, tạp chí Giao Điểm xuất bản. Nội dung cuốn sách không có ǵ mới mẻ đối với chúng tôi, những người quan tâm đến lănh vực nghiên cứu Sử Việt Nam, nhất là từ lúc văn khố Pháp ở Aix-en-Provence công khai hóa các sử liệu cho dân chúng tự do tham khảo. Chuyện ông cha Trần Lục nầy, ai đọc Sử kỹ càng mà chẳng biết. Ngay từ lúc c̣n học Chu Văn An ở Sài G̣n trước 1975, "Trần Lục" đă là một đề tài thảo luận sôi nổi (và suưt đi đến đấm đá) giữa đám học sinh chúng tôi và những người bạn học sinh Công Giáo ở trường Trần Lục.

  Chúng tôi, lúc đó, có rất ít sử liệu và không trả lời được một luận cứ chẳng dính líu ǵ đến chủ đề thảo luận, nhưng họ cũng cứ dùng để phản bác: "Nếu đă gọi Linh Mục là người theo Tây phản quốc th́ tại sao Chính phủ, bộ Quốc gia Giáo dục, và toàn thể trí thức Việt Nam không ai phản đối việc đặt tên ngôi trường Trần Lục của chúng tôi. Dễ cả nước mù hết hay sao ?". Phải sau 1975, ra đến nước ngoài và được tự do tiếp cận với nhiều nguồn thông tin gốc, tôi mới trả lời được câu hỏi "cả nước có mù hay không" đó. Và buồn cho nền giáo dục miền Nam, nơi tôi đă thâu nhận kiến thức Trung học, năm phút! Buồn cho một thủ đô miền Nam, vừa có hai tên đường Phan Đ́nh Phùng và Đinh Công Tráng, lại vừa có tên trường của chính kẻ đă đắc lực góp công giúp Tây tiêu diệt hai vị anh hùng chống xâm lăng nầy: Trần Lục! Từ chuyện cũ của Miền Nam đó, bây giờ chuyện hải ngoại cũng lại giống y chang, nổi cộm lên ray rứt cả trong đầu lẫn trong tim.

Một người đă hướng dẫn và cung cấp cho quân xâm lược 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh B́nh của nước ta, một người đă huy động 5.000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đ́nh của anh hùng Đinh Công Tráng, một người đă từng bị lănh tụ chống xâm lăng Phan Đ́nh Phùng đè ra hỏi tội và đánh đ̣n công khai, một người đă từng được quân xâm lăng Pháp tưởng thưởng công lao bằng hai Bắc Đẩu Bội Tinh, một người như thế mà lại được cộng đồng chức sắc và trí thức Công giáo hải ngoại, cho đến giờ nầy, vẫn c̣n ồn ào "nâng" lên thành anh tài của Việt Nam và vĩ nhân của thế giới, th́ làm sao lư giải được hiện tượng chua xót và … quái đản nầy?

Trước hết, điểm mặt xem ai nâng Trần Lục lên: Hội Truyền thống Giáo phận Phát Diệm, Đức ông Trần Ngọc Thụ (Rome), các LM Nguyễn Thái B́nh, Trần Phúc Vị, Trần Phúc Nhân (ba vị nầy từ Việt Nam qua), LM Nguyễn Gia Đệ (Canada), LM Trần Quư Thiện, hai Đức ông, 3 Linh Mục, cùng với ông Lê Hữu Mục và 5 trí thức giáo sư Công giáo (đồng tác giả trong một cuốn sách dày 640 trang để vinh danh và ca tụng LM Trần Lục) , ông Vũ Quang Ninh và ông Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh, hai nhân sĩ Công giáo tại Mỹ, …như thế cũng tạm đủ để kết luận tính đại diện cho quan điểm Sử học và Văn hóa của toàn bộ Giáo hội Công giáo Việt Nam về con người Trần Lục rồi. Vả lại, cho đến giờ nầy, không thấy một cuốn sách nào của người Công giáo viết "khác", lại càng chẳng thấy một người Công giáo Việt Nam nào lên tiếng "phản đối" các vị nầy, kể cả những chuyên viên viết lách Công giáo lúc nào cũng sẳn sàng đ̣i "dạy Sử" cho cả nước như các ông "tiến sĩ" Cao Thế Dung, ông Tú Gàn thẩm phán Nguyễn Cần và ông cựu Nghị sĩ đao to búa lớn Nguyễn văn Chức.

Bây giờ hăy xem họ nâng ông Cha Trần Lục nầy lên đến độ cao nào: "danh nhân anh tài không những của Giáo hội Công giáo mà c̣n của dân tộc Việt Nam chúng ta" (LM Trần Quí Thiện), "danh nhân không những trong nước Việt Nam mà c̣n cả ngoài nước" " (Đức Ông Trần văn Khả) ", "đức độ và tài ba", "LM Trần Lục là một vĩ nhân của lịch sử hiện đại" (ông Sơn Diệm Vũ NgọcÁnh), "gương chung cổ cho người cả nước đời đời soi chung" (ông Vũ Huy Bá), …và nhiều lời tâng bốc mà chính những anh hùng liệt nữ nước ta như các bà Trưng bà Triệu, và các vị Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học cũng không sánh bằng.

Nhưng Cụ Sáu Trần Lục ơi ! "Danh" ǵ cũng không thay được cái danh dâng người và súng cho quân xâm lược, "Đức" ǵ cũng không thay được cái đức bị cụ Phan đánh cho ba roi, "Tài" ǵ cũng không thay được cái tài huy động Giáo dân tiêu diệt chiến lũy của nghĩa quân Ba Đ́nh, "Gương" ǵ cũng không thay được cái gương cúi đầu nhận Bắc Đẩu Bội Tinh của giặc. Thế mà nào là Đức ông , nào là Linh Mục, nào là Giáo dân trí thức cứ đội Cụ Sáu lên đến chín tầng mây. Quái đản thật ! Cụ làm vĩ nhân của Công giáo, nhất là Công giáo Việt Nam, th́ đúng quá rồi, nhưng họ c̣n muốn Cụ làm vĩ nhân của cả dân tộc Việt Nam và cả nhân loại nữa th́ Cụ có chịu không?

Tôi bèn kết hợp người "nâng", cách "nâng", và đối tượng được "nâng" lại với nhau trong một phương tŕnh, và giật ḿnh t́m ra được đáp án cho hiện tượng quái đản nói trên: Cứ người Công giáo làm th́ Công giáo Việt Nam phải nhắm mắt mà khen. Bất chấp chuyện làm có xấu mấy chăng nữa! Họ không lư đến sự thật, và cũng chẳng cần đắn đo xem có xúc phạm đến dân tộc hay không. T́nh cảm tôn giáo của người Công giáo Việt Nam mạnh hơn liên đới của họ với đất nước Việt Nam, và áp đảo hẵn một chút lương thiện trí thức nào đó c̣n sót lại của tinh thần đại học mà họ đă tiếp thu. Họ chỉ có một tiêu chuẩn để đánh giá: Có lợi hay có hại cho Công giáo? Cho nên, để có lợi cho Công giáo, họ đă lạy Trần Lục th́ làm sao mà thờ Đinh Công Tráng và Phan Đ́nh Phùng được, v́ có điều nầy th́ không thể có điều kia !  

Đáp án nầy không chỉ giải thích riêng "vụ" Trần Lục, mà c̣n làm sáng tỏ thêm ứng xử văn hóa và đánh giá lịch sử (lúc đầu có vẽ khó hiểu) của họ qua những trường hợp rơ ràng không chối cải được khi họ chạy tội cho những đồng đạo Pétrus Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Bá Ṭng, Lê Hữu Từ, Nguyễn Trường Tộ, Alexandre de Rhodes, … hay khi họ phản ứng hằn học với các phong trào yêu nước chống xâm lăng của Văn Thân, Cần Vương, và các vua chúa triều Nguyễn. Điều thê thảm và bất hạnh cho chính họ (và một phần rất nhỏ cho dân tộc Việt Nam) là ứng xử tâm lư đó đă trở thành vận động có tính quy luật trong tâm thức tôn giáo của người Công giáo Việt Nam. Họ muốn thành thật cưỡng chống cũng không được! Ta muốn hết sức giúp họ giải hoặc th́ bị họ xem như kẻ thù !  

Hăy lấy vụ ông Ngô Đ́nh Diệm như một trường hợp cụ thể và điển h́nh để khảo sát: "Chuyện" chỉ mới xảy ra chưa đến 40 năm, tài liệu khả tín và nhân chứng sống c̣n đó, đầy đủ và rơ ràng. Chỉ riêng ở Pháp (là quốc gia dính dự ít đến biến cố nầy), tài liệu gốc và tác phẩm Sử có đăng kư tại Thư viện trong vùng Paris mà thôi cũng đă gần 200 tài liệu. Từ mười năm nay tôi đă để tâm đọc hết và thấy tuyệt đại đa số đều đi đến một kết luận rằng đó là một chế độ thất bại về mặt quản trị quốc gia và tồi tệ về mặt đạo đức luân lư, chỉ trừ một số rất ít sách t́m cách chống đỡ, bào chữa, lại c̣n vinh danh chế độ nầy ! Tác giả số sách rất ít đó, dĩ nhiên, là Linh mục và giáo dân (Pháp và Việt). V́ ông Diệm là Công giáo, nên Linh mục và giáo dân (và chỉ họ mà thôi) cứ ḅ dài ra mà tung hô. Rất đơn giản !

Ở Mỹ, th́ sự tương phản đó c̣n đậm nét hơn. Cho nên tôi vẫn thắc mắc tự hỏi không biết các "bộ óc chiến lược" của người Công giáo ở đâu mà không thấy rằng càng ngụy biện bào chữa th́ tội bán nước của Giáo hội càng bị phát hiện nhiều thêm, càng tô son trét phấn cho cái gọi là "tinh thần Ngô Đ́nh Diệm" th́ chân tướng phi dân tộc của tinh thần đó càng bị phát lộ. Và kéo theo nó, như vụ Trần Lục, những phản bác giúp cả nước thấy rơ thêm lịch sử h́nh thành đen tối của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Đúng là cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng !

Do đó mà câu hỏi vẫn c̣n nguyên vẹn, và câu trả lời vẫn là có cái ǵ không ổn trong tư duy và t́nh cảm của người Công giáo Việt Nam. Tại sao chỉ người Công giáo lại có loại ứng xử quái đản rất đậm nét, đều khắp và có tính quy luật như thế ? Và tại sao khi thêm thuộc tính "Việt Nam" vào đặc tính "Công giáo"của họ, th́ cường độ đậm nét, đều khắp và có tính quy luật nầy lại gia tăng lên gấp bội ?

V́ vậy mà những nóc nhà thờ bắt chước một cách thô kệch dáng uốn cong của kiến trúc mái chùa, những buổi lễ đạo có áo thụng xanh khăn chít đỏ màu mè cho ra vẽ dân tộc … mà người Công giáo Việt Nam bày đặt dàn dựng, thực chất chỉ là lớp phấn son kệch cởm nhằm tự dối ḿnh và đánh lừa người. Tại v́ bên dưới dáng mái cong và bên trong lớp áo thụng đó mà vẫn c̣n giới chức sắc và lớp trí thức lạy thờ và vinh danh những loại Việt gian như Trần Lục, th́ căn tính nô lệ ngoại bang và truyền thống theo đạo bán nước của Giáo Hội làm sao gột bỏ được.

Con đường trở về với dân tộc thật là dễ dàng mà cũng thật lắm chông gai ! Dễ v́ trẽ mục đồng lên năm ê a mấy câu hát ca dao của thôn dă Việt Nam cũng làm được, nhưng khó v́ đă đội năm ba cái mũ Hồng Y của Vatican, mang trong người hai ba cái bằng thần học Tây phương, th́ muôn đời cũng không mở mắt được.

Cho nên Bác Hăn ơi, hiểu Sử đă thật là khó. Nhưng ứng xử theo những ǵ ḿnh đă học, th́ đối với một số người Việt Nam mất gốc xa nguồn lại có truyền thống làm tay sai cho giặc, thật không phải dễ thưa Bác.- N.N.Q, Paris 11-1999.”

[6] Lư Chánh Trung, T́m Về Dân Tộc (Sàig̣n: Lửa Thiêng, 1972), tr. 25-26.

[7] Lê Hoàng "Christian Arguments for God's Existence.”<MTLKTRACE@HOTMAIL.COM>, diễn đàn email (23/3/2009).

[8] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35 & 171.

[9] Nigel Cawthorne, Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators  (Londen: Arcturus, 2004), tr. 167-168.

[10] Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Chính Sử (Fall Church, VA: Alpha, 1992), tr.1.

[11] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 54.

[12] Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hàng Ngày (New Delhi, Ấn Độ:Đạo Phật Ngày Nay, 2002), tr. 98-99.

[13]  Phan Đ́nh Diệm. "Tuyên Cáo 6 ngày15/6/1999". tanvien@kitohoc.com. Ngày 19/9/1999.

[14] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam  1858-1897 (Saint Raphael, TXB, 1995), tr. 17.

[15] Nguyễn Ngọc Ngạn , Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 18.

[16] Chu Văn Tŕnh, Văn Sử Địa (Tavares, Florida:Vab Tu Thư Tự Lực, 1989), tr. 80.

[17]  Trịnh Văn Phát. Cảm Nghi Một Chuyến Đi. (Đăng trong Giáo  Hoang Học Viện PIÔ - Liên Lạc Số 2 - Nhóm Úc Châu th?c hi?n, tháng 7 năm  1995, tr 72.

[18]  Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 - Tập 1 (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), tr. 130 .

[19]  Chu Văn Trinh, Thái Vân & Trần Quang Anh. Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Ḥa B́nh Của Giáo Chủ John Paul II (Mt. Dora, Florida: Ban Tu Thư Sử Địa, 1994), tr 10

[20]  Trần Chung Ngọc. "Vài Ư Kiến về bài  "Được Đối Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II " của ông Đỗ Mạnh Trí." Giao Điểm Số 27 - Summer 1997: 18-26

[21]   Xin xem Chuong 1 và Chuong 2 sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Ḥa Foundation  (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004)

[22]   Nguyễn Mậu: "Thời Sự Trong Tuần"  Chính Nghia - Bộ Mới Số 251 [San Jose, California] ngày  03/12/1994.

[23]   Vi Anh. “Vatican Làm, Không Nói.” Việt Báo Miền Nam số 305, Thứ Bẩy 14/7/2001: A1.

[24]  Nguyễn Gia Kiểng, Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: TXB, 2001), tr. 187

 

Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, PHẦN II, Chương 8, sachhiem.net, ngày 3/7/09

Trong Đại Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

NDVN, ngày 5/7/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend