NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TR̉ CHƠI BÁ ĐẠO DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN CỦA KYTÔ TÂY PHƯƠNG


Flag of Vietnam.svg

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CACờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris: Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

 

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

Tony Blair picture 1811810

Lê Hồng Phong

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu  

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

 Giuse Phạm Hữu Tạo  

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

* "BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa..... (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) - (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 – tr 7 Liên Thành Biến Động Miền Trung)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ? Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?

5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ.... 

 

 

  

 

 

TR̉ CHƠI BÁ ĐẠO DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN

 CỦA KYTÔ TÂY PHƯƠNG

 

Thiên Lôi

 

 

Trong vài năm qua ta nghe Tây phương gia tăng cường độ liên tục lên tiếng kêu gọi các nước khác phải tôn trọng Quyền Con Người (Human Rights), nhất là nhắm vào các nước Á châu cứng đầu khó bảo như Sri-Lanka, Myanmar, Bắc Hàn, Việt Nam, Trung Quốc vv… tuy bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đă được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố cách đây hơn 60 năm (Ngày 10 tháng 12 năm 1948).

 

Điều đáng nói hơn nữa là đám cựu quan viên chức Mít tị nạn của chế độ VNCH đă mồ yên mă đẹp, phát xuất từ Xóm đạo Bolsa đua nhau ăn theo, rầm rộ hết ra tuyên cáo này đến nghị quyết kia lên án Nhà nước Việt Nam vi phạm Nhân Quyền trầm trọng; lại c̣n có cả “mạng lưới nhân quyền” kết nối với những tổ chức Human Rights Watch của Tây phương, chủ yếu vẫn là Anh Mỹ, đua nhau khoe mẻ để giành… “phân” của chủ.

 

H́nh như những việc họ làm hơn 32 năm qua không được họ xem là vi phạm nhân quyền, như hô hào quyên tiền để phục quốc, lập khu kháng chiến ma, chuyển lửa về nhà, đ̣i Nhà nước Việt Nam bỏ điều 4 Hiến pháp, áp lực người tị nạn đừng gởi quà gởi tiền về Việt Nam trong khi bị Tây phương phong tỏa, cấm vận và ngăn Việt Nam vào các tổ chức quốc tế, nhất là WTO, tẩy chay du lịch về nước, chống các ca sĩ trẻ đến từ Việt Nam “làm công tác dân vận, theo nghị quyết… 36 kiểu”, chữi bới các “nhà sư quốc doanh” mỗi khi các vị ấy đi hoằng hóa ra hải ngoại, hô hào Liên tôn chống cộng (lạ thật, tôn giáo không phải dùng để tu thân đổi tánh làm điều thiện mà lại chỉ dùng cho việc … chống cộng?), ủng hộ mấy lăo sư của GHPG-TN chống phá Nhà nước, hứa hẹn ‘không thành công th́ cũng được … đề bạt lănh giải Nobel ḥa b́nh made in Chợ Lớn” (mà chờ măi chẳng thấy tăm hơi), xúi giục gây rối với tṛ “dân oan khiếu kiện”, móc nối dân thiểu số dưới dạng “tín hữu Tin Lành Degar”, hậu bối của Fulro đ̣i độc lập tự trị ở tây nguyên, gởi người về nước liên lạc với bọn phản động cốt tạo bất ổn, xúi giáo dân đ̣i đất cho Vatican vv.. và vv.. .. À th́ ra chỉ có những ǵ địch làm th́ xấu, ta làm th́ v́ Chúa Cha nên tốt… y như Kinh Thánh đă dạy. C̣n Tây phương vốn là “bề trên” của ta nên lúc nào cũng ‘không thể sai lầm” được cả  

 

Nhưng tin mới nhất hồi đầu tháng 6 năm nay, trong cuộc viếng thăm cộng động người di tản ở Nam Cali, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak đă làm cho dân Chúa Vịt Xóm Đạo Bolsa phiền muộn năo nề không ít khi ông báo cáo những sự cải thiện nhân quyền tại Việt Nam mà nhóm dân này cho là tâng bốc Nhà nước Việt Nam: Ông bác bỏ các lời cáo buộc vi phạm tự do tôn giáo của mấy cái xóm đạo, và v́ thế không có chuyện đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ; và chỉ mới nửa nhiệm kỳ từ ngày nhậm chức 10 tháng 8, 2007 mà ông đă tạo điều kiện thuận lợi cho 12 ngàn sinh viên Việt sang du học tại Hoa Kỳ (một cách đầu tư dài hạn để tiện dùng về sau). Việc này đă được mấy cái loa của “các thiên thần truyền thông trên nóc nhà thờ” rêu rao là “dư luận chung cảm thấy thất vọng với những thông điệp của ông Đại sứ”. Như vậy là có sự “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” giữa chủ và tớ về t́nh trạng nhân quyền ở Việt Nam. Ai đúng ai sai?

 

Thật ra, đám dân Chúa Vịt Xóm đạo chỉ biết nhắm mắt nghe theo lệnh một chiều của các hồng y, hắc y đạo sĩ cán bộ của tổ chức ḿnh mà quang quác suốt ngày, quên mất chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là “không hề có bạn hoặc thù, chỉ có quyền lợi của nước Mỹ là trên hết”. Hiện nay t́nh thế ở châu Á, với sự lớn mạnh của Trung Quốc, đ̣i hỏi Mỹ phải thân thiện với các nước nhỏ trong vùng mong dùng họ làm tiền đồn bao vây nước Tàu, tuy hai bên vẫn giữ việc giao hảo về thương mại để dựa vào nhau mà tương kế tựu kế. Trung Quốc vươn vai dĩ nhiên làm cho Tây phương mất ăn mất ngủ, uy thế thượng phong cha chú của Mỹ trong vùng cũng bị đe dọa. Om x̣m đ̣i hỏi “Nhân Quyền hay Con Chiên Quyền” dĩ nhiên là không đúng lúc. Cũng may là ông đại sứ nói chuyện trên đất nước của ông chứ nếu không là đă bị đám dân Chúa Vịt Xóm đạo cuồng tín tạt… mắm tôm vào người và chụp cho cái nón cối theo phong cách dân Chúa ở Úc rồi.

Vậy th́ tṛ chơi Dân Chủ Nhân Quyền của Tây Phương nói chung có những hậu ư ǵ khác; hay chỉ là rượu mới b́nh cũ, chiến thuật giai đoạn cho việc thống trị toàn cầu?

 

I. Tiến bộ kỷ thuật:

 

Chúng ta thường cho rằng tiến bộ về kỷ thuật đă làm cho đời sống nhân loại bớt vất vả. Quả đúng thế, nhưng ta lại quên phần quan trọng là muốn đạt được mọi tiện nghi do nền tiến bộ ấy đem đến th́ tâm trí con người c̣n chịu vất vả và căng thẳng nhiều hơn và một số lớn đồng loại đă phải bị hy sinh nhân danh sự tiến bộ ấy.

 

Ai đă sống trong cái guồng máy ‘tiến bộ’ này đều phải luôn vận động trí óc chạy theo cho kịp đà văn minh kỷ thuật để khỏi bị lổi thời, bị vứt lại đằng sau. Thế rồi người người phải thi đua, nhà nhà phải thi đua và nước nước phải thi đua để sánh vai cùng nhau … tiến bước. Anh nào bước không nổi nữa th́ kẻ đi sau giẩm đạp cho đến chết không thương tiếc; thành ra mọi người đều trở nên ích kỷ chỉ biết có ḿnh và phe ta mà Tây phương thường đề cao ‘chủ nghĩa cá nhân’, rồi tiến dần thành ‘chủ nghĩa tư sản’, rồi ‘chủ nghĩa tư bản’… vô địch. Tham sân si trở thành chuyện thường t́nh, đầu môi chót lưởi. Ai không tham th́ kẻ ấy chắc là bị si. Giá trị của thần đô-la vượt hẳn các giá trị đạo đức, minh triết cổ xưa; từ đó cứu cánh phục vụ cho thần đô-la đă biện minh được cho mọi thủ đoạn. Khi có nhiều đô-la, ta cần phải bảo vệ nó, nghĩa là phải sản xuất thêm nhiều vũ khí giết người hàng loạt để phe ta sống phe nó chết và để vơ vét cho thêm nhiều của cải tài nguyên. Thế giới trở nên nhỏ bé, không c̣n có một ngày an b́nh v́ Tây phương dùng sự tiến bộ của ḿnh kéo lê bom đạn và chiến tranh đến khắp các chân trời góc biển của địa cầu.

 

II. Bá chủ của Tây phương:

 

Qua lịch sử, sau khi đế quốc La-mă dựng lên “bộ tôn giáo Vatican” ở thế kỷ thứ 4 để dễ bành trướng toàn cầu hơn, th́ cả châu Âu và các vùng quanh Địa Trung hải đều bị buộc phải cải đạo theo Ca-tô Rô-ma giáo. Đến thời Tây phương kéo quân chiếm thuộc địa ở thế kỷ 15, 16 lại cũng dùng tṛ cũ “bọn cố đạo đi trước, quân cướp nước theo sau”; cộng thêm với những tṛ ma mị lếu láo của các sắc lệnh từ giáo hoàng Nicholas V là Dum Diversas vào năm 1452, và Romanus Pontifex năm 1455 xúi giục bọn thực dân tỏa ra khắp địa cầu để cướp đất đai và nô lệ hóa dân tộc khác th́ rơ ràng là Chủ nghĩa đế quốc đă làm nẩy sinh ra Giáo hội Ca-tô toàn cầu. Đến khi nước Anh làm bá chủ các đại dương ở thế kỷ 19, chiếm hữu thuộc địa quanh thế giới đến nổi sử học Anh Mỹ từng hảnh diện là mặt trời không hề lặn trên đế quốc Anh; và sau cùng là Mỹ ở thê kỷ 20 lên ngôi minh chủ vơ lâm lập ra đế quốc mới khéo ngụy trang hơn nhưng tham vọng thống trị thế giới truyền lại từ tổ tiên không hề thuyên giảm. Mỹ cùng với đồng minh Tây phương, nhất là Anh, v́ có nhiều liên hệ lịch sử lâu dài, tự cho ḿnh có quyền áp đặt một cách độc đoán các giá trị văn hóa, tôn giáo, chính trị, xă hội riêng của ḿnh lên các dân tộc khác để đồng hóa họ. Do đó không tránh khỏi biết bao nhiêu va chạm với các nước khác, dù yếu kém hơn nhưng v́ nền độc lập dân tộc mà họ không hề chịu khuất phục.

 

Anh Mỹ với khối tư bản kếch sù do một thiểu số dân gốc Do thái (tổ tiên của họ đă từ châu Âu và nhất là ở  Anh di dân sang bắc Mỹ từ thời thuộc địa Anh ở đầu thế kỷ 17) gom lại thành tập đoàn đại tài phiệt siêu chính phủ nắm giữ, đă lèo lái chính sách ngoại giao của hai siêu cường này biến thế giới thành sân chơi riêng của họ để làm chúa trùm chi phối thiên hạ sự. Có người đă bảo rằng Đạo luật Federal Reserve Act (Nguồn Dự trử Liên bang) vào năm 1913 đă giao phó nền tài chánh của Mỹ vào tay tập đoàn đại tài phiệt này.

 

Đó cũng là động cơ lâu dài của việc ứng dụng Độc thần giáo Ki-tô vào thế gian. Ngày nay không ai c̣n lạ ǵ với những sự kiện thực tế này:

 

1. Sức mạnh quân sự của Anh-Mỹ không có đối thủ kể từ sau hai đại thế chiến. Thời đại đế quốc của châu Âu đă qua từ lâu đến nổi cựu bộ trưởng quốc pḥng Mỹ Rumsfeld đă khinh miệt gọi là “old Europe” (Châu Âu Già Nua) trong một chuyến công tác với NATO.

 

Thomas Omestad, một nhà bỉnh bút đă viết: “Ngày nay, vấn đề - nếu ta có thể gọi đó là “vấn đê” - là Mỹ cái ǵ cũng có tràn đầy. Hoa Kỳ đơn thân độc mă là quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới: Nền kinh tế của Mỹ, ngay cả khi húng hắng, cũng đă là một bộ máy ghê gớm. Sức mạnh quân sự của Mỹ, tính theo chi phí quốc pḥng, th́ cũng đă bằng tổng phí cọng lại của 25 quốc gia xếp hạng ngay sau Mỹ. Xét đoán theo chiều dài của nhiều thế kỹ, vị thế nầy th́ đơn giản có cái ǵ không b́nh thường; ngay cả sau Đệ nhị Thế chiến, khi Hoa kỳ đạt được địa vị siêu cường, Mỹ chỉ bị Mớtxcôva làm đối thủ”    (“Today the problem–if you can call it that–is that America's got plenty of everything. The United States stands alone as the most powerful nation in the world: Its economy, even when it sputters, is a formidable engine. Its military might, as measured by spending on defense, is the equal of the next 25 nations combined. Judged by the sweep of centuries, this position simply is not normal; even after World War II, when the United States achieved superpower status, it was matched by Moscow.”)

 

V́ thế những chính sách ngoại giao của Mỹ rất ngạo mạn, nhất là dưới thời Bush con. Khi muốn tấn công Iraq, nhưng c̣n đang e ngại dư luận quốc tế bất lợi thế mà một nhân viên của Ngũ Giác Đài đă nói huỵch toẹt trong một phiên họp ở ṭa Nhà Trắng rằng: “Nếu Mỹ là siêu cường duy nhất và trùm thiên hạ th́ nên làm ngay. Chúng ta không cần đồng minh.” (After a formal strategy session on Iraq had broken up in the Situation Room, two senior officials continued to argue about how the world's only superpower ought to act. The Pentagon's man said that if America has clout, it must use it: "This is the era of American hegemony," he argued. "We don't need allies.”)

Edward Luck, giám đốc Trung tâm Tổ chức Quốc tế thuộc Đại học Columbia đă nhận xét: “Ngay từ ban đầu của nhiệm kỳ thứ nhất, Bush con đă dị ứng với những sách lược ǵ có tên gọi “quốc tế”. Mỹ đă bác bỏ hay tránh xa những hiệp ước như “hâm nóng toàn cầu”, ṭa “tội ác chiến tranh”, “giới hạn đầu đạn hạch nhân tầm xa”, và “cấm các vũ khí hóa học”, cho nên đến khi Mỹ cần đến sự hợp tác quốc tế để tấn công Iraq th́ dĩ nhiên là nhận được sự đáp ứng nghi ngờ và nhạt nhẽo.” Do đó mà Bush con đă được gọi là Cowboy George v́ đă thích thực hiện loại "cowboy diplomacy."

 

Ngày nay, t́nh h́nh thế giới đă đưa đến sự thành h́nh thế chân vạc giữa các đại cường quốc là Anh-Mỹ, Nga và Trung quốc v́ những yếu tố cần và đủ để trở thành đại cường. Họ cố gắng tránh tối đa việc đương đầu trực tiếp v́ nguy cơ tiêu diệt lẫn nhau bằng nhiều loại vũ khí kinh thiên động địa; mà có thể nhân loại c̣n chưa biết đến ngoài hạch tâm và khinh khí đă được tiết lộ. V́ thế họ âm thầm thỏa hiệp với nhau về vùng đệm ảnh hưởng an toàn. Nhưng chiến tranh thế giới vẫn là giải pháp tuyệt vọng cuối cùng một khi không có thể thoả hiệp quyền lợi với nhau nữa. Các nước nhược tiểu chỉ c̣n đóng vai khán giả trên cầu trường hoặc con tốt trên bàn cờ; v́ thế nền độc lập và vẹn toàn lănh thổ của các nước nhỏ tùy thuộc vào sự khéo léo về bản lĩnh ngoại giao “quân bằng, đa diện, đa phương” của nhà lănh đạo để sinh tồn.

 

2. Trong thế ḥa hoản giữa các đại cường quốc th́ Tây phương tạm chơi tṛ kinh tế. Kinh tế Anh-Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới từ nguồn tư bản vơ vét được từ các thuộc địa trong giai đoạn đế quốc Anh và sau hai trận thế chiến. Trong một mô h́nh kinh tế học về “wealth condensation model”, J. P. Bouchaud và M. Mezard đă ngờ rằng 90% của “tổng tài sản thế giới” (total wealth) bị 5% dân số tại các quốc gia giàu có (tức nhóm tài phiệt Anh Mỹ và Tây phương nói chung) sở hữu. WTO là tiến tŕnh phải xảy ra để biến các nước khác thành chi nhánh của các siêu tổ hợp của Tây phương, và dần phải chiu ảnh hưởng của họ. Trong kinh doanh, nguồn tư bản kếch sù sẽ nắm hết các phương tiện sản xuất; các nước nhược tiểu chỉ tạm thời sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên không khai thác nổi, sức lao động rẻ tiền và nhanh chóng biến thành thị trường tiêu dùng mà thôi. Tùy t́nh thế, khi cần thiết Anh-Mỹ dùng vũ khí kinh tế để lũng đoạn nội t́nh nước khác một cách dễ dàng và đở tốn xương máu. 

 

3. Muốn bảo vệ quyền lợi kinh tế ấy, Anh-Mỹ luôn phối hợp tăng cường kỷ nghệ chiến tranh. Kỷ nghệ chiến tranh, bao gồm khoa học kỷ thuật, luôn là ngành đầu tư ưu tiên; phó sản của nó khi lổi thời sẽ dần được đưa vào dân dụng.

Ngành sản xuất vũ khí là nguồn kinh tài vô tận. Và muốn dây chuyền sản xuất này không ngừng trệ th́ phải luôn gây chiến tranh cục bộ khắp thế giới. Xương máu của nhân dân vô tội bị hy sinh là điều không thể tránh trong tiến tŕnh thâm độc này. Cuộc thi đua vũ trang có thể làm sụp đổ thể chế của vài quốc gia yếu kém.

 

Cựu tổng thống Dwight D. Eisenhower, trong bài diễn văn giả từ chính trường vào năm 1961, đă khuyến cáo dân Mỹ về “con quái vật” Phức Hợp Kỷ Nghệ Quân Sự (Military-Industrial Complex - MIC) của giới tài phiệt Mỹ sau thế chiến 2, quyền lực của nó mỗi ngày mỗi lớn và sẽ khó bề kiểm soát được trong tương lai. Ông c̣n nói trước đây nước Mỹ chưa bao giờ biết đến cái MIC này, và nó sẽ t́m mọi cách ảnh hưởng đến chính trị, xă hội của Hoa Kỳ trên mọi mặt. Mọi chính sách sẽ đều bị nó chi phối, ngay cả những nghiên cứu, phát kiến ở các đại học.

 

4. Ưu thế chiến lược tương lai nằm ở không gian, v́ thế các đại cường vẫn ráo riết thi đua vũ trang ở không gian, ngoài việc tranh đua trên địa cầu. Những tiết lộ về các khám phá khoa học thiên văn chỉ là vỏ bọc của những cuộc thí nghiệm vũ khí không gian và khí cụ gián điệp. V́ thế, ngày nay, khoảng không gian bao quanh quả đất đầy rẩy những mănh vở, đồ phế thải của các cuộc thám hiểm.

 

5. Đi đôi với những sách lược trên, Tây phương luôn phối hợp và t́m mọi cách can thiệp vào nội t́nh các nước chưa chịu vào quỉ đạo của ḿnh, trên mọi mặt qua những lớp bao xem như vô hại như tôn giáo, viện trợ nhân đạo, NGO, thiện nguyện cứu trợ, chuyển giao công nghệ, phóng viên báo chí, phim ảnh, y tế, giáo dục, và … đ̣i hỏi thực thi nhân quyền, tự do, nhất là tự do tôn giáo và chính trị dân chủ.

 

III. Vai tṛ của “Tự do Ngôn luận một chiều” và “Dư luận quần chúng”:

 

Một trong những đ̣i hỏi của bản tuyên ngôn về Quyền Con Người của LHQ có phần đề cập đến quyền tự do ngôn luận (xem ở phần IV kế tiếp). Nói th́ dễ mà làm th́ thực là khó.

 

V́ sao? V́ bản tuyên ngôn chỉ đưa ra những “đ̣i hỏi, cầu mong” của quần chúng bị trị, tựa như niềm tin tôn giáo của Ki-tô vào Chúa để tín đồ suốt đời chỉ được làm con chiên cầu nguyện mà thôi; c̣n quyền thực hành hay không và thực hành như thế nào lại nằm trong tay của các chính quyền, xưa kia là trong tay giáo hội Vatican , hoặc ở các nước Tây phương th́ nằm trong tay của tài phiệt lắm tiền nhiều của. Hay nói cách khác, là sự cách biệt giữa lư thuyết và thực hành.

 

Lợi dụng quyền tự do ngôn luận nên Tây phương tư bản đă dùng tiền bạc dồi dào giành độc quyền uốn nắn “dư luận quần chúng”. Muốn tạo ra cái gọi là “dư luận quần chúng”, chỉ cần nắm hai chỗ: 1) Bộ máy thông tin tuyên truyền. 2) Các nhà dân cử ở Quốc Hội; mà hai nơi này th́ đă nằm trong ṿng cương tỏa của nhóm tài phiệt từ lâu rồi.

 

1. Bộ Máy Thông tin Tuyên truyền:

 

Ngành truyền thông của Anh Mỹ là công cụ phát ngôn và vũ khí vận động của nhóm đại tài phiệt siêu chính phủ, chỉ có 5% dân số mà nắm giử đến 90% tài sản thế giới như đă nói trên. Ai cũng biết bộ máy này thường được dân Mỹ gọi là “luồng chính” (mainstreams) gồm khoảng 3 đại tổ hợp tạo dư luận quần chúng ABC, NBC và CBS đă do nhóm này lập ra từ lâu đời (sau nầy, c̣n thêm CNN và Fox khi các tổ hợp trên dần có vẻ lỗi thời). Từ đó, bộ máy này c̣n dựng nên những nhật báo in ấn có hệ thống phát hành khổng lồ ra toàn quốc và thế giới. Từ độc quyền kinh tài nên theo thời gian đă trở nên vô địch, không ai có đủ khả năng tài chánh để thành đối thủ. Ngày nay th́ xem ra các websites, blog, facebook, twitter, … trên internet có phần lấn át, nhưng vẫn nằm trong tay nhóm này. Từ ngày kỷ thuật điện toán phát triển th́ vai tṛ của internet, ngoài những lợi ích to lớn về tính toán học trong các chương tŕnh khảo cứu và thông tin, càng lúc càng đa dạng. Sư xâm nhập của nó vào các xă hội khép kín thật không có ǵ ngăn chận nỗi, và từ đó nền văn hóa Tây phương, luôn được giới trẻ hâm mộ v́ bề ngoài hào nhoáng và năng động của nó, có khả năng làm biến dạng các nền văn hóa bản xứ. 

 

Tài sản kếch sù của thế giới họ c̣n nắm hết th́ sá ǵ mấy cái bộ máy tuyên truyền. Tin tức tung ra đều có nội dung giống nhau, luận điệu thiên vị rơ rệt. Có luồng dư luận nào khác được tự do truyền bá? Muốn quảng cáo trên bộ máy này cũng chẳng có tiền kham nổi.

 

Bộ Máy Thông tin Tuyên truyền có nhiệm vụ to lớn là thường xuyên thực hiện các kế hoạch tẩy nảo, điều kiện hoá quần chúng và khuyến khích tiêu dùng hưởng thụ vật chẩt tối đa bằng mọi h́nh thức quảng cáo. Ngay cả cái mà ta gọi là phong tục tập quán ăn uống, vui chơi, thời trang, giải trí vv… đều do bộ máy này uốn nắn ra cả. Bộ máy truyền thông của Anh Mỹ c̣n là nơi sản xuất tin tức, thường là loại tin bất lợi cho nước không chịu khuất phục Hoa Kỳ. Nó thường tung ra những tin tức một chiều và ca tụng tư bản, đề cao chính sách của Mỹ và Tây phương; khinh rẻ, bôi bác các nước khác không phải đồng minh.

 

Ngoài ra c̣n có Hollywood mà bàn tay điều hành của nhóm đại tài phiệt Do thái có phần lộ liểu hơn cả. Nó chuyên sản xuất phim ảnh thường được cho là giải trí nhưng thật ra chen đệm phần tuyên truyền rất tinh vi cho các sách lược của Tây phương trên mọi mặt. Trong các bộ phim, Chúa Ki-tô Jehovah luôn phải thắng các Chúa khác nhất là Chúa Allah và phải luôn đề cao tín ngưỡng và văn hóa Do thái. C̣n phương tiện nào tạo nhiều ấn tượng hơn? Qua kỷ nghệ điện ảnh này, ta hiểu được sức mạnh của đồng đô-la đă có thể sai khiến được mọi hạng người trong và ngoài nước, tựa như người đạo diễn (Mỹ) cứ ngồi một chỗ có thể sai khiến diễn viên (chính khách quốc tế) nhảy nhót, trong những vai phải đóng. Sai khiến tinh vi đến nỗi chính diễn viên cũng không biết ḿnh chỉ là diễn viên múa rối mà thôi !

 

Dư luận quần chúng thực ra chỉ là dư luận ảo, tạo nên bởi một tập đoàn gồm những tên biên tập, phóng viên và bỉnh bút ăn lương và theo lệnh của siêu tổ hợp. Nó tha hồ vo tṛn bóp méo, đổi trắng thay đen sự kiện, và làm gia tăng hay giảm bớt mức độ chú ư của mọi người qua các xảo thuật hay kỷ thuật truyền thông độc quyền của siêu tổ hợp càng ngày càng tinh vi không mấy ai theo kịp. Chuyện dù bé như cái kim nhưng nếu nó theo lệnh thổi phồng làm thiên hạ cứ tưởng như đó là chính luận; c̣n chuyện to như cái đ́nh mà nó chẳng đề cập đến th́ coi như không hề xảy ra. Đó là lối tự do ngôn luận và tự do báo chí theo kiểu tư bản Tây phương.

 

Nhưng nếu để ư một chút đến thời sự mới thấy rằng, ta chỉ lo chuyện “ḅ trắng răng” mà thôi. Dù cho bộ máy tuyên truyền đồ sộ này của Tây phương, vô địch trong các thế kỷ trước, nay lại bị phản tác dụng v́ nói dốc, nói dai, nói dỡ, nói dài, không c̣n làm cho ai quan tâm nữa. Nói láo nhiều quá (disinformations) đă làm dân các nước khác nhàm chán, mất tin tưởng và e ngại trước những tin tức được bộ máy này tung ra. Và một khi người dân mà các nước bộ máy tuyên truyền này nhắm đến không thèm đếm xĩa nữa th́ mọi sự xem như công cóc.

 

Ngay chính tại Mỹ đă từng có phong trào kêu gọi “dẹp TV, không nghe không nh́n các đài, không theo dơi tin tức trên các mạng”, bởi các tác dụng độc hại của nó mang lại cho các thế hệ nhiều hơn lợi ích. Thực vậy, nó chỉ hữu hiệu đối với người nào thường xuyên bị nó cuốn hút đầu độc; ngoài ra đại đa số quần chúng tất bật chạy ăn từng ngày chẳng hề quan tâm đến chuyện ǵ xảy ra trên hệ thống truyền thông th́ không tác dụng ǵ. V́ thế, những lời kết án nước này nước nọ không nằm trong quỉ đạo của Tây phương vi phạm nhân quyền, thiếu tự do dân chủ vv và vv… chỉ rơi vào khoảng trống, nhất là đối với dân chúng các nước ấy.

 

Dĩ nhiên chính quyền các nước thường bị chỉ trích c̣n biết quá rơ cái “dư luận quần chúng ma” này; nên chẳng quan tâm mấy để mọi chuyện ồn ào rồi cũng rơi vào quên lăng. Tṛ chơi của kẻ đă “mạnh v́ gạo, bạo v́ tiền” là có quyền kêu gào nước khác tôn trọng nhân quyền, c̣n ḿnh th́ chẳng ai giám ép buộc. Nó chỉ là tṛ làm dáng chính trị lâu lâu mang ra xài để chi tiêu bớt ngân sách đă định.

 

Điều này cũng đă lan truyền qua đến hệ thống thông tin tuyên truyền của các xóm đạo Vịt di tản dưới sự điều khiển của nhà thờ tổng quản Vatican, qua các hồng y và hắc y đạo sĩ cán bộ. Hiện nay đă dần lộ rơ hai luồng dư luận rành mạch không thể dung ḥa được nữa trong cộng đồng hải ngoại: 1) Nhóm dân Chúa Vịt luôn “tuân phục bề trên trong vâng lời”, cựu quan viên chức của các chế độ Ca-tô cũ ở miền Nam trước đây, chuyên làm tay sai cho ngoại bang chống lại tổ quốc. Những năm gần đây chỉ v́ tranh giành ăn “phân” chủ, nên nội bộ các tổ chức này có chiều chia rẻ làm hai, làm ba, có khi làm bốn, lại c̣n chụp nón cối cho nhau tàn tệ, y như trước đây các quan to súng dài tranh tiền viện trợ để chống cộng vậy. Nhóm này, với sự khống chế truyền thông, luôn ồn ào lấn át, nhưng h́nh như đạt đến chỗ chỉ nói cho nhau nghe (trong các xóm đạo và nhà thờ) mà thôi; và 2) Nhóm thầm lặng yêu nước, phi Ca-tô và “vô thần đúng nghĩa”, dần xa lánh các hoạt động nặng mùi chống cộng của các xóm đạo từ khi hiểu rơ được động cơ sâu xa từ lịch sử Việt cận đại.

 

2. Lưỡng viện Quốc hội Mỹ: Nơi các nhà dân cử hội họp để soạn thảo và thông qua luật, qui định ngân sách quốc gia, kiểm soát chi tiêu của Nhà nước và sát hạch những đề cử viên vào các chức vụ quan trọng của chính quyền, và thỉnh thoảng lên tiếng về các vụ việc quốc tế không thuận lợi cho các sách lược của Mỹ hoặc Do thái vv…; ta lại biết rằng nơi ấy cũng đă có “các nhóm vận động hành lang quốc hội” (lobbyists) tích cực hoạt động không kém… để làm ǵ? Để “hối lộ mua chuộc” các nhà dân cử bởi những đại tập đoàn tiêu tiền như rác cố vận động những đạo luật thông qua sẽ có lợi cho họ; c̣n nếu cứng đầu không chịu nghe lời th́ sẽ không chi tiền để tranh cử trong nhiệm kỳ tới. Hỏi có “dân biểu” nào mà không rét. Dân quèn làm sao đi lọt qua cánh cửa toà nhà Quốc Hội. V́ vậy mà luật lệ đặt ra hàng ngày chất cao như núi, nhưng người thường dân nào có hiểu chút ǵ trong ḥn núi luật ấy?

 

IV. Vũ khí hồng của Tây phương:

 

Dĩ nhiên ai mà chẳng muốn quyền con người được đề cao và bảo vệ; ai chẳng muốn được hưởng tự do và dân chủ nhưng vấn đề ở đây là Tây phương chỉ dùng chúng như là những chiêu bài và vũ khí chính trị để lấy cớ xía vào nội t́nh thiên hạ mà nhờ vậy đám dân Chúa Vịt ở các xóm đạo hải ngoại mới có việc làm cho qua ngày tháng. Chỗ nào Tây phương chưa kéo quân vào “xâm lăng” được th́ tạm chơi tṛ nhân quyền, dân chủ, tự do. Mỹ từ nào cũng có cái mặt trái nham hiểm nếu kẻ dùng nó có một động cơ đen tối mà không bị vạch trần. H́nh như định nghĩa của những danh từ trên c̣n tùy thuộc vào quan điểm chính trị của từng vùng, nên có sự hiểu biết khác nhau. Khi ứng dụng th́ Tây phương chẳng hề có thái độ vô tư hay công b́nh với mọi nơi mọi t́nh huống. Phe ta th́ lờ, phe địch không lơ. V́ thế mà những lời lên tiếng của Tây phương về đ̣i hỏi tự do, học đ̣i dân chủ và tôn trọng nhân quyền ngày nay không c̣n giá trị chút nào, lại c̣n bị phản cảm.

 

1. Kêu gào Tự Do:

 

a. Khi Tây phương kêu gọi tự do th́ hăy xem tự do ở Tây phương là ǵ? Ấy là sự tự do để nhóm đại tài phiệt tha hồ gom tư bản kếch sù vào tay họ với ḷng tham vô bờ bến, rồi giành mọi đặc quyền đặc lợi tạo ra một loại siêu chính phủ quyết định mọi việc sinh tử của nhân loại; biến mọi việc trên đời đều là việc kinh doanh cả. Chính phủ và thể chế được lập ra đều đă được nhóm đại tài phiệt kia “đạo diễn” để thi hành ư muốn của nhóm chủ nhân ông giấu mặt. Nhóm đại tài phiệt này luôn t́m cách vươn ṿi bạch tuộc dài ra khắp thế giới để dễ bề thống trị tựa như một đế quốc hoàn vũ, tựa như giáo hội của Vatican xưa kia. Chỗ này là điểm tương đồng cấu kết giữa hai tổ chức. Họ muốn thống trị thế giới nên luôn nói đến một “nền trật tự mới cho thế giới” (new world order), giống như mơ ước của cha ông từ thời đế quốc La-Mă.

 

Đối với người dân, ấy là sự tự do được cho phép trong khuôn khổ luật pháp qui định, mà luật lệ ràng buộc của các xă hội Tây phương có thể nói là chằng chịt như rừng với không biết cơ man nào là “biệt lệ” để luôn kềm tỏa nhân dân. Ngày nay, ở Tây phương, bạn đừng có nằm mơ mà cao hứng đ̣i lên chốn thâm sơn cùng cốc để … tự do tu tiên xa lánh trần tục mà không bị nhà chức trách đến hỏi thăm … sức khoẻ ngay. V́ vậy, thời này vắng bặt thánh nhân trên trần đời chăng?  Như thế, tự do cho người dân ở Tây phương có nghĩa là tự do đóng vai một công dân gương mẫu làm đầy đủ nhiệm vụ, lao động tốt và đóng thuế đủ từ khi sinh ra cho đến khi chết; tựa như con chim được chủ nuôi với đầy lương thực, tự do hót cho chủ vui tai và bay nhẩy… trong lồng mà cứ tưởng ngoài phương trời cao rộng. Có kẻ bảo ở Tây phương chẳng cần đến “thẻ căn cước” như các nước nghèo khác. Đúng là họ văn minh lắm nên chỉ cần ban cho mỗi người một “số an sinh xă hội”, không ai giống ai. Dựa vào đó, nhất cử nhất động bạn làm ǵ hơi khác thường là Nhà nước đă biết ngay; cần ǵ phải có công an gác cửa? Hàng xóm th́ chỉ v́ quyền lợi cá nhân, thấy bạn có hoạt động ǵ lạ liền báo cáo cho nhà chức trách dù mỗi lần gặp bạn đều miệng lưỡi ngọt xớt “hai hay ba…i”; cần ǵ đến “mạng lưới t́nh báo nhân dân”? Ơ hay! Nhà cai trị nào lại chẳng mơ ước ban cho dân cái … tự do ấy. Cớ sao c̣n bảo các nước khác chưa có tự do?

 

b. Hay là Tây phương thường tự hào về sự tự do giàu sang hào nhoáng của họ, nhưng ai đă sống ở xă hội này đều biết những thứ ấy đều là ảo tưởng. Nền tư bản đồ sộ của Tây phương đă tạo nên luật trong đó có luật lệ thuế khóa để khuyến khích mọi người nên mắc nợ họ, ban đầu là tiền bạc rồi dần đến nghĩa vụ và ngay cả xương máu, để có được những điều mơ ước về vật chất. Ai cũng hănh diện mang trong ví “thẻ thiếu nợ” bằng plastic để thoải mái tiêu dùng không cần biết đến hậu quả nợ nần. Người ta dễ quên câu nói: “Một khi bạn nhận tiền của kẻ khác, bạn đă là nô lệ của họ”.  Gương các nước nhỏ nhận viện trợ của Tây phương c̣n đó; và bây giờ trong giai đoạn suy thoái kinh tế, mọi âm mưu xấu xa của các đại tổ hợp tài chánh Tây phương đă bị phơi bày. Cha ông ta thường dạy rằng “đói cho sạch rách cho thơm” hay “liệu cơm gắp mắm” là để cho con cháu không bị vướng vào ṿng nô lệ của vật chất, sống theo khả năng của ḿnh để được tự do thật sự; nhưng con cháu nào chịu nghe. Hạnh phúc của cuộc đời nào có phải đánh giá qua gia tài vật chất và tiện nghi kỷ thuật?

 

c. Hay họ muốn nói đến “tự do tôn giáo”? Có nghĩa là bắt các nước nhỏ phải để cho các đoàn truyền giáo Ki-tô có tổ chức qui mô và kinh tài đồ sộ du nhập vào o ép chiêu dụ dân bản xứ, một phiên bản mới của “theo đạo có gạo mà ăn”, hầu thay đổi nếp sống văn hóa tín ngưỡng nền nếp xưa cũ của người ta để theo độc thần giáo giống Tây phương để dễ gom về một mối mà sai bảo theo kiểu “tuân phục trong vâng lời”? Cũng lạ, miệng họ đ̣i “tự do tôn giáo” nhưng lại bảo truyền thống của họ là độc thần Ki-tô giáo, không thể cải đổi được. Hay là chỉ muốn kẻ khác “tự do” đổi theo đạo Ki-tô mà thôi? Thực khó diễn giải chỗ này.

 

Trong một bài báo của Mark Lawson trên tờ The Guardian, ra ngày thứ bảy 8/10/ 2005, cho biết là Nabil Shaath, nhà đàm phán người Palestine đă tiết lộ rằng chính cựu tổng thống Bush con đă từng tuyên bố trong một cuộc họp thượng đỉnh ở Jordan vào năm 2003 rằng “Chúa đă bảo ông ta, và gọi một cách thân mật là George, hăy xâm lăng Iraq và Afghanistan”. (Nabil Shaath, a Palestinian official who said the US president – George W. Bush - had claimed God told him to invade Iraq and Afghanistan in a Jordan summit: "God would tell me, George, go and fight those terrorists in Afghanistan. And I did, and then God would tell me, George, go and end the tyranny in Iraq... And I did.”) Đúng là một tṛ bịp lớn của thế kỷ 21.

 

Điều này làm người ta nhớ đến chuyện ông Giáo Hoàng nổi danh quỉ quái trong Đệ nhị thế chiến là Pius XII, mà dân Chúa Vịt hay gọi là Pi-ô 12, thích chơi chính trị chống Cộng hơn việc Chúa, cũng đă kéo luôn bà mẹ của Chúa là bà Maria vào cuộc để khích động con chiên, hết pḥ Hitler làm lănh tụ châu Âu cho đến khi Quốc Xă sụp tiệm liền quay qua hầu Mỹ, làm cho thế giới càng ngày càng đảo điên. Cũng v́ trót nghe lời Chúa rồi Mẹ Chúa (do Pi-ô phịa chuyện y như Bush con) nên năm 1954 đám dân Chúa Vịt đă kéo nhau chạy … như vịt vào nam Việt Nam, hùng hổ xưng là Công Giáo; rồi đến 1975 lại tiếp tục kéo nhau xéo thục mạng ra các xứ Tây phương. “Công Giáo” trở thành “Cong Gị”… bỏ chạy.

 

Bởi thế khi ở Mỹ xuất hiện một ông tổng thống cuồng tín mê Chúa tương tự th́ mọi chuyện đều lại… nát như tương, uy tín của Mỹ đối với thế giới cũng xuống bùn đen. Càng mê tín và cuồng tín th́ nhân loại càng khổ đau. Nhiều người tự hỏi nếu Bush con bảo luôn có Chúa bên cạnh, th́ ai cấm Bin Laden, hay một tên ma cà chớp nào đó, cũng tự cho là luôn có Chúa của ḿnh là Allah trong đầu, nên mới có chuyện 9/11. Vậy th́ Chúa Ki-tô hay Allah, ông nào đă gây ra tội ác 9/11? Và nếu Chúa luôn đứng bên tổng thống Ki-tô th́ tại sao không nhờ Chúa đem trận bảo Katrina, mà các công ty bảo hiểm gọi là “việc Chúa - act of God”, đổ ập lên Afghanistan cho tụi Al-Queda chết ch́m hết có phải khỏe không; đánh đấm chi cho mệt.  Tại sao trận bảo lại tàn phá một vùng rộng lớn của trên đất nước của con Chúa? Chỗ này mới là kẹt đa!

 

Nhiều nhà nhân chủng học khảo cứu các nền văn hóa tín ngưỡng ḥa b́nh tự nhiên ở các hải đảo Thái B́nh dương đă không khỏi hối tiếc cho sự mai một hay biến dạng nền văn hóa tín ngưỡng cổ truyền của thổ dân trên các xứ “thiên đàng địa giới” này do các nhà truyền giáo Ki-tô Tây phương gây ra trong các thế kỷ thực dân. Vậy vai tṛ của những tên gián điệp đội lốt giáo sĩ này có đáng bị kết án hay không?

 

Tín ngưỡng của một tôn giáo muốn thấm nhập vào một vùng đất nào để đóng góp hay ḥa quyện với nền văn hóa bản địa phải trải nghiệm qua một thời gian khá dài và phải phù hợp với nhiều yếu tố nhân văn, thổ ngơi vv… cần thiết. Một giáo thuyết h́nh hành trong một bối cảnh du cư du mục v́ đất đai cằn cổi không thể du nhập dễ dàng vào một xă hội định cư nông nghiệp, ngoài việc phải dựa vào vũ lực của các đế quốc để áp buộc. Một khi lưỡi gươm bị gẩy th́ thập giá cũng đổ luôn. Nếu thực sự chơi tṛ “tự do tôn giáo” một cách quang minh chánh đại th́ chưa chắc ai đă hơn ai. Hăy xem các nước như Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka, Ấn độ, Trung quốc, Nhật Bản vv… cũng chơi theo tṛ tự do tôn giáo ấy nhưng Ki-tô giáo bấy lâu nay có thu được “mùa gặt lớn” nào không? Tín đồ có tăng thêm được chút nào không?

 

V́ thế mà độc thần giáo Ki-tô vẫn không thể nào bám rễ vào các nền văn hóa Á đông được dù các nước này c̣n nghèo nàn lạc hậu hay đă hiện đại tiền tiến. Ngay cả độc thần giáo Ki-tô khi sang vùng Trung đông cũng đă bị biến dạng để thích nghi thành Islam, v́ người Ả Rập muốn bảo toàn văn hoá và nếp sống đặc trưng của họ.

 

Tự thân của tôn giáo không tàn ác, nhưng một khi đă bị chính trị hoá biến thành một tổ chức giáo hội để phục vụ tham vọng trần gian th́ nó đă bị vong thân và trở thành dụng cụ hữu hiệu trong tay kẻ nham hiểm. Đó cũng là sự khác biệt đậm nét giữa Giáo Hội Ca-tô Rô-ma và các giáo hội Ki-tô Độc thần giáo khác như Anh Giáo, Tin lành và Chính thống giáo. Vatican ngông cuồng cho là giáo hội “quốc tế” và “hoàn vũ”, c̣n những giáo hội kia chỉ là giáo hội “quốc doanh” và “bản địa” mà thôi; và dân tộc họ rất hảnh diện về điều đó. Vatican th́ lo nhiều về chính trị hơn tôn giáo; c̣n các giáo hội bản xứ kia th́ lo nhiều về tôn giáo hơn chính trị. Đó là một khác biệt xương máu mà ta cần ghi nhớ !

 

2. Đ̣i hỏi Dân Chủ:

 

Có khá nhiều định nghĩa về dân chủ. Thông thường th́ Dân chủ là một thể chế mà quyền thay đổi luật pháp và cơ cấu chính quyền thuộc về người dân có quyền bầu và ứng cử. Trong hệ thống này, luật pháp được đặt ra do người dân hay những dân biểu được người dân bầu ra và mọi hoạt động xă hội đều tuân theo luật pháp. Chính phủ dân chủ là một chính phủ được dân chọn, không cần biết bằng cách trực tiếp hay gián tiếp qua các đại biểu. Một định nghĩa khác về dân chủ là một "chế độ của đa số với một số quyền cho thiểu số". Có rất nhiều biến thể của dân chủ, một số chỉ tồn tại trong giả thuyết và một số đă có thật.

 

Việc bầu cử, tự nó, không phải là một điều kiện đủ cho nền dân chủ tồn tại; v́ đă có nhiều thế lực đă sử dụng đủ loại mánh khóe, và hiệu quả nhất không ǵ bằng dùng tiền và quyền mua chuộc ứng cử viên hay cử tri hay những kẻ lănh đạo một cộng đồng nào đó để làm thay đổi kết quả bầu cử.

 

Trong thực tế là trong đại biểu dân chủ, sự tham dự của các phe phái chính trị sẽ khiến cho các đại biểu phải tuân theo đường lối chính sách của đảng, thay v́ đi theo ư muốn của cử tri hoặc chính lương tâm. Một khó khăn đang thấy trong các nền đại biểu dân chủ là phí tổn ngày càng cao của các mùa tranh cử, khiến cho ứng cử viên phải thương lượng với người giàu mua chuộc luật có lợi cho họ.

 

Như thế, thể chế dân chủ là Thể chế đa số (majoritarianism), từ đó dễ dẫn đến Đa số chuyên chế; và như thế th́ một chế độ dân chủ tự do có thể bầu lên những đại biểu nhưng chính họ lại có thể đàn áp nhóm thiểu số (tôn giáo, chính trị, v.v.) nào đó, bằng cách trực hay gián tiếp. Hoặc ngược lại, với những mánh mun và các thương lượng về quyền lợi với Vatican, Adolf Hitler đă chẳng bao giờ chiếm được đa số phiếu, nhưng lại đạt được tổng số phiếu của các phe thiểu số nhiều nhất trong nền dân chủ Cộng ḥa Weimar năm 1933, v́ thế gọi là chuyên chế của một thiểu số. Sau khi nắm được quyền lực, y liền hủy bỏ hệ thống dân chủ và áp đặt chế độ fascism độc đảng.

 

Avro Manhattan đă viết về vai tṛ khuynh đảo của Vatican: “… Đức Ông Pacelli (Giáo hoàng Pius XII trong tương lai), bấy giờ là trợ tá lăo thành bên sau giáo hoàng Pius XII, đă bảo trợ một sách lược ủng hộ chủ nghĩa Phát-Xít  tại Ư và rồi Quốc Xă tại Đức (cốt để chống lại sự đe doạ của phong trào Cộng sản đang lớn mạnh khắp châu Âu). Ông ta đă giúp Hitler nắm được quyền lực vào năm 1933 bằng cách đă kêu gọi Đảng Ca-tô Đức bầu cho Hitler vào cuộc tổng tuyển cử cuối vào năm 1933.”

 

Người ta hay ca tụng nền dân chủ Tây phương hiện nay là hệ thống dân chủ cho phép dân chúng có quyền thay đổi giới cầm quyền mà không cần thay đổi căn bản luật pháp của chính thể tức Hiến pháp. Điều này có thể giảm bớt những bất trắc và bất an chính trị hơn là thay đổi chính trị bằng bạo động. Nhưng ta cũng không nên quên bộ máy công lực trấn áp siêu hiệu lực những mầm mống hổn loạn ngay từ trứng nước để không bùng nổ lớn được; nó đă góp một phần không nhỏ trong tiến tŕnh “dân chủ hoá” này. V́ các nước nhỏ chưa kiện toàn được bộ máy trấn áp một cách dứt khoát v́ sự ổn định của xă hội nên thường là đối tượng để Tây phương t́m cách gây rối loạn qua việc kêu gào “nhân quyền, tự do, dân chủ”.

 

C̣n nền Dân chủ ở Việt Nam hiện nay theo điều 4 Hiến pháp 1992, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lănh đạo toàn diện mọi hoạt động của xă hội. Theo Hiến pháp th́ người dân Việt Nam bầu ra Quốc hội là những người đại diện cho dân để họ bầu ra chủ tịch nước và chính phủ. Nền dân chủ này dĩ nhiên chưa phải là hoàn hảo nhưng tạm thời là cần thiết (un mal nécessaire) để ổn định xă hội để người dân rồi sẽ t́m ra được một thể chế tốt đẹp, hợp với nếp sống và văn hóa của ḿnh mà không bị xáo trộn bởi những âm mưu xâm lấn phá hoại của các thế lực từ bên ngoài.

 

Dân chủ Tây phương cũng đă phải trăi qua biết bao thăng trầm lịch sử lâu dài, và tự ḿnh quyết định chứ không do một thế lực ngoại bang nào ép buộc. V́ thế, đối với các nước nhỏ đang phát triển, không phải một sớm một chiều mà thiết lập được một nền cai trị như thế. Muốn thực hiện được nền dân chủ lư tưởng th́ cần phải tạo lập một nền văn hoá dân chủ vững chắc với một đời sống xă hội sung túc. Nếu không chỉ là một tṛ hề kệch cỡm của h́nh ảnh một chị nông dân mặc áo bà ba chân mang giày cao gót ra thăm ruộng; chắc chắn bước đi thế nào cũng bị vấp ngă thê thảm. Hăy cho dân cơm no áo ấm trước đă, rồi dân chủ sẽ ḷ ḍ theo sau không muộn.

 

Nhưng đi sâu vào thực tế th́ nền Dân chủ của Tây phương cũng không phải là toàn bích ǵ. Giới đại tài phiệt với tiền rừng bạc biển đă hủ hóa mua chuộc mọi cuộc bầu cử và ứng cử viên ḿnh muốn. Với sự hổ trợ của các giáo hội Ca-tô La mă và Tin Lành đă khéo tổ chức tín đồ theo từng khối đồng nhất và có truyền thống hợp tác với họ từ lâu đời th́ thể chế của đa số là điều như ư. Thương lượng làm ăn chia chác với vài anh hồng y hay hắc y cán bộ lănh đạo hay mục sư có phải dễ hơn là với quần chúng tạp nhạp không?

 

Ở Mỹ dân chủ là thế, nhưng với nước ngoài một khi chú Sam không c̣n nhẫn nại được nữa khi quyền lợi của chú bị đe doạ trên thế giới là chú coi dân chủ chỉ là tờ giấy lộn; chú liền ra tay lật đổ các chính quyền hay chính thể nước khác (regime change) như cơm bửa. Stephen Kinzer đă viết trong cuốn “Overthrow” ấn hành năm 2007 rằng chỉ trong ṿng hơn một thế kỷ kể từ 1893, bắt đầu từ việc hạ bệ nữ hoàng Liliukokalani của Hawaii, Hoa Kỳ đă cho đi chầu Chúa, mà họ gọi nhẹ nhàng là regime changes, hơn 14 chính quyền hợp pháp của các nước khác bất chấp công luận thế giới khi quyền lợi của Mỹ bị trở ngại, trong số đó có cả Diệm Nhu, nạn nhân của một chế độ tay sai phản chủ. Không phải Mỹ chỉ dùng CIA, quân đội, tiền bạc, chính khách, nằm vùng, giáo sĩ vv… vào việc này mà c̣n sử dụng cả nhà báo, học giả, doanh gia. Ai bảo chỉ Cộng sản mới nói câu “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”? Đó mới chính là tṛ chơi “dân chủ” của Tây phương.

 

3. Tôn trọng Nhân Quyền:

 

Khi Tây phương kêu gọi Nhân Quyền hay Quyền Con Người (Human Rights), ai cũng liền nghĩ đến Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp quốc. Bản Tuyên ngôn nầy đă đưa ra những quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm...

 

Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ là một khuôn mẫu chung (framework) cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xă hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

 

Điều khoản cuối cùng không kém phần quan trọng của bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ư cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".

 

Để giảm nhẹ bộ máy hành chánh và họat động hữu hiệu hơn, Hội đồng Nhân quyền LHQ, được thành lập ở Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005 thay thế Ủy ban Liên hiệp Quốc về Nhân quyền (United Nations Commission on Human Rights), có nhiệm vụ điều tra những vi phạm nhân quyền. Hội đồng Nhân quyền, có  trụ sở tại Geneva, là một cơ cấu trực thuộc Đại Hội đồng Liên hiệp Quốc và báo cáo trực tiếp với tổ chức này. Nó được xếp dưới Hội đồng Bảo an. Có 47 quốc gia trên 191 tổng số hội viên trong Hội đồng được bầu thông qua h́nh thức bỏ phiếu kín theo nguyên tắc đa số tương đối (trên 50%) ở Đại Hội đồng. Các thành viên phục vụ tối đa 6 năm và có thể bị đ́nh chỉ nếu vi phạm nhân quyền. Cho đến nay các nước bị Tây phương thường xuyên kết án vi phạm nhân quyền vẫn c̣n tại vị, trong khi Hoa Kỳ lại tẩy chay và không được bầu vào Hội đồng v́ cùng với Do thái, luôn bị chỉ trích về các tội ác gây ra ở Trung đông. Măi đến nay, dưới thời của Obama, Hoa Kỳ mới chịu tái tham gia và được bầu vào kể từ tháng 6, 2009.

 

Ai cũng cho rằng Nhân quyền khởi xướng từ Tây phương. Bé cái nhầm ! Đừng có thấy sang bắt quàng làm họ. Không, hiến chương đầu tiên của nhân quyền thế giới đă có manh nha trong các bộ luật cổ đại và các nền đạo học của các nền văn minh xưa của nhân loại. Tạm thời ta có thể dựa vào các khảo cứu gần đây cho thấy rằng Bộ luật cải cách của Urukagina thành phố Lagash được biết đến sớm nhất (khoảng năm 2350 TTL); Bộ luật cổ nhất hiện c̣n sưu tầm được là Neo-Sumerian Luật Ur-Nammu (khoảng 2050 TTL). Một số bộ luật khác cũng được ban hành ở Mesopotamia, gồm Bộ luật Hammurabi (khoảng 1780 TTL). Nó có các luật, và h́nh phạt nếu những luật này bị vi phạm ở nhiều khía cạnh khác nhau, kể cả nữ quyền, quyền trẻ em, và quyền của nô lệ.

 

Một bộ luật nổi danh khác mang ít nhiều dấu vết tư tưởng Nhân Quyền ngày nay là từ thời hoàng đế Cyrus Đại đế (559-530 TTL), người Á Rập, sáng lập ra đế quốc Persia (nước Iran ngày nay) và tạc trên một trụ đá nay được gọi là Trụ Cyrus. Măi đến năm 1215, Hiến chương Magna Carta của người Anh có những ư tưởng tương tự lần đầu tiên được công bố. Rồi đến sau cuộc cách mạng Pháp 1789, có thêm một bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền có nội dung tương tự. Các bản Hiến chương này có ảnh hưởng đến sự phát triển của thông luật (common law) và hiến pháp như bản Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là Đạo luật về Quyền (Bill of Rights). Cũng đừng quên nước ta dưới triều Lê sơ, khoảng thế kỷ 15, cũng đă có một bộ luật qui định quyền dân sự khá hoàn chỉnh là Bộ Luật Hồng Đức.

 

Đối với Tây phương, chỉ sau hai trận thế chiến với những vi phạm Nhân quyền quá tệ hại, họ mới khẩn thiết tái xác định các quyền ấy qua bản Tuyên ngôn LHQ năm 1948 như ta đă biết. Nhưng như đă nói, những điều liệt kê trong bản tuyên ngôn rất lư tưởng nhưng có mấy nhà cầm quyền thực thi chúng.

 

1. Nhân quyền của Tây phương đối với nước ngoài: Bấy lâu nay, các tổ chức nhân quyền … thường tự cho là vô tư khi họ lớn tiếng kêu gọi thực thi Nhân Quyền đối với mọi quốc gia vi phạm. Vậy th́ họ ở đâu khi các dân tộc bản địa Nam Mỹ bị bóc lột tận xương tuỷ bởi các chủ nhân ông tài phiệt tây phương? Hoặc khi dân tộc Palestine ở Liban, Gaza, West Bank bị Do thái và tây phương đối xử như súc vật, nhất là trận tàn sát đàn bà và trẻ con tay không tất sắt ở Jenin năm 2004? Hoặc khi nhân dân IraqAfghanistan bị bom đạn tây phương sát hại hàng loạt mỗi ngày? Hoặc khi nhân dân châu Phi bị tây phương khinh bỉ bỏ quên chỉ v́ kỳ thị chủng tộc, phải sống trong nghèo đói triền miên dưới sự chăn dắt của các hồng y và hắc y đạo sĩ cán bộ; và bắt họ chỉ được quyền làm “con chiên” chứ không được quyền làm người? Hoặc khi các vụ bạc đăi hiếp dâm giáo dân già trẻ nam nữ lớn bé của các giáo sĩ Ki-tô ở các nước phương tây cũng chỉ được bộ máy truyền thông tuyên truyền tây phương làm rùm beng một lúc rồi cho ch́m xuồng? vv…

 

Trong các năm 2004 và 2005, để chứng tỏ Âu Mỹ rất vô tư khi kêu gọi thực thi nhân quyền và gây một ấn tượng tốt ở Trung đông, chính quyền Bush con đă áp lực Ai cập phe ta nới ḷng sự đàn áp đối lập và cải thiện nhân quyền trong nước; nhưng khi thấy dân Ai cập bỏ phiếu đưa nhiều đảng viên đối lập Muslim Brotherhood vào trong quốc hội th́ Mỹ lại đổi giọng qua lời tuyên bố của bộ trưởng quốc pḥng Robert Gates sau khi gặp Mubarak hai tháng trước, rằng viện trợ của Mỹ sẽ không bị ràng buộc bởi thành tích nhân quyền tệ hại hay sự cải tiến dân chủ ở Ai cập. Bởi, thực tâm Mỹ và Do thái không hề muốn thấy có một chế độ dân chủ thực sự ở Ai cập hay ở vùng Trung Đông giống như bài học ở LebanonGaza trước đây. Các chính phủ dân cử ấy liền bị bom đạn Mỹ vùi dập ngay. Bởi nếu có dân chủ thực sự trong vùng th́ dân chúng sẽ bầu những lănh đạo có chính sách đi ngược lại quyền lợi của Tây phương và Do thái.

 

Cuộc chiến chống “bọn khủng bố” ở Iraq và Afghanistan, khởi xướng bởi đám “tân bảo thủ thân Do Thái” trong chính quyền Bush con, càng ngày càng bị sa lầy tựa như chiến tranh Việt Nam; nhất là sau khi những chuyện đối xử tù nhân Muslims như súc vật, nhiều khi tù nhân bị chết trong khi bị tra khảo trong nhà tù kinh khiếp Abu Ghraib, và những tù nhân bị giam không có ngày xét xử ở Guantanamo Bay, đă làm uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới suy giảm trầm trọng và dân chúng Mỹ thất vọng năn ḷng không c̣n nhiệt t́nh ủng hộ nữa; tựa như các h́nh ảnh dă man của vụ Mỹ Lai bị phanh phui trước đây trong cuộc chiến Việt Nam.  

 

 

V́ mục đích và quyền lợi riêng của ḿnh mà Mỹ khinh thường những cam kết luật lệ quốc tế (tựa như Việt Nam sau hiệp định Geneva 1954), Mỹ đă không hề đếm xĩa ǵ đến những điều khoản cấm kỵ qui định bởi các Qui Ước Geneva về đối xử với tù binh mà ḿnh đă nhúng tay kư kết bằng cách thuê những luật sư phe ta giải thích luật lệ theo chiều ḿnh muốn và Ngũ Giác Đài lại phát hành những Cẩm nang Thẩm vấn lắt léo cho các cấp an ninh lách luật.

 

C̣n đối với người dân Palestine vô tội th́ sao? Ngay cả cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter đă phải thốt lên sau khi đi thăm vùng Gaza nghèo khó vào ngày 15/6/2009: “Hôm nay, cảm giác chính của tôi là buồn bả, thất vọng và một chút căm giận khi tôi nh́n thấy sự tàn phá nhắm vào người dân vô tội. Thực là bi đát khi cộng đồng thế giới thường làm ngơ trước tiếng kêu cầu cứu và người dân Palestine bị đối xử như con vật hơn là con người. Một triệu rưỡi con người bị tước đoạt mọi nhu cầu tối thiểu – chưa từng thấy trong lịch sử như cộng đồng lớn này đă bị bằm nát bởi bom đạn và hỏa tiển, rồi bị khước từ được tái xây dựng.” ("My primary feeling today is one of grief and despair and an element of anger when I see the destruction perpetrated against innocent people. Tragically, the international community too often ignores the cries for help and the citizens of Palestine are treated more like animals than like human beings. The starving of 1.5 million human beings of the necessities of life -- never before in history has a large community like this been savaged by bombs and missiles and then denied the means to repair itself.")

 

Đó có phải là tinh thần mong muốn của điều tự do ngôn luận trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền hay không?

 

Âu Mỹ đă làm ngơ cho Do Thái xem thường các nghị quyết của Hội Đồng Bảo An-LHQ trong suốt 30 năm, buộc Do Thái phải rút ra khỏi West Bank và Gaza; trong khi đối với các nước nhỏ khác th́ họ lại lớn giọng đ̣i trừng phạt bằng bom hay phong tỏa kinh tế v́ không tuân theo các nghị quyết của LHQ. Lại khi muốn diệt Iraq th́ ngang nhiên xâm lăng lật đổ chính phủ rồi c̣n sát hại cả nhà lănh đạo nước này là Saddam Hussein mà chẳng cần đến công pháp quốc tế. (Professor Malcolm Chalmers, who teaches international studies in the department of peace studies at Bradford University, agrees that UN resolutions reflect political relationships between permanent members of the Security Council and their allies. "The way the Security Council works from the beginning is governed by its composition," he says. "In the case of Iraq the driving force is not what the United Nations said but what the major powers and the United States see as their priorities.” There are other countries which have not complied with international treaties. Israel has been supported by America. It's a reflection of the modern world in which the US is the only power with the military might to enforce resolutions.")

 

Riêng đối với đám dân Chúa Vịt ở các Xóm đạo hải ngoại; mạng lưới nhân quyền của cha ông và bề trên của họ ở đâu khi đất nước Việt bị thôn tính và dân tộc Việt bị ép làm nô lệ bởi bọn thực dân Pháp và đạo phiệt Vatican trong suốt một thế kỷ? Rồi sau 1954, nhân dân và nhất là Phật tử ở Nam Việt nam bị chà đạp kỳ thị, bị sát hại không nương tay hơn 20 năm bởi các chế độ Ca-tô? vv… Có thể bọn này sẽ bảo những nổi tang thương ấy không phải là vi phạm Nhân Quyền, hoặc rằng lúc ấy chưa có Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1948 nên họ thiếu hướng dẫn cho nên “bề trên” của họ muốn làm ǵ th́ làm như đă từng đày đoạ nhân dân châu Âu hơn 15 thế kỷ, hoặc rằng lúc ấy họ chưa có mặt trên đời nên không biết?

 

Cho thấy chỗ nào c̣n có sự bóc lột của Tây phương và của đạo phiệt Vatican th́ chỗ ấy bị vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Nhưng họ lại chơi tṛ “cả vú lấp miệng em” xoi mói chuyện vớ vẩn nội bộ của các nước nhỏ.

 

Đầu tháng 6 năm nay, Obama sang châu Âu dự lễ kỷ niệm 65 năm ngày “D-day” tức là ngày quân Anh-Mỹ đổ bộ lên nước Pháp để gỉải phóng châu Âu khỏi sự chiếm đóng của Đức Quốc Xă nhưng chẳng thấy nhà lănh đạo Tây phương nào đề cập đến những tội ác không kém của bọn hồng y và hắc y đạo sĩ cán bộ của Vatican, trong đó có cả Giáo Hoàng Pius XII. V́ sao? V́ họ c̣n cần đến tổ chức nham hiểm này trong việc toàn cầu hóa ảnh hưởng của Tây phương tựa như các đế quốc của tổ tiên họ, bởi Tin Lành không có một tổ chức khuynh đảo tinh vi như Vatican.

 

2. Nhân quyền của Tây phương trong chính nước ḿnh: Những vết nhơ của nó không hề bị bộ máy thông tin tuyên truyền đồ sộ của họ đề cập đến. Cứ nh́n vào cuộc sống khốn khổ của thổ dân da đỏ bị bỏ rơi cô lập trong các vùng tập trung (reservation areas), hay nghe tiếng gào trong nước mắt của các nạn nhân của các giáo sĩ Ca-tô loạn dâm, hay nh́n những ánh mắt căm hờn của dân da đen trong các ghettos vv… th́ thấy “nhân quyền” của Tây phương như thế nào.

 

Nói có sách mách có chứng, xin đọc một trích đoạn lời kêu gào thực thi nhân quyền của dân da đen tiêu biểu đăng trên tờ The Final Call Vol. 28, No. 11, Dec. 23, 2008, phát hành ở Chicago:

 

1. We want freedom. We want a full and complete freedom.


2. We want justice; Equal justice under the law. We want justice applied equally to all, regardless of creed or class or color.


3. We want equality of opportunity. We want equal membership in society nith the best in civilized society.

 

4. We want freedom for all black men and women now under death sentence in innumerable prisons in the North as well as the South.

 

5. We want an immediate end to the police brutality and mob attacks against the so-called Negro throughout the United States.


6. As long as we are not allowed to establish a state or tenitory of our own, we demand not only equal justice under the laws of the United States, but equal employment opportunities - NOW!


7. We do not believe that after 400 years of free or nearly free labor, sweat and blood, which has helped America become rich and powerful that so many thousands of black people should have to subsist on relief, charity or live in poor houses, receive some of the worst treatment of human beings. Since we cannot get along with them in peace and equality, we believe our contributions to this land and the suffering forced upon us by white America, justify our demand for complete separation in a state or territory of our own.


(The Most Honorable Elijah Muhammad)

 

Nhân quyền ở các nước Á châu có phần suy thoái chăng khi Tây phương lên tiếng? Không, chẳng qua là v́ các dân tộc Á châu đă học được bài học thuộc địa nên nay luôn cảnh giác các tṛ ma mănh của Tây phương, khi bọn thực dân mới chưa dùng đến bom đạn súng ống, t́m đường tái xâm nhập. Họ đă biết vận dụng nền đạo học và văn hoá thâm hậu của ḿnh làm sức đề kháng chống lại các mưu toan ấy.

 

V. Chuyện Á châu gần đây:

 

Trong chiều hướng ấy, trong các tháng vừa qua, trên các hệ thống truyền thông của Anh Mỹ ta thấy nổi bật những sự kiện sau đây, nhất là ở Á châu.

 

1. Sri-Lanka:

 

Sri Lanka mà ta hay gọi là Tích Lan, là một quốc đảo ở phía nam lục địa Ấn, dân số khoảng 20 triệu, đại đa số theo Phật giáo cổ truyền từ xa xưa. Tương tự hoàn cảnh lich sử của các nước trong vùng ở thế kỷ 16, Sri Lanka bị Bồ Đào Nha rồi Hoà Lan đô hộ. Đến năm 1815, đế quốc Anh thay thế làm chủ nhân ông cho măi đến 1948 Sri Lanka mới thu hồi nền độc lập của ḿnh, và trở thành một nước Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa .

 

Nhưng gần 30 năm qua, Sri Lanka không hề được yên ổn với cuộc nội chiến do nhóm dân Tamils chiếm 17% dân số theo Ấn giáo, Hồi giáo và Ki-tô giáo, có lẻ được sự khuyến khích và tài trợ của Tây phương đ̣i ly khai, lập thành lực lượng vũ trang có tên là Tamil Tigers, hay Liberation Tigers of Tamil Eelam [LTTE]. Chỗ nào mà Tây phương xía vào là muốn chia xẻ nước của người ta ra nhiều mảnh. Có lúc nhóm này đă kiểm soát được 1/3 lănh thổ. Kể từ khi quân TLLE phát động chiến tranh khủng bố ly khai vào năm 1983, đă có khoảng 100 ngàn dân Sri Lanka thiệt mạng.

 

Nhưng vào ngày 18 tháng 5, 2009, quân đội Sri Lanka đă hoàn toàn loại trừ được nhóm phiến loạn này sau khi tấn công vào thành phố Kilinochchi được xem là thủ đô ly khai, và tiêu diệt toàn bộ thành phần lănh đạo của LTTE, trong đó có tên thủ lănh khét tiếng tàn bạo Velupillai Prabhakaran. Thành tích này được dân chúng Sri Lanka hân hoan tán thưởng và nhờ sự quyết tâm của chính quyền tổng thống Mahinda Rajapakse đắc cử năm 2005, trong khi 3 vị tiền nhiệm J.R. Jayawardena, R. Premadasa và  Chandrika Kumaratunga lại thất bại.

 

Trong khi chiến sự đang xảy ra th́ ngày 12/5, Anh và Mỹ kêu gọi ngưng bắn. Rơ là giọng điệu gang sứa của kẻ cả, ưa xía vào chuyện nhà người khác. Ta vẫn c̣n nhớ cứ ở đâu có chiến tranh cục bộ th́ Tây phương lên mặt đạo đức giả ra tuyên bố kêu gọi hai phe hăy giải quyết vấn đề tranh chấp qua thương thuyết. Nhưng nếu thực tâm như thế th́ bọn lái buôn vũ khí chắc phải húp cháo sống qua ngày. Anh Mỹ và Tây phương đă có khi nào chịu nghe lời của thế giới kêu gọi ngưng bắn ở IraqAfghanistan hay không?

 

Ngày 20 tháng 5, 2009, Hội đồng Nhân Quyền LHQ đă thông qua một nghị quyết chào mừng chiến thắng của Sri Lanka đă diệt được quân phản loạn thiểu số Tamil LTTE, không thèm đếm xỉa ǵ đến lời kêu gọi của Tây phương đ̣i cho LHQ (dĩ nhiên với nhân sự Tây phương đứng phía sau) vào cứu trợ dân tị nạn và “nhân quyền” đối với sắc dân này.  

 

Ngay cả thủ tướng Anh Gordon Brown trước đó lại vẫn giọng cha chú c̣n cảnh cáo Sri Lanka sẽ phải gánh chịu nhiều hậu quả nếu không chiụ ngưng chiến và cho phép các đoàn cứu trơ và nhân quyền đén thăm vùng chiến, nơi bọn LTTE đang bị vây khổn. Canada lại lên tiếng yêu cầu chính phủ Sri Lanka xét đến nguyện vọng của sắc dân Tamils để t́m ra một giải pháp chính trị ḥa giải. Thế th́ khi đem quân xâm lăng IraqAfghanistan, Tây phương có xét đến nguyện vọng của đa số dân tộc bản địa không nhỉ?

 

Nghị quyết này đă được Nga, Trung quốc, Ấn, và đa số các nước đang phát triển ủng hộ nồng nhiệt. Điều này xảy ra sau khi chính phủ Sri Lanka đă mạnh mẻ phản đối sự can thiệp vào nội t́nh của nước họ. Trước đó, chính phủ Sri Lanka cũng đă từ chối cuộc họp ḥa giải với quân phản loạn do áp lực của Tây phương trước khi toàn thắng vào ngày 18 tháng 5, 2009.

 

Dĩ nhiên là các hội “quan sát Nhân quyền” (HR Watch) của Tây phương liền lao nhao tơ ư bất b́nh. Điều này làm ta nhớ đến những lời kêu gọi tương tự đối với các sắc dân cao nguyên trong phong trào Degar ở tây nguyên nước ta trước đây. Xem ra cái ǵ Tây phương lên tiếng đều đi ngược lại quyền lợi của dân tộc bản địa.

 

Sau khi nghị quyết ủng hộ Sri Lanka được thông qua, Tây phương liền áp lực Sri Lanka cho phép nhân viên cứu trợ thiện nguyện, hội Hồng thập tự, bác sĩ y tá, phóng viên vv.. được tiếp xúc với dân tị nạn nhưng cũng lại bị từ chối thẳng thừng. Bộ trưởng về quản trị thảm họa và nhân quyền của Sri Lanka Mahinda Samarasinghe đă tuyên bố trong cuộc họp rằng chính phủ Sri Lanka đă “chán ngấy” cái tṛ Tây phương xía vào chuyện nhà kẻ khác thay v́ thực tâm trợ giúp tài chánh cho chính quyền nhanh chóng giải quyết thảm nạn. 

 

Ngày 26 tháng 5, Tây phương vẫn không chịu bỏ cuộc, lại đ̣i HĐNQ-LHQ mở phiên họp bàn về vi phạm nhân quyền trong 26 năm chiến tranh ly khai tại Sri Lanka. Rồi Ban Ki Mon, Tổng Thư kư  của LHQ, một con múa rối của Tây phương, lại bị họ sai khiến phải làm công việc xía mũi vào. Đại diện thường trực của Sri Lanka trong Hội đồng tại Geneva, Dayan Jayatilleka đă lớn tiếng tuyên bố:

 

“Những kẻ cựu thực dân h́nh như biết làm sao giải quyết các vấn đề của Sri Lanka hơn là các nước lân bang của chúng tôi,” ám chỉ những nước như Anh, Đức, Pháp vv… đă không thèm tham khảo với các nước Nam Á trước khi đưa ra đ̣i hỏi.

 

Mặc dù LTTE đă bị Hoa Kỳ, EU và Ấn độ đặt vào danh sách “khủng bố”; nhưng một khi nhóm “khủng bố” này bị lâm nguy th́ Tây phương lại muốn ra tay cứu vớt; tựa như t́nh h́nh của Chechens trước đây. Vậy th́ danh sách các đối tượng “khủng bố” có đáng tin cậy hay không?

 

2. Myanmar:

 

Ta hay gọi là Miến Điện hay Diến Điện, là một nước có khoảng 55 triệu dân ở vùng Đông Nam Á, theo quốc giáo là Phật giáo. Myanmar đă bị đế quốc Anh đô hộ 62 năm kể từ 1886 mặc dù trước đó lính Anh đă tiến đánh từ 1824. Đến năm 1948 Myanmar mới tự chủ.

 

Cuộc tranh đấu giành độc lập của Myanmar khởi phát từ một sự kiện ly kỳ vào cuối những năm 1910s mà người Anh gọi là “Shoe Question”. Dân Miến, cũng như dân các nước theo Phật giáo khác trong vùng, có truyền thống cỡi giày dép trước khi bước vào điện Phật ở chùa, nơi rất linh thiêng. Thực dân Anh từ chối làm điều đó và đă làm dân chúng bất măn nổi loạn v́ cho là bọn thực dân không tôn trọng nền văn hoá của họ. Tháng 10 năm 1919, tăng chúng ở chùa Eindawya Pagoda ở Mandalay trục xuất một nhóm du khách người Anh không chịu cỡi giày trước khi vào điện Phật. Vị viện chủ bị thực dân Anh bỏ tù chung thân sau khi bị kết án tội mưu sát. Từ đó dân Miến nổi dậy, lấy Phật giáo làm tụ điểm đấu tranh. Các tăng sĩ trở thành những nhà tiên phong trong công cuộc giành độc lập cho Myanmar và một số đă hy sinh. Cuộc đấu tranh dai dẳng kéo dài đến những năm 1930s, có lúc các cuộc nổi loạn bạo hành đă làm tê liệt thủ đô Yangon. Một tăng sĩ trở nên thánh tử đạo là sư U Wisara; Ngài đă tuyệt thực 166 ngày đến chết để phản đối bọn thực dân Anh không cho ngài mặc tăng bào vàng khi bị tù.

 

Tướng Aung San (cha của bà Aung San Suu Kyi đang được Tây phương ủng hộ) là nhà lănh đạo đảng Anti-Fascist People’s Freedom League (AFPFL) của Miến trong cuộc đấu tranh giành độc lập đă bị ám sát năm 1947 cùng với 8 đồng đội, vài tháng trước khi Miến được tự chủ; bấy giờ bà Suu Kyi vừa được 2 tuổi. Tiếp đến có sự tranh quyền giữa U Nu và Ba Swe, thay nhau làm thủ tướng. Giữa những năm 1950s, anh của bà Suu Kyi là Aung Than làm lảnh tụ đối lập với U Nu trong quốc hội, luôn tranh chấp quyền hành với thủ tướng. Về sau Aung Than bị chết đuối trong một hồ tắm tại gia. Nhân t́nh h́nh hổn loạn chính trị của Miến, một đám tàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa kéo đến cát cứ miền Shan ở phía đông Miến vào năm 1951, tạo nên vùng nha phiến ở khu được gọi là “tam giác vàng” nổi danh.

 

Tướng Ne Win liền làm cuộc đảo chánh vào năm 1962 và ổn định quốc gia được 47 năm; và vào năm 1988 đă trao quyền cho các tướng theo thời gian là Sein Lwin, Saw Maung và Than Shwe. Tướng Than Shwe đă bắt giam các thân nhân của Ne Win khi họ muốn tham gia chính trường.

 

Mẹ của Suu Kyi tuy là quả phụ nhưng có nhiều uy tín đối với giới thượng lưu của Miến. Bà đă từng làm đại sứ Miến tại Ấn độ và Nepal vào năm 1960; ở đó, Suu Kyi được gởi học trong các trường đạo Ki-tô, sau tốt nghiệp đại học tại New Delhi năm 1964 và được đưa sang Anh tiếp tục việc học tại Đại học London và lấy bằng Ph. D. về ngoại giao năm 1969. Lấy chồng là một người Anh tên là Michael Aris vào năm 1972 và có 2 đứa con trai. Năm 1988, bà Suu Kyi quay về Miến để thăm mẹ già rồi ở lại tham gia chính trường, trở thành thủ lảnh của đảng Tân Dân chủ NLD. Michael Aris chết năm 1997 v́ bệnh ung thư tiền liệt tuyến

 

Năm 1990, Suu Kyi đắc cử thủ tướng trong một cuộc bầu cử dưới thời tướng Saw Maung, nhưng bị hội đồng quân nhân bác bỏ. Bà liền cùng với đảng NLD liên tục gây xáo trộn bất ổn trong nước và v́ thế bị giam giữ tại gia, một ngôi biệt thự bên cạnh hồ, trong 13 năm qua. Thế là từ đó bà trở nên “icon” cho Tây phương đứng sau lưng một cách danh chánh ngôn thuận chống lại chính phủ quân nhân hiện tại ở Miến, đ̣i chính quyền trả tự do cho Suu Kyi. Tây phương giở tṛ cấm vận bao vây kinh tế Miến, rồi lại lớn giọng bảo nhân dân Miến sống trong cảnh nghèo khổ dưới sự áp bức của chính quyền quân nhân. Có oái oăm không cơ chứ?

 

Cũng lạ, bọn cựu thực dân địa chuyên bóc lột dân Miến tận xương tủy bổng động ḷng muốn thấy có dân chủ kiểu Tây phương ở xứ thuộc địa cũ của ḿnh tức khắc, trong khi lại cấm vận để dân đói khổ. Trong tâm cảnh ấy, làm sao giới lănh đạo của Miến tin tưởng thiện chí đó cho được? Ngay cả khi trận bảo Nargis tàn phá Miến vào tháng 5, 2008, chính phủ quân nhân c̣n cấm các đoàn cứu trợ Tây phương dưới danh nghĩa LHQ cứ nhất định đ̣i vào giúp đở; trong khi Miến lại nhận viện trợ từ các nước Á đông quanh vùng. Lại c̣n có những kẻ “activists” có ăn lương cứ chui vào trong nước người ta quấy phá dưới dạng NGO (?) như lời của Parti Keadilan Rakyat trong một bài báo: “In 1998, I was campaign co-ordinator for the human rights NGO, Suaram. In an initiative co-ordinated by Altsean Burma (the Alternative Asean Network on Burma), I went to the country with 17 activists from Australia, the United States, Indonesia, Thailand, the Philippines and Malaysia… We wanted to commemorate the 10th anniversary of the Aug 8, 1988 crackdown by the military junta.”

 

Hiện nay, nhiều đảng viên NLD của bà Suu Kyi đă chạy trốn sang các nước lân cận và Tây phương luôn t́m mọi cách chống phá Chính quyền đương thời, tựa như các đám dân Chúa Vịt ở các xóm đạo hải ngoại luôn chống phá Việt Nam.

 

Dĩ nhiên hoàn cảnh của bà Aung San Suu Kyi thực đáng quan tâm, nhưng v́ Tây phương quá “đặc biệt” quan tâm nên có một điều ǵ làm ḷng tin tưởng của dân bản xứ hơi sút giảm. Tây phương lại luôn sử dụng những kẻ đă được họ đào tạo trong cac trường đạo Ki-tô hay có liên hệ gia đ́nh với họ để quay lại làm lănh đạo; chưa đủ, lại đánh bóng thêm bằng các giải thưởng quốc tế như Nobel. Nghe có cái ǵ hơi giống đối với các “người tù lương tâm” ở Việt Nam?

 

Chuyện mới nhất gần đây là vào thượng tuần tháng 5, nhà cầm quyền Myanmar đă bắt giữ một người đàn ông Mỹ 53 tuổi tên John William Yettaw, gốc ở Nam Missouri, sau khi anh ta lội băng qua một cái hồ rộng để vào thăm Suu Kyi vài ngày. Tên này đă ly dị vợ năm 2002 rồi tái giá, đă có 5 con với vợ trước. Con th́ gởi nhờ nhà bạn để bay sang Miến làm chuyện ruồi bu, hay là làm công tác mật? Dĩ nhiên là tên này bị nhà cầm quyền Miến kết án và… tên da trắng đă được Mỹ bảo lảnh mang về nước ngay. Tên Yettaw khai y là một cựu chiến binh, muốn làm một cuộc nghiên cứu tâm lư học về “chấn thương và tha thứ - trauma and forgiveness” và là một sinh viên ở Forest Institute in Springfield, Mo. Nhưng nhà trường lại bảo chẳng có sinh viên nào mang tên này đang học ở đấy. Sao mà rắc rối thế?

 

Thế là Suu Kyi vi phạm các điều kiện của án lệnh đang thụ và ngày 9 tháng 6 bị tống giam vào nhà tù Insein ở Yangon. Điều kỳ lạ là án lệnh giam giử tại gia của Suu Kyi sắp hết hạn trong ṿng hơn một tuần th́ sự cố xảy ra và Miến sẽ có một cuộc bầu cử vào năm tới. Ai đă giàn cảnh này để Suu Kyi luôn là một biểu tượng giam cầm cho Tây phương ca tụng?

 

Hồi tháng 8, 2008, cựu thủ tướng Thái Lan Samak Sundaravej đă tuyên bố với báo chí Tây phương rằng “Tây phương dùng Aung San Suu Kyi như một khí cụ (chính trị). Nếu không v́ Aung San Suu, th́ họ đă có được một những cuộc thảo luận hữu ích với Myanmar.”

 

Bị thất bại liên tục trong việc xen vào nội t́nh của Myanmar, Tây phương vẫn chưa chịu bỏ cuộc và vẫn đang khuyến khích dân thiểu số Karen với nhóm vũ trang Karen National Union (KNU) gây rối nội bộ ở phía tây Myanmar, nhưng gần đây, nhóm này trốn chạy sang Thái Lan khi bị quân đội Myanmar tảo thanh.

 

Ngày 14 tháng 6, Tổng thống Sri Lanka là Mahinda Rajapaksa đă đến tân thủ đô của Myanmar là Nay Pyi Taw và đă được đối tác chủ nhà là tướng Than Shwe, chủ tịch của Hội đồng Ḥa b́nh và Phát triển Quốc gia Myanmar, đón tiếp để kết chặt thêm t́nh thân thiện và sự hợp tác mọi mặt giữa hai quốc gia Phật giáo và là cựu thuộc địa của đế quốc Anh. Myanmar là quan sát viên trong Hiệp hội Hợp tác Vùng Đông Nam Á (South Asia Association for Regional Cooperation: SAARC).

 

3. Thiên An Môn (Tiennianmen), Bắc Kinh:

 

Vụ đàn áp sinh viên cắm dùi ở Thiên An Môn tại Bắc Kinh đă xảy ra cách đây 20 năm, đêm 3 rạng 4 tháng 7, 1989 dưới thời Đặng Tiểu B́nh; nhưng Tây phương vẫn dùng bộ máy thông tin tuyên truyền của ḿnh hâm nóng trở lại hàng năm không biết cho đến bao giờ? Thế nhưng như ta đă thấy, Trung quốc bây giờ chứ không phải Trung quốc “bệnh phu” của những thập niên trước. Đời sống của dân chúng càng ngày càng được cải thiện theo đà tăng kinh tế của Trung quốc. Theo thống kê th́ nay có đà vượt cả Nhật để trở thành hạng nh́ sau Hoa Kỳ; uy tín của Trung quốc trên thế giới v́ thế cũng gia tăng đáng kể.   

Bài học ở đây là sau cuộc cắm dùi của sinh viên và công nhân tại quảng trường Thiên An Môn trong suốt mấy tháng từ tháng 4, sau khi thất bại th́ một số lănh đạo bỏ trốn và liền được lén đưa sang Mỹ và Tây phương tị nạn. Ban đầu họ rất hăng say trong các phong trào gây quỉ cho “Democracy for China Fund”, nhưng dần dần, họ hoang mang và tự vấn về việc làm của ḿnh 20 năm trước, như Shen Tong nay là chủ tịch công ty làm nhu liệu điện toán VFinity. Kể từ 2001, Tong đă trở về thăm gia đ́nh ở Beijing 6 lần và công ty của y đă tham gia vào cuộc tŕnh diễn kỷ thuật ngoạn mục mở màn Beijing Olympics 2008 đại thành công. Chuyện đáng nói là Trung quốc là một nước lớn đang hiện đại hóa, kinh tế ngày nay gấp 6 lần thời 1980s; ngay cả World Bank c̣n phải công nhận là chỉ qua một thế hệ, đảng Cộng sản Trung quốc đă đưa 500 triệu dân ra khỏi nghèo đói; cho nên dù Tây phương dùng bộ máy thông tin tuyên truyền t́m mọi cách dấy động nhưng mọi chuyện đều như muối bỏ biển rồi xẹp dần và biến mất.

 

 4. Chuyện dài xứ Hàn:

 

Triều Tiên bị chia cắt bởi tham vọng của các siêu cường từ năm 1948 thành hai nước thù địch dù cùng gịng giống. C̣n ǵ đau xót hơn thế? Nam Hàn dần bị Tin Lành hóa và biến thành một phiên trấn của Mỹ. Trong mối đe dọa sinh tử ấy, Bắc Hàn nhanh chóng phát triển vũ khí hạt nhân để đương đầu; thế là vùng đông bắc Á luôn là điểm nóng, chiến tranh có thể tái phát bất kỳ lúc nào.

 

a. Bắc Hàn: Ngày 17 tháng 3 năm 2009, bổng dưng từ phía Trung quốc xuất hiện hai kiều nữ được gọi là phóng viên TV người Mỹ gốc Hoa là Euna Lee và Laura Ling lạc đường sang… thiên thai Bắc Hàn để làm phóng sự (?) trong thời điểm có các cuộc thử nghiệm hỏa tiển tầm xa và bom hạt nhân. Dĩ nhiên hai nàng bị công an biên pḥng Bắc Hàn bắt giữ, rồi bị ṭa án nhân dân lên án xâm nhập lănh thổ bất hợp pháp để làm công tác gián điệp hồi đầu tháng 6 và bị kết án 12 năm khổ sai.  Thế là Tây phương có dịp bù lu bù loa… vi phạm nhân quyền. Thực ra đoàn của hai “tiên nữ” c̣n có “hai anh trai Lưu và Nguyễn” cùng đi, một anh tên là Mitch Koss mang máy quay và một anh thông dịch gốc Hàn; nhưng hai anh đă nhanh chân phóng lên “xe loan” giông mất để lại hai vị nữ lưu yếu đuối chạy theo không kịp.

 

Có người đọc tin thắc mắc tại sao mấy chị gốc Hoa này ở Cali không c̣n công tác nào khá hơn hay sao mà lại chơi tṛ mạo hiểm… đường rừng như thế này, và thừa biết hậu quả như thế nào rồi nhưng vẫn cứ làm… Chắc là phải theo lệnh “bề trên”. Đă vi phạm luật lệ của nước khác thế mà Tây phương vẫn có quyền lên án kẻ khác là không thực thi nhân quyền. Quái thật!



 

      
                        Laura Ling                        Euna Lee                         Roxana Saberi                

   

 

Điều này làm ta nhớ lại một vụ tương tự của một nữ phóng viên Mỹ gốc Iran tên Roxana Saberi, đă bị bắt hồi tháng 4/2009 và ṭa án Iran kết tội 8 năm tù v́ làm gián điệp cho Hoa Kỳ; nhưng sau những vụ đi đêm chính trị chị ta đă được trả về Mỹ hồi tháng 5.  Quả là trong thời kinh tế suy đồi, nữ phóng viên lúc này có giá quá.

 

b. Nam Hàn:

 

Cựu tổng thống Roh Moo-Hyun, kẻ đă từng tuyên bố không bao giờ cong ḿnh kowtow trước các ông chủ Mỹ, đă qua đời v́ “lao xuống vực tự tử trong khi đi bộ” vào sáng ngày 23/5 ở núi Yangsan. Ông vốn nổi danh là người trong sạch, xuất thân nghèo khổ, tự ḿnh vươn lên thành luật sư “nhân quyền” rồi tổng thống thứ 16 của Nam Hàn sau khi đắc cử vào tháng 2, 2003. Ông càng nổi tiếng v́ từ một thế hệ yêu nước “phe chính nghĩa quốc gia”, muốn giành độc lập cho dân Hàn khỏi các bàn tay thực dân cũ Nhật và mới Mỹ, và có thái độ ḥa hợp với Bắc Hàn. Các đồng chí của ông đă lập ra đảng Uri Party (UP) và đă giúp đưa ông lên địa vị tối cao.

 

Dĩ nhiên, điều này không làm các ông chủ Mỹ hài ḷng, lại gặp thời cường điệu của Bush con đang đánh đấm tùm lum nên đường sự nghiệp của Roh phải sớm tàn. Dù vậy Roh cũng phải vâng lệnh Bush gởi lính Nam Hàn sang Iraq để sát cánh đồng minh.

 

Không lâu sau khi tại chức, Roh đă gặp khá nhiều trắc trở với Nhật và Mỹ. Uy quyền tổng thống thường bị các dân biểu đảng đối lập Grand National Party (GNP) phá thối; ngay cả ngôi vị c̣n bị đ̣i truất phế bởi quốc hội Hàn. Roh buộc phải liên kết với GNP để lập đảng United New Democratic Party (UNDP), nhưng chính trường Nam Hàn càng ngày càng tệ. Dĩ nhiên, với nền “tự do ngôn… loạn” tài phiệt, th́ Roh đă bị bộ máy truyền thông trong và ngoài nước bêu rếu chỉ trích đủ điều; và với nền “dân chủ” tư bản (nghe tựa như “ta bảo”), th́ Roh đă bị thay thế qua cuộc “bầu cử” bởi Lee Myung-bak thuộc đảng GNP, một anh Cao Ly Tin Lành dễ dạy hơn vào năm 2008.

 

Khi ngă ngựa th́ bao nhiêu ân oán giang hồ cũ tha hồ trút xuống, không những chỉ riêng Roh và gia đ́nh mà toàn bộ đảng viên Uri, làm cho đảng này tan ră. Quả là sức mạnh kinh hồn của chủ nhân cầm “remote control”. Chính quyền mới liền ra sức điều tra các chuyện tiền bạc lem nhem và cáo buộc Roh, thân nhân và cận sự đă “tham nhũng” 6 triệu đô-la khi tại chức. Cuộc điều tra cứ kéo dài làm cho mọi người liên hệ không c̣n chịu nổi căng thẳng nên rốt cuộc Roh phải t́m lối thoát bi đát. Nền dân chủ học đ̣i nước nhỏ không có cơ chế bảo vệ người tiền nhiệm như hệ thống của chủ nên chuyện Roh “tự tử” không là chuyện động trời. Chỉ thương cho một kẻ yêu nước là nạn nhân của sự trả thù chính trị đen tối. Một cựu tổng thống c̣n bị đối xử như thế th́ thân phận một người dân quèn ở Hàn quốc tuy được tiếng “tự do dân chủ và văn minh” c̣n thê thảm đến đâu?

 

Đó cũng là “thân phận nhược tiểu” dưới sự bao che của chú Sam; thuận ta th́ sống nghịch ta th́… chết; có khác nào bài học của Diệm Nhu? [ví con chim sẽ Đại Việt gian Diệm được Mỹ ẩm về, sánh với con Phượng Hoàng Roh, NDVN]  Âu đó cũng là thân phận hèn mọn của các con tốt đen mà thôi. Các chủ nghĩa “quốc gia dân tộc”, “ái quốc”, “độc lập” vv… chỉ là chiêu bài vớ vẫn làm rối rắm sách lược của siêu cường, trong khi nền kinh tế, quốc pḥng, ngay cả tín ngưỡng của ḿnh đă nằm trọn trong tay chú Sam.

 

VI. Lời Kết:

Khi bọn người chuyên đi cướp đất người khác đă tàn sát và đày đọa dân bản địa trong ṿng nô lệ lâu dài, nay lại bày đặt nói chuyện nhân nghĩa, nhân quyền, tự do, dân chủ vào thời đại không thể nào tái diễn chính sách thực dân th́ các lời ngoa ngôn xảo ngữ ấy có đáng được trân trọng không? Tựa như một giáo hoàng đến măi thế kỷ 20 mới lên tiếng xin nhân loại tha thứ cho bảy núi tội lỗi mà tổ chức gian ác của ḿnh đă phạm phải trong suốt gần hai ngàn năm phỏng có tác dụng gi? Hay cũng chỉ là tṛ chơi chính trị tựa như những quảng cáo hàng hóa ta thấy hàng ngày trên các kênh TV ở Tây phương? Càng xem càng phát ghét cho cái lối nói xạo không hề biết ngượng. Nó cũng phản ảnh lối sống của Tây phương “xạo hết chỗ nói”.

 

Nhưng đối với Đông phương, đạo đức giả không thể qua mặt được những dân tộc có nền văn minh và đạo học lâu đời. Những dân tộc này dùng tín ngưỡng để tự sửa ḿnh vui người chứ không kết cấu nó thành một chủ thuyết để đi cướp của giết người mà  vẫn hănh diện nhân danh thần thánh.

 

Điều mà dân ở các nước nhược tiểu mong chờ ở Tây phương hiện nay có lẻ là đừng nên xía vào chuyện nội bộ của nước khác dù dưới bất cứ danh nghĩa ǵ. “Mind your own business – MOB”.

 

Họ nên hoàn hảo những khiếm khuyết vẫn c̣n có trong đời sống đạo đức xă hội hàng ngày ở nước họ. Nếu hay th́ tự thành tấm gương để người dân nước khác bắt chước mà không cần phải bị ép buộc. Người Đông phương thường có câu: Hữu xạ tự nhiên hương!

 

   

Tiệc mừng Lễ Độc lập “4th of July” tại Sứ quán Hoa Kỳ ở Việt Nam:

Bọn Việt gian xum xoe quanh “Thái thú dơm”Mỹ trắng

 

Rốt lại, kêu gọi thực thi nhân quyền, tự do, dân chủ là điều nên làm một khi ḿnh làm với tinh thần vô tư không bè phái phi chính trị. Nhưng nếu ḿnh dùng nó như một vũ khí chính trị hầu mong can thiệp vào nội bộ nước khác th́ nó bị hoàn toàn phản ứng ngược thê thảm. V́ sao? V́ nhân dân độc lập ở các nước Á châu không thể quên được lịch sử cận đại tang thương và ô nhục khi xứ sở họ, dân tộc họ đă từng bị Tây phương đô hộ và nô lệ hoá hết sức dă man trong thời kỳ thuộc địa. Họ phải hy sinh đánh đổi bao xương máu mới giành được độc lập tự chủ ngày nay, không lư ǵ lại lắng nghe những lời đạo đức đường mật của chính kẻ mới ngày nào đă tàn sát bóc lột nhân dân ḿnh thậm tệ; tựa như con chó sói nham hiểm trùm mền đóng vai lăo bà hiền lành trên giường để chờ nuốt sống cô bé choàng khăn đỏ. Các dân tộc này nào phải ngu dại như các thế kỷ trước. Họ nhận ra rằng thà hy sinh đi một chút nhân quyền, tự do, dân chủ để đánh đổi lấy nền độc lập, tự chủ, sự toàn vẹn bản sắc dân tộc hơn là “cơng rắn vào cắn gà nhà, đem voi về giầy mă tổ” chỉ v́ nhân danh văn minh tiến bộ.  

 

Muốn sống chung ḥa b́nh, có lẻ Tây phương nên bỏ bớt cái tánh kiêu ngạo bắt nạt mọi người, lại c̣n phải học hỏi nghiên cứu rất lâu mới hiểu được triết lư nhân sinh và đạo lư của Đông phương.

 

Tây phương với tiền của dồi dào cướp được trong thời thuộc địa, nay quyết dùng nó vào việc lũng đoạn nội t́nh nước khác, nhưng họ c̣n phải biết đối với nhân dân các nước nhỏ vũ khí c̣n lại mạnh mẽ duy nhất là “mănh lực của ḷng ái quốc bằng hy sinh”. Nó có sức đối kháng không kém phần hiệu quả so với đồng tiền. Tiền lắm khi mang hậu ư đen tối xấu xa, nhưng ḷng ái quốc th́ chắc là trong sáng.

 

Có lẻ Tây phương rất thắc mắc v́ sao trong quá khứ họ đă “bách chiến bách thắng” qua sách lược dùng đạo (Ki-tô) tạo đời đă thống trị được châu Âu, tóm lấy bắc Mỹ, rồi nam Mỹ, vươn qua châu Phi, giật lấy  châu Úc; nhưng khi đến châu Á lại bị chận lại ở ven ŕa bán khai Phi luật Tân? Họ chắc không ngờ một vùng đất xem ra kém mở mang lại có thể đề kháng lại được sức mạnh kỷ thuật cơ khí của ḿnh. Có một lực cản trở nào đó cần phải t́m hiểu cho tường tận. Hay v́ vùng này c̣n có các nền đạo học và văn minh vượt trội xa hơn nền văn minh Ki-tô mà Tây phương thường hănh diện. Chúng đă có thể hoá giải được rất nhiều vấn nạn mà sinh tồn qua bao thời đại tiền thực dân. Có lẽ v́ thế mà ngày nay, Tây phương đang du nhập và cố nghiên cứu xem tinh tuư nằm ở chỗ nào của các đạo giáo Đông phương mà chủ yếu là Phật và Ấn giáo, để khéo vận dụng vào việc xâm nhập Á đông. Câu hỏi lớn sẽ được đặt ra: “Các cố đạo, giáo sĩ Ki-tô đă bất lực trong việc bành trướng ảnh hưởng của Tây phương ở vùng đất này; tại sao lại không dùng ngay chính những tăng sĩ và đạo sĩ đă được đào tạo ở đây để tái xâm nhập vào cộng đồng ấy?” Từ lâu, Tây phương đă nuôi dưỡng nhiều tổ chức giả danh Phật giáo của dân tị nạn từ các quốc gia Á châu, nhất là Việt Nam, Tây Tạng, Trung Quốc để làm b́nh phong chống đối lại chính phủ tương ứng. Nay đă có khá nhiều anh “đầu tṛn áo vuông” thuộc nhóm dân thiểu số Á châu tị nạn đă và đang hăng say gia nhập vào hàng ngủ của các thành phần này, nhưng chưa làm nên đ́nh đám ǵ. Nhưng mưu đồ bành trướng của Tây phương là một sự đầu tư lâu dài, có thể chờ đợi được. Không vội.

 

Dù bọn lưu vong phản động ở các xóm đạo Vịt hải ngoại tiếp tục nhai lại điệp khúc của bài hát đ̣i “nhân quyền, tự do, dân chủ” soạn bởi đấng bề trên Tây phương; bổng một bản tin mới nhất của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) vào ngày 4/6/2009 cho hay Việt Nam đứng thứ 39 trong danh sách các nước an toàn nhất thế giới theo Chỉ số Ḥa b́nh Toàn cầu (GPI) năm 2009 do tổ chức phân tích kinh tế uy tín EIU thu thập cho Viện Kinh tế và Ḥa b́nh. Chỉ số GPI được đánh giá dựa vào các yếu tố như chiến tranh, xung đột, việc tôn trọng quyền con người, số các vụ giết người, số người bị cầm tù, tổng lượng mua bán vũ khí và mức độ dân chủ. New Zealand dẫn đầu, và Mỹ đứng thứ … 83 ! Ở khu vực châu Á-Thái B́nh Dương th́ Malaysia đứng ở vị trí 26, tiếp đó là Indonesia 67, Philippines 114, Thái Lan 118 và Myanmar 126.

 

EIU có uống lộn thuốc không đây? Hay là ba cái chuyện “nhân quyền, tự do, dân chủ” chỉ là đồ ruồi bu, nghe qua rồi bỏ, đừng nên bận tâm vô ích.

 

Thiên Lôi. 7/2009

NDVN, ngày 1/7/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend