NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

NHỮNG BÀI HỌC VỀ MỘT THẢM HỌA: McGEORGE BUNDY VÀ.... CUỘC CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

 

 

 

 

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

 

Thị trường chứng khoán lại sụt giảm trước viễn cảnh u ám của kinh tế Hoa Kỳ

 

 

 

Hai ngày sau cuộc họp thượng đỉnh G20 ở Washington, các thị trường chứng khoán thế giới lại sụt giảm, nhất là sau khi ngân hàng Mỹ Citigroup loan báo sẽ cắt giảm 50 ngàn việc làm trong những tháng tới

 

    Thông tin này đă khiến thị trường Wall Street hôm qua sụt mất 2,63% điểm. Tại châu Âu, các thị trường tiếp tục xu hướng sụt giảm . Tính đến trưa hôm nay, Paris bị mất 1,57% điểm, Luân Đôn 1,50% và Francfort 1,39%.

 

    Tại châu Á, sau khi Nhật Bản hôm qua xác nhận là kinh tế đă đi vào suy thoái, thị trường Tokyo hôm nay sụt 2,28% vào giờ đóng cửa. Hồng Kông cũng bị mắt 4,54% điểm.

 

    Theo một nhà phân tích tài chính ở Nhật Bản, mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên các thị trường. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Washington vừa qua, các nước công nghiệp phát triển và các nước đang trổi dậy đă cam kết sẽ phối hợp các chính sách chấn hưng kinh tế và giám sát tốt hơn nền tài chính toàn cầu. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh này lại không đề ra những kế hoạch cụ thể nào, cũng như không lập ra một cơ chế để kiểm soát hoạt động của các thị trường

 

Thanh Phương, RFI, ngày 18/11/08

 

 

  

Kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc càng thêm u ám

 

T́nh h́nh kinh tế ngày càng trở nên tồi tệ tại châu Á. Thị trường chứng khoán Tokyo lại tụt giảm. Hai lĩnh vực ngân hàng và xe hơi của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn. C̣n tại Hàn Quốc, chưa bao giờ số doanh nghiệp bị phá sản lại đạt mức cao như vậy từ 3 năm qua

 

Hôm nay thị trường chứng khoán Tokyo đă đóng cửa với chỉ số Nikkei bị mất đi gần 60 điểm, nghĩa là tụt giảm 0,66%. Các nhà đầu tư tỏ ra dè dặt trước những khó khăn tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp xe hơi.

 

Như vậy là ngân hàng số một của Nhật Bản, Mitsubishi UFJ Financial Group, đă công bố những kết quả trong sáu tháng đầu năm nay c̣n tệ hại hơn là dự trù, mặc dù ngân hàng này đă quyết định tăng số vốn là 990 tỷ yen (tức 8 tỷ eurô). C̣n tập đoàn tài chính số 3 của Nhật, Sumitomo Mitsui financial Group, th́ tụt giảm gần 8% cho dù tập đoàn này cũng có ư định tăng nguồn vốn. Do vậy mà các nhà đầu tư càng tỏ ra bi quan cho cả lĩnh vực ngân hàng.

 

Về phần công nghiệp xe hơi, Toyota, tập đoàn xe hơi số một tại Nhật Bản, thông báo hôm nay là tất cả các nhà máy đặt tại Hoa Kỳ sẽ ngưng sản xuất xe hơi trong hai ngày 22 và 23 tháng 12. Lư do là v́ mức cầu đă sụt giảm trên thị trường Hoa Kỳ. Đầu tháng này Toyota đă cho biết là tính đến tháng mười số xe bán ra tại Mỹ đă giảm đi gần 26% trong một năm.

 

C̣n mức lời của công ty Nissan sẽ là con số không trong quư hai của năm nay v́ mức cầu giảm và v́ đồng yen c̣n quá mạnh. Ông Carlos Ghosn, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Renault và Nissan, đă tuyên bố với nhật báo Mỹ Wall Street Journal rằng năm 2009 sẽ là một trong những năm khó khăn nhất của tập đoàn này.

 

Trong lúc đó, tại Hàn Quốc, có 321 doanh nghiệp bị phá sản trong tháng mười, con số cao nhất từ tháng ba năm 2005. Trong tháng trước đă có 203 công ty bị phá sản tại Hàn Quốc.

 

Thanh Thủy, RFI, 19/11/08

 

 

 

 

 

 

 

    McGeorge Bundy giữ chức Cố vấn An ninh (1961-1966) cho cả hai đời Tổng thống Kennedy và Johnson trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh Việt Nam. Ông cũng là một trong những trí thức được nhà báo David Halberstam xếp vào nhóm những người thông minh, giỏi giang nhất nước Mỹ - “The Best and The Brightest” - trong chính quyền của vị Tổng thống trẻ tuổi tài cao John F. Kennedy.

 

    Cuối năm 1995, hồi kư “In Retrospect” của cựu Bộ trưởng Quốc pḥng Robert McNamara (thú nhận đă rất sai lầm- “Yet we were wrong, terribly wrong” - trong cuộc chiến ở Việt Nam) đă động năo ông Bundy, người cựu khoa trưởng trẻ tuổi nhất của Harvard. Chấn động này đă thúc đẩy ông muốn trầm tư về những lỗi lầm của chính ông trong thời kỳ làm cố vấn đó. Ông đă mời kư giả Gordon Goldstein phỏng vấn ông và từ những câu trả lời này, cùng với những hồ sơ mới được giải mật năm 2008, kư giả Goldstein đă thực hiện tác phẩm “Những Bài Học về một Thảm Họa” để phân tích hành tŕnh của một trí thức đi lạc đường vào lịch sử.

 

    Người viết bài điểm sách này là James G. Blight, gíáo sư môn “Bang giao Quốc tế” tại Viện Nghiên Cứu Quốc Tế Watson thuộc Đại học Brown và cũng là tác giả cuốn sách “Vietnam If Kennedy Had Lived: Virtual JFK” xuất bản tháng 2 năm 2009 để nghiên cứu giả thuyết chiến tranh Việt Nam sẽ không xăy ra nếu TT Kennedy - vốn chủ trương không gửi quân tác chiến qua Việt Nam - đă không bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963.  

 

    Đối với độc giả Việt Nam, cuốn sách này mang những dữ kiện lịch sử qúy giá trong nội t́nh phía Mỹ để giúp cho chúng ta có một cái nh́n chính xác hơn về người và việc trong một thời kỳ ngập tràn máu lửa trên quê hương Việt Nam. -  Người dịch: C.D. LạcLongTử  

 

 

 02 01 

 

ĐIỂM SÁCH

 

NHỮNG BÀI HỌC VỀ MỘT THẢM HỌA

McGEORGE BUNDY VÀ CON ĐƯỜNG DẪN VÀO CUỘC
CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM

 

 

 

    “Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam”.Tác giả Gordon M. Goldstein. 300 Trang. Nhà Xuất bản: Times Books/Henry Holt & Company. $25)

 

    “Những Bài Học về Một Thảm Họa” không nhất thiết là một cuốn sách về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, mặc dù nội dung được xếp rơ ràng vào loại tác phẩm nói về cách thức người Mỹ lấy quyết định trong cuộc chiến ở Việt Nam. Tiên khởi, đây là một tác phẩm để nói về câu chuyện của một sự đi t́m – t́m trong bản ngă, t́m trong lịch sử, t́m trong đạo đức -  của một chính khách cao cấp - Cố vấn An ninh McGeorge Bundy - muốn khám phá nguồn gốc của những lầm và những lỗi mà ông đă gây nên. Tác giả Goldstein đă không duyệt lại diễn tiến của cuộc chiến, v́ điều này đă được đề cập đến trong hàng trăm cuốn sách. Làm như vậy, ông sẽ đẩy sự chú ư của độc giả ra khỏi mục đích chính của cuốn sách của ông là nói về cuộc đi t́m của Bundy, vị Cố vấn An ninh của Tổng thống Kennedy. Bảng danh sách in ở những trang đầu giới thiệu tiểu sử của những nhân vật chính của cuộc chiến là một tài liệu có ích cho độc giả. Cũng như bảng niên biểu ghi tóm tắt những sự cố của cuộc chiến sẽ giúp rất nhiều cho những người đọc không quen thuộc với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam

 

    Theo tác giả Goldstein, sau khi đọc tất cả những tài liệu công khai và bí mật về chính quyền Kennedy, ông Cố vấn Bundy đă đi đến được hai kết luận: Thứ nhất, Tổng thống Kennedy sẽ không gửi quân qua Việt Nam v́ ông không tin là quân ngoại nhập dù có hùng hậu cũng không thể thắng được một cuộc chiến tranh du kích. thứ nh́, gần như là không có một điều ǵ có thể cản được Tổng thống Lyndon Johnson gửi quân Mỹ qua Việt Nam v́ ông không muốn phải trực diện những hậu quả chính trị tai hại nếu ông rút quân ra khỏi Việt Nam là điều mà Tổng thống Kennedy đă bắt đầu thực hiện kể từ cuối năm 1963. (LND: Sự thực lịch sử này đă đánh tan huyền thoại của một số “sử gia” Việt Nam cho rằng Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị đảo chánh ngày 1 tháng 11/1963 v́ chống lại ư muốn tăng quân của Mỹ ở Việt Nam). Đây là khởi điểm cho tác phẩm của Bundy và Goldstein: Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là của Tổng thống Johnson chứ không phải của Tổng thống Kennedy.

 

    Qua những ghi nhận bên lề các tài liệu và những cuộc phỏng vấn với Goldstein, Bundy đă chấp nhận là trong thời kỳ làm Cố vấn cho cả hai Tổng thống Kennedy và Johnson, ông đă không hiểu được như vậy. Sau đây là ba dẫn chứng về sự u minh của ông Cố vấn Bundy khi làm việc mà không hiểu Tổng thống của ḿnh muốn ǵ trong cuộc chiến ở Việt Nam.

 

    Khoảng tháng 11 năm 1961, Tổng thống Kennedy đă nói với các cố vấn cao cấp của ông là ông sẽ không gửi quân tác chiến Mỹ qua Việt Nam. Điều này được ghi lại hàng chục lần trong hồ sơ chính thức và trong biên bản của các cuộc họp của ṭa Bạch Ốc. Ông Cố vấn Bundy là một trong những người đầu tiên không nắm được ư này và không hiểu cách suy luận của Kennedy là không thể thắng chiến tranh du kích bằng một đoàn quân ngoại quốc hùng hậu v́ đoàn quân ấy sẽ trở về nước và để lại chiến trường cho quân du kích kiểm soát. Trong năm 1961 đó, có vẻ như ông Cố vấn Bundy không tin là TT Kennedy thực sự có thể bỏ rơi miền Nam Việt Nam nếu t́nh thế đ̣i hỏi. Vào ngày 15 tháng 11 năm 1961, ngay trước khi có một cuộc họp quan trọng giữa TT Kennedy và ban tham mưu về an ninh quốc gia, ông Cố vấn Bundy đă gửi cho TT Kennedy một lá thư với giọng điệu không nghiêm chỉnh để hỏi ư TT có ư định khởi động một cuộc chiến ở một vùng đất ngoài nước Mỹ hay không. Ông Bundy đă bắt đầu lá thư này như sau: “Đă có nhiều người phát biểu ư kiến về Việt Nam, nay thêm một ư kiến nữa th́ cũng không có ǵ ích lợi. Nhưng hôm vừa rồi, khi ngồi ở hồ bơi, TT đă hỏi ư kiến của tôi th́ bây giờ tôi xin trả lời như vầy.” Theo tác giả Goldstein, ông Cố vấn Bundy đă lấy làm kinh hoàng khi đọc lại lá thư của chính ông với một nội dung và giọng điệu quá sức u mê đối với TT Kennedy và kiêu kỳ đối với chuyện chiến tranh và hoà b́nh, chuyện  chết chóc và sống c̣n.

 

    Bây giờ th́ những biên bản ghi lại từ những băng thâu các cuộc họp của TT Kennedy với các cố vấn ngày 2 tháng 10 năm 1963 đă được công khai giải mả. Những biên bản này cho thấy Bộ trưởng McNamara và Tướng Maxwell Taylor, Tổng Tư lệnh Liên Quân, vừa trở lại Mỹ sau chuyến viếng thăm Nam Việt. Bộ trưởng McNamara đề nghị cuối năm 1963 sẽ rút về 1,000 cố vấn (trên tổng số 16,000) và năm 1965 sẽ rút tất cả quân Mỹ ra khỏi miền Nam. Tướng Taylor cũng đồng ư như vậy. Nhưng ông Cố vấn Bundy th́ không đồng ư. Bundy hỏi Mc Namara “Tại sao lại phải rút quân?” Mc Namara trả lời “Chúng ta phải t́m một phương cách để rút ra khỏi Việt Nam. Và đây là cách rút quân.” TT Kennedy đồng ư với McNamara và ra lệnh trong vài hôm sẽ chính thức thông báo tin rút 1000 quân này cho toàn dân Mỹ được biết. Một lần nữa, TT Kennedy thực hiện ư của ông không muốn bị sa lầy vào vào cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng ông Cố vấn Bundy cũng không thông hiểu. Trong cuộc tranh luận đánh hay không đánh này, ông lại ở về phe sai lầm. Ông đi ngược với ư kiến của Tổng thống. Ông cũng đi ngược với lịch sử như chúng ta biết lịch sử đă tiến tŕển như thế nào sau cái chết của TT Kennedy. Ông Johnson, người tổng thống kế vị, đă tỏ ra rất dễ dàng cho ông Cố vấn Bundy  đẩy đưa vào việc đem quân tác chiến vào Việt Nam.

 

    Đầu tháng 2 năm 1965, TT Johnson gửi ông Cố vấn Bundy đi thăm Việt Nam đầu tiên. Đây là một phần của tiến tŕnh tái thẩm định t́nh h́nh chiến tranh của chính quyền Johnson để quyết định sẽ “ra khỏi  hay tiến vào” Việt Nam, sẽ gia tăng quân số tác chiến Mỹ hay t́m cách rút ra khỏi t́nh h́nh sa sút đó càng sớm càng tốt. Trong khi Bundy đang ở Việt Nam th́ Việt Cọng tấn công một căn cứ Mỹ ở Pleiku làm chết nhiều lính Mỹ và hơn 100 lính Mỹ khác bị thương. Đồng thời cũng làm hư hại một số máy bay và trực thăng của quân đội Mỹ. Bundy tức khắc lấy máy bay lên Pleiku để thăm các thương binh và xem xét những tổn thất. Bill Moyers, kư giả đài truyền h́nh PBS và là cựu phụ tá của TT Johnson, trong một tác phẩm sắp xuất bản, đă kể lại (trong một cuộc họp tháng 4 năm 2005 có cả tác giả Gordon Goldstein tham dự) phản ứng của chính ông khi nghe Cố vấn Mac Bundy điện đàm trực tiếp với TT Johnson từ Pleiku ngày 7 tháng 2 năm 1965.           

 

    Moyers: McGeorge Bundy đă thay đổi sau khi đi thăm Pleiku sau trận tấn công của Việt Cọng … Tôi đoán lư do là tiếng đạn bay. Khi một người đối diện với một lằn đạn, cách suy nghĩ của người đó sẽ thay đổi. ( . . .  ) Trên chuyến bay trở lại Hoa Thịnh Đốn, Bundy và các cộng sự viên đă thảo một văn thư đề nghị TT Johnson tức khắc thi hành một cuộc tấn công “trả đũa dài hạn” chống lại Bắc Việt. TT Johnson đồng ư với Bundy. Trong ṿng một tháng, người lính Thủy quân Lục chiến đầu tiên của Mỹ đổ bộ xuống bờ biển Đà Nẳng kéo theo sau đó hàng trăm ngàn lính Mỹ khác. Lần nầy, ông Cố vấn Bundy đồng ư với vị Tổng thống của ông, một sự đồng ư đă làm cho ông hối hận suốt đời.

 

    Nh́n lại quá khứ: V́ sao ông cố vấn Bundy đă u mê như vậy?

 

    Phần gây xúc động và đáng chú ư nhất của tác phẩm “Bài Học Về Một Thảm Họa” là phần tác giả Goldstein diễn tả sự trăn trở của ông Cố vấn Bundy để cố t́m hiểu v́ sao ông đă u mê như vậy. V́ sao ông đă không thấy là TT Kennedy không muốn có một cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam? V́ sao ông đă không thông hiểu được như Bộ trưởng McNamara và tướng Taylor là chính quyền Kennedy đang rút quân ra khỏi Việt Nam? Và tại sao ông lại đồng ư với TT Johnson năm 1965 về một quyết định có thể được coi như là tai hại nhất trong lịch sử nước Mỹ ngoài quyết định tấn công Iraq của TT Bush năm 2003 – Đó là quyết định của TT Johnson gửi quân đội Mỹ đi chiến đấu thay thế cho quân đội Việt Nam Cọng Hoà? 

 

 

_____________________________________

 

    BOOK REVIEW:

 

    (“Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam”.By Gordon M. Goldstein. 300 Pages. Times Books/Henry Holt & Company. $25)

 

    Lessons in Disaster” (1) is not primarily a book about the Vietnam War, although it is well anchored in the literature of U.S. decision-making on the war. Instead, it is foremost the story of a quest—personal, historical and even moral—of a major public figure searching for the roots of his own mistakes and his own culpability. Goldstein does not review the major developments in the war, because such surveys can be found in hundreds of other books, and because making the book top-heavy with Vietnam-era context would also have distracted readers from Goldstein’s central mission, which is to tell the story of Bundy’s quest. The annotated cast of characters at the beginning of the book is helpful. An appendix containing a basic chronology of the war would also have been helpful to readers who lack a thorough grounding in the Vietnam War. 

 

    Bundy’s reading of the documentary evidence led him, according to Goldstein, to two conclusions: First, JFK was not going to send U.S. combat troops to Vietnam, because he didn’t believe that such a guerrilla conflict could be won by introducing large numbers of foreign combat troops. Second, virtually nothing could have prevented LBJ from sending combat troops to Vietnam, because LBJ was unwilling to face the political fallout he believed he would have encountered if he had withdrawn, as JFK had already begun to do in late 1963. This became the point of departure for Bundy and Goldstein: The Vietnam War was Lyndon Johnson’s war, not John Kennedy’s war.

 

    Bundy, by his own admission in marginalia, fragments and interview material he produced with Goldstein, understood none of this in real time. Here are three examples of Bundy’s cluelessness—his habitual inability to understand the presidents he served with in regard to the conflict in Vietnam.

 

    By November 1961, JFK had told his senior advisers nearly a dozen times on the record, in meetings whose minutes we have, that he was not sending combat troops to Vietnam. Bundy was foremost among those who did not get it, who failed to understand JFK’s reasoning—which was that guerrilla wars could not be won by large foreign armies that would eventually go home and leave the guerrillas in charge. In 1961, Bundy apparently did not believe Kennedy was serious about letting South Vietnam go, if it came to that. On Nov. 15, just before a pivotal meeting of JFK with his national security team, Bundy wrote to Kennedy in a tone more often reserved for asking someone if he is free for lunch, rather than in a memorandum to a president having to address the gravest matter he can face, which is whether to commit the nation to a foreign war. Bundy began, “So many people have offered their opinions on Vietnam that more may not be helpful. But the other day at the swimming pool you asked me what I thought and here it is.” As Goldstein reports, Bundy was retrospectively appalled by the content and tone of his memo: so clueless about his president, so flippant about matters of war and peace, life and death.

 

    Transcripts are now available of audiotapes made secretly by JFK during meetings of his advisers on Oct. 2 and 5, 1963. McNamara and Gen. Maxwell Taylor, the chairman of the Joint Chiefs of Staff, have just returned from South Vietnam. McNamara recommends to Kennedy that the first 1,000 U.S. advisers (out of roughly 16,000) be pulled out by the end of 1963 with most of the remaining advisers to be withdrawn by the end of 1965. Taylor concurs. Bundy does not. Bundy asks McNamara, “What’s the point of doing it?” McNamara responds, “We need a way to get out of Vietnam. This is a way of doing it.” JFK responds affirmatively, and the order is given to announce the 1,000-man pullout in a public statement a few days later. Again, JFK follows through on his intention not to get bogged down in a war in Vietnam, but Bundy still does not get it. He is again on the wrong side of the argument. He is at odds with his president. He is also at odds with history, for we know what happened after Kennedy’s death. Johnson would prove far more amenable to Bundy’s proclivity toward the introduction of combat troops. 

 

    In early February 1965, LBJ sent Bundy on his first trip to Vietnam as part of an overall evaluation by the administration as to whether they should “get in or get out” of Vietnam—whether they should send combat troops to Vietnam in large numbers, or find a way to exit the deteriorating situation as soon as possible. While Bundy was in Vietnam, the insurgents struck a base in Pleiku, in the Central Highlands, killing several Americans, wounding more than 100, and destroying U.S. helicopters and airplanes under the jurisdiction of the South Vietnamese allies of the United States. Bundy flew immediately up to Pleiku from Saigon to view the damage and visit with the wounded American advisers. In a book to be published soon, LBJ aide (now PBS journalist) Bill Moyers is quoted as he describes (at an April 2005 conference in which Gordon Goldstein also participated) his own reaction to listening to Mac Bundy’s phone call to LBJ from Vietnam on Feb. 7, 1965.   

 

       Moyers: McGeorge Bundy was a different man after Pleiku. … I guess it has something to do with when you hear the firing of the shells. When you are present, something happens to you. He was a different man after that. … I was actually in the room when Mac called from Pleiku and told the president.

    . . . 

 

       On the flight back to Washington, Bundy and his aides drafted a memo that recommended to LBJ that he order at once “sustained reprisals” against North Vietnam. LBJ agreed. Within a month, the first U.S. Marines had arrived in Vietnam, with hundreds of thousands of U.S. troops to follow. This time, Bundy agreed with his president, a fact he would regret to the end of his life.

 

         In Retrospect: Why Bundy Didn’t Get It   

 

       The most moving and interesting sections of “Lessons in Disaster” are those Goldstein devotes to Bundy’s struggle to discover why he didn’t get it. Why did he not understand that JFK was not going to have an American war in Vietnam? Why did he not grasp what McNamara and Taylor understood by October 1963, that the U.S. under JFK was pulling out of Vietnam? And why did he find himself agreeing with LBJ in 1965 on what may have been the most disastrous presidential decision in American history prior to the 2003 invasion of Iraq—LBJ’s decision to send in the U.S. military to take over the war from the South Vietnamese?

 

(1)   Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam. By Gordon M. Goldstein. 300 pages. Times Books/Henry Holt & Company. $25. 

 

(2)   James G. Blight

 

Professor of international relations at Brown University’s

Watson Institute for International Studies 

 

http://www.truthdig.com/arts_culture/page3/20081219_james_blight_on_mcgeorge_bundy/

 

 

C.D LạcLongTử, giaodiemonline, ngày 27/5/09

NDVN, ngày 2/6/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend