NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Có God Hay Không? Bertrand Russell


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

 

 

 

 

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

 

Thị trường chứng khoán lại sụt giảm trước viễn cảnh u ám của kinh tế Hoa Kỳ

 

 

 

Hai ngày sau cuộc họp thượng đỉnh G20 ở Washington, các thị trường chứng khoán thế giới lại sụt giảm, nhất là sau khi ngân hàng Mỹ Citigroup loan báo sẽ cắt giảm 50 ngàn việc làm trong những tháng tới

 

    Thông tin này đă khiến thị trường Wall Street hôm qua sụt mất 2,63% điểm. Tại châu Âu, các thị trường tiếp tục xu hướng sụt giảm . Tính đến trưa hôm nay, Paris bị mất 1,57% điểm, Luân Đôn 1,50% và Francfort 1,39%.

 

    Tại châu Á, sau khi Nhật Bản hôm qua xác nhận là kinh tế đă đi vào suy thoái, thị trường Tokyo hôm nay sụt 2,28% vào giờ đóng cửa. Hồng Kông cũng bị mắt 4,54% điểm.

 

    Theo một nhà phân tích tài chính ở Nhật Bản, mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên các thị trường. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Washington vừa qua, các nước công nghiệp phát triển và các nước đang trổi dậy đă cam kết sẽ phối hợp các chính sách chấn hưng kinh tế và giám sát tốt hơn nền tài chính toàn cầu. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh này lại không đề ra những kế hoạch cụ thể nào, cũng như không lập ra một cơ chế để kiểm soát hoạt động của các thị trường

 

Thanh Phương, RFI, ngày 18/11/08

 

 

  

Kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc càng thêm u ám

 

T́nh h́nh kinh tế ngày càng trở nên tồi tệ tại châu Á. Thị trường chứng khoán Tokyo lại tụt giảm. Hai lĩnh vực ngân hàng và xe hơi của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn. C̣n tại Hàn Quốc, chưa bao giờ số doanh nghiệp bị phá sản lại đạt mức cao như vậy từ 3 năm qua

 

Hôm nay thị trường chứng khoán Tokyo đă đóng cửa với chỉ số Nikkei bị mất đi gần 60 điểm, nghĩa là tụt giảm 0,66%. Các nhà đầu tư tỏ ra dè dặt trước những khó khăn tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp xe hơi.

 

Như vậy là ngân hàng số một của Nhật Bản, Mitsubishi UFJ Financial Group, đă công bố những kết quả trong sáu tháng đầu năm nay c̣n tệ hại hơn là dự trù, mặc dù ngân hàng này đă quyết định tăng số vốn là 990 tỷ yen (tức 8 tỷ eurô). C̣n tập đoàn tài chính số 3 của Nhật, Sumitomo Mitsui financial Group, th́ tụt giảm gần 8% cho dù tập đoàn này cũng có ư định tăng nguồn vốn. Do vậy mà các nhà đầu tư càng tỏ ra bi quan cho cả lĩnh vực ngân hàng.

 

Về phần công nghiệp xe hơi, Toyota, tập đoàn xe hơi số một tại Nhật Bản, thông báo hôm nay là tất cả các nhà máy đặt tại Hoa Kỳ sẽ ngưng sản xuất xe hơi trong hai ngày 22 và 23 tháng 12. Lư do là v́ mức cầu đă sụt giảm trên thị trường Hoa Kỳ. Đầu tháng này Toyota đă cho biết là tính đến tháng mười số xe bán ra tại Mỹ đă giảm đi gần 26% trong một năm.

 

C̣n mức lời của công ty Nissan sẽ là con số không trong quư hai của năm nay v́ mức cầu giảm và v́ đồng yen c̣n quá mạnh. Ông Carlos Ghosn, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Renault và Nissan, đă tuyên bố với nhật báo Mỹ Wall Street Journal rằng năm 2009 sẽ là một trong những năm khó khăn nhất của tập đoàn này.

 

Trong lúc đó, tại Hàn Quốc, có 321 doanh nghiệp bị phá sản trong tháng mười, con số cao nhất từ tháng ba năm 2005. Trong tháng trước đă có 203 công ty bị phá sản tại Hàn Quốc.

 

Thanh Thủy, RFI, 19/11/08

 

 

 

 

 

 

Bertrand Russell (1872-1970)

 

Lời Người Dịch:  Russell là tên tuổi lừng lẫy của triết học phương Tây, từ thế kỷ vừa qua cho đến nay, ông là bậc thày của nhân loại.  Riêng ở ngoài giới học thuật, ông rất nổi tiếng do các bài viết ngắn tŕnh bày quan điểm của ḿnh về xă hội, chính trị và nhất là về tôn giáo – phê b́nh KiTô giáo độc thần.  Đây là một quan tâm đặc biệt từ thuở c̣n nhỏ tuối.  Sau khi đọc tự truyên của John Stuart Mill, ông mất ḷng tin vào God. Trước đó, ông cho luận chứng về Nguyên Nhân Đầu Tiên đủ chứng minh sự hiện hữu của một God, nhưng Mill viết có cha dạy rằng nếu bảo God là nguyên nhân vũ trụ th́ liền lập tức có câu hỏi – thế cái ǵ là nguyên nhân của God ? – nổi lên ngay. Bới v́ nếu tất cả mọi vật đều có nguyên nhân sao God lại không? Chuyến choáng v́ khám phá này, lúc 18 tuổi ông vào Cambridge, và sung sướng làm sao – khi biết rằng đa số mọi người quanh ông đều nghĩ như thế.

 

    Bài viết này chọn dịch v́ nay đă thành một bản văn cổ điển. Có hai chuyện lư thú – có lẽ người đọc đă nghe hay đọc ở chỗ khác – là cách Russell bác luận chứng thứ nhất bằng chuyện con rùa, và tạo ra một tương đồng giữa God và cái b́nh trà bằng sứ quay quanh mặt trời – do một anh ba láp lảm nhảm tiếp – “nhưng nhỏ lắm, không viễn vọng kính nào thấy được”, thế th́ chứng minh làm sao được sự hiện hữu của b́nh trà!

 

    Sau cùng, trong  bài này, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, ông dơng đạc tuyên bố gánh nặng chứng minh có God hiện hữu hay không là của những người chủ tŕ niềm tin này, không phải của những ai theo chủ nghĩa hoài nghi như ông, hay những người vô thần. Thái độ của ông là “quí ngài tin có God – luận chứng đâu – xin cho nghe” – và chăm chú nghe xong, ông gạt qua từng luận chứng một, v́ tất cả chúng, lư này hay cách khác đều không đứng vững. Là một “Thái Sơn Bắc Đẩu” của triết học hiện đại và đặc biệt là người khai sáng ra môn toán luận lư – các phát biểu của ông – giải Nobel văn chương 1950 - trong bài này cũng như bài “Tại sao tôi không là người theo đạo KiTô” – măi măi là những viên kim cương thêu trên gấm hoa – long lanh tỏa sáng, mở rộng cánh cửa tự do cho trí tuệ của toàn nhân loại.

 

Lê Dọn Bàn

(Toronto May/2009)

 

 

 

* * *

 

 

 

Có God Hay Không?

Bertrand Russell (1872-1970)

(Báo Illustrated Magazine, đặt viết, nhưng không hề in, năm 1952)

 

    Có God [1] hay không? – là câu hỏi mà lời đáp ra sao sẽ dựa trên nhiều nền tảng phức tạp rất khác nhau, lại tùy từng cá nhân và cũng tùy vào những khối người khác biệt. Phần đông bao la nhân loại chấp nhận cái quan điểm phổ biến sẵn có của cộng đồng ḿnh. Thuở ban đầu của lịch sử mà chúng ta biết được rơ rệt, hết thảy nhân loại đều tin vào nhiều vị god. Chính Jew là dân tộc đầu tiên tin chỉ có một mà thôi. Điều God răn thứ nhất [2] khi mới ra, rất khó tuân theo, v́ người Jew đă vẫn tin rằng Baal và Ashtaroth và Dagon và Moloch [3] và nhiều vị c̣n lại khác nữa, đều là god thật cả, chỉ có là họ ác độc, đồi bại v́ họ giúp phe thù nghịch của dân Jew. Từ niềm tin rằng các god này đồi bại đến niềm tin họ không có thực, là một bước khó khăn. Đă có một thời, gọi là thời Antiochus IV, có nỗ lực mạnh mẽ trong việc Hi Lạp hóa người Jew. Antiochus đă ban lệnh rằng họ phải ăn thịt lợn, bỏ việc cắt qui đầu, và nên tắm ở các nơi tắm công cộng. Hầu hết người Jew sống ở thành Jerusalem tuân thuận, nhưng tại các vùng quê, có sự chống đối cứng cỏi hơn và dưới sự lănh đạo của ḍng Maccabees [4], cuối cùng người Jew lại được quyền giữ những luật lệ và phong tục đặc biệt của họ. Niềm tin vào chỉ một God [5] - Độc thần – khởi đi từ sự ngược đăi của Antiochus, ban đầu chỉ là tín ngưỡng của một phần trong  một nước rất nhỏ, sau được đạo KiTô làm theo và rồi  thêm đạo Islam bắt chước,  nên thành ra chiếm thế thống trị toàn phần thế giới về  phía Tây India.  Nhưng từ India về phía đông, nó không thành công: Ấn giáo có nhiều god, Phật giáo ở dạng nguyên thủy, không có god  nào, và Khổng giáo từ thế kỉ XI về sau [6], cũng không c̣n có god nào. Nhưng, nếu dựa vào  thành công thế tục để phán đoán chân lư một tôn giáo th́ phe nghiêng về ủng hộ độc thần giáo có lư lẽ rất mạnh mẽ, v́ nó có những đạo quân mạnh nhất, hải quân lớn nhất và sự tích lũy của cải giàu có nhất. Bước sang thời đại chúng ta, lư lẽ này dần trở nên kém phần định đoạt. Đúng là sự đe dọa không-KiTô từ Japan đă bị đánh bại, nhưng KiTô ngày nay đang đương đầu với khối vô thần từ Moscowa [7], và không ai dám chắc rằng nếu  ước có bom nguyên tử nổ sẽ đem đến một kết thúc thuận lư cho  phe hữu thần.

 

    Nhưng chúng ta hăy từ bỏ lối dùng chính trị hay địa lư để xem xét tôn giáo, vốn ngày càng đông những người biết suy nghĩ loại ra, kể từ thời cổ Hy lạp. Thời ấy, đă từng có những người không bằng ḷng chấp nhận thụ động những quan điểm tôn giáo của những người láng giềng ở quanh, nhưng cất công cân nhắc xem thử lư trí và triết lư có thể có ư kiến ǵ về vấn đề ấy không. Ở những thành phố thương măi vùng Ionia [8], nơi triết lư ra đời, vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, đă có những người suy tưởng độc lập.  Công việc của họ dễ dàng hơn nếu so với những người suy tưởng độc lập thời nay, v́ các vị god Hi lạp sống trên núi Olympic [9], dù dễ thương duyên dáng đến đâu qua vẽ vời thi ca, cũng không vững chắc đến mức có thể chống đỡ bằng cách dùng một thứ siêu h́nh không dựa vào lư trí. Đạo Orphism [10]  (tôn giáo mà KiTô vay mượn rất nhiều) đă làm các god Olympic thành phổ biến rộng răi và, về triết lư, nhờ vào  Plato, qua ông mà dân Greek rút ra một triết lư độc thần rất khác biệt với thuyết độc thần có tính dân tộc và chính trị của dân Jew. Khi thế giới Hi Lạp trở nên theo đạo KiTô, nó trộn cái tôn giáo mới này với siêu h́nh học của Plato và như thế tạo ra môn thần học.  Các nhà thần học CaTô, từ thời Saint Augustine đến nay, vẫn từng tin rằng sự hiện hữu của một God duy nhất có thể chứng minh được mà không phải dựa vào lư trí. Thomas Aquinas ở thế kỷ XIII đưa những luận chứng này vào thành các dạng phát biểu cuối cùng. Khi triết học thời mới bắt đầu ở thế kỷ XVII, Descartes và Leibniz xoạn lại các luận chứng cũ, rồi đánh cho sáng bóng, và nhờ các cố gắng của họ, ḷng tín mộ tôn giáo vẫn được coi trọng là trí thức. Nhưng đến Locke [11], dù ông vốn là một người KiTô thuần thành, đă phá vỡ cái cơ bản về lư thuyết của các luận chứng cũ, và nhiều người theo chân ông, đặc biệt là tại France, trở nên những người vô thần.

 

Tôi sẽ không cố gắng tŕnh bày tỉ mỉ chi tiết các luận chứng về sự hiện hữu của God. Theo tôi nghĩ, chỉ một luận chứng trong đám ấy vẫn c̣n có giá trị với các triết gia, đó là cái luận chứng về nguyên nhân đầu tiên [12].  Luận chứng này chủ tŕ rằng, bởi v́ tất cả những ǵ xảy ra đều có một nguyên nhân, như vậy phải có một Nguyên nhân Đầu Tiên, từ đó mọi sự bắt đầu. Luận chứng này yếu kém, v́ cùng một nhược điểm như chuyện con voi và con rùa. Chuyện rằng (tôi không biết rơ nó thật đến đâu) có một nhà tư tưởng Ấn độ tin rằng quả đất nằm đè trên một con voi. Khi bị hỏi thế con voi nằm trên cái ǵ, ông ta nói rằng nó nằm trên một con rùa. Khi có người hỏi thế con rùa này của ông nằm trên cái ǵ? Ông ta bảo “Tôi mệt với các câu hỏi này lắm rồi!  thôi, giả thử chúng ta xoay qua chuyện khác đi!”. Câu chuyện này vẽ cho thấy tính chất không măn nguyện của luận chứng về Nguyên Nhân Đầu Tiên. Tuy thế, bạn sẽ thấy trong vài luận điểm về Vật Lư cực mới, cái giọng đoan chắc rằng dơi ngược ḍng thời gian, tiến tŕnh tạo vật  tất phải hiện cho thấy một cái khởi đầu đột biến [13], và ngầm rằng đó là nhờ có sự sáng thế linh thiêng. Họ khéo léo tránh xa không muốn nhận rằng giả thuyết loại này làm chủ đề dễ hiểu hơn.

 

Giờ đây, phần lớn những nhà thần học Tin lành gạt bỏ luận chứng kinh viện về sự hiện hữu của đấng Tối Cao [14], chọn một luận chứng mới mà theo ư tôi không cách nào gọi là tiến bộ hơn. Luận chứng kinh viện là một nỗ lực suy tưởng chân thực, và cách lư luận của nó nếu như đă thực chặt chẽ, nó đă có thể chứng minh kết luận của nó là đúng [15]. Luận chứng mới mà những nhà tư tưởng Tân Thời ưa chuộng, th́ mơ hồ và các nhà tư tưởng tân thời lại khinh khi gạt phắt hết mọi cố gắng làm luận chứng này thêm rơ rệt. Có khuynh hướng nghiêng về con tim nghịch lại với trí năo. Không chủ trương rằng những ai phủ nhận các luân chứng mới là phi lư, nhưng họ nói là những người ấy thiếu kém t́nh cảm sâu xa hay nghèo nàn cảm thức đạo đức. Dù sao chúng ta hăy xem xét những luận chứng mới này để xem chúng có thật chứng minh thực được ǵ hay không.

 

    Một trong những luận chứng được ưa chuộng đến từ ư niệm tiến hóa. Thế giới đă một thời không có sự sống, và khi sự sống bắt đầu xuất hiện là một sự sống nghèo nàn, chỉ gồm có những chất lỏng xanh và những vật chẳng có ǵ đáng kể.  Dần dần, trên đường tiến hóa, thành ra có thú vật, thảo mộc và cuối cùng là CON NGƯỜI. Con người, các nhà thần học đoan chắc với chúng ta, như thế là một sinh linh tuyệt vời, có thể xem như là thành tựu được tích lũy từ lâu lắm, khởi từ thuở c̣n nebula và các dung dịch lan chảy.  Tôi cho các nhà thần học ấy tất phải có rất nhiều may mắn trong tương giao nhân sinh. Đối với tôi, họ dường coi nhẹ những cá nhân như Hitler hay Con Thú dữ ở Belsen [16]. Nếu là đấng toàn năng [17], với tất cả th́ giờ sẵn có, thử nghĩ xem có đáng không nếu sau bao triệu năm tiến hóa, lại đưa đến nhũng con người như thế ? Tôi chỉ có thể nói rằng thị hiếu về những ǵ tốt lành và đẹp đẽ ở đây thật hiếm hoi. Tuy thế, không thể ngờ ǵ các nhà thần học có hy vọng rồi đây tiến hóa sẽ sản sinh ra người giống họ nhiều hơn và người giống Hitler ít hơn. Thôi chúng ta hăy cứ hy vọng thế!  Nhưng khi vui vẻ với hy vọng này, chúng ta đă bỏ mất cái nền của thực nghiệm và trú ẩn trong một thứ lạc quan mà cho đến nay không có chứng cớ nào thấy trong lịch sử nhân loại.

 

   C̣n có những phản đối khác nữa với cái thứ tiến hóa lạc quan này. Có tất cả mọi lư do để tin rằng sự sống trên hành tinh của chúng ta sẽ không cứ tiếp tục măi măi như thế, bất cứ sự lạc quan nào dựa trên lịch sử địa cầu phải có tầm nh́n giới hạn và tạm thời. Dĩ nhiên, có thể có sự sống ở nơi nào đó trong vũ trụ, nhưng nếu có thế, chúng ta chẳng biết ǵ về nó và cũng không có lư do ǵ để giả định rằng sự sống ấy giống các nhà thần học mẫu mực hơn là giống Hitler. Quả đất chỉ trong một góc vũ trụ. Nó là một mảnh  nhỏ của Hệ Thái Dương, cả hệ Thái Dương lại là là một mảnh  nhỏ của giải Ngân Hà bao la. Và giải Ngân Hà lại là một mảnh nhỏ của biết bao nhiêu triệu triệu galaxy mà kính viễn vọng hiện đại ḍ thấy. Trong cái góc nhỏ bé vô nghĩa này của cosmos, có một khoảnh ngắn ngủi chen giữa hai nguyên kỷ không có sự sống. Nếu con người thực là mục đích của vũ trụ th́ khúc mở đầu thật hơi quá dài. Nhắc người ta nhớ đến một thứ ông già chán ngắt kể liên miên những câu chuyện vặt vănh, thực hoàn toàn chán phèo, trừ một tí tẹo lúc đă gần hết chuyện. Tôi không nghĩ các nhà thần học cho thấy họ đáng thương đến độ có thể so sánh như thế.

 

Một trong các nhược điểm các nhà thần học xưa đến nay phạm phải là đánh giá quá cao tầm quan trọng của hành tinh chúng ta.  Hẳn nhiên, thế là thông thường ở thời trước Copernicus [18], khi người ta c̣n cho rằng bầu trời quay quanh quả đất. Nhưng kể từ Copernicus và hơn thế nữa từ khi có những khám phá mới về những vùng vũ trụ xa vời, cái quan điểm chỉ chú trọng vào địa cầu này trở thành thật lạc hậu. Nếu vũ trụ có một kẻ Sáng tạo, tuyệt không lư nào khi giả định rằng Ông ta lại chú trọng đặc biệt đến cái góc nhỏ nhoi chúng ta.  Và nếu ông ta không thế, những giá trị của ông ta nhất định phải khác xa với chúng ta, v́ thật khó có thể có sự sống trong đại đa số những vùng bao la của vũ trụ mênh mông [19].

 

    Có một luận chứng đạo đức về niềm tin vào God, do William James [20]  mà thành phổ thông. Theo luận chứng này, chúng ta phải nên tin rằng có God, v́ nếu không thế, chúng ta sẽ không ăn ở lương thiện được. Phản biện lại luận chứng này, trước hết và mạnh nhất là, cùng cho lắm th́ nó vẫn không chứng minh được là có God hay không, nhưng nó chỉ có thể nói là các nhà chính trị và giáo dục nên cố gắng làm dân chúng tin rằng có một vị như thế.  Điều này có nên làm hay đừng, không phải là vấn nạn về thần học mà về chính trị. Những lư luận như thế này giống như thứ lư luận dành vào việc dạy dỗ trẻ con, thúc dục chúng phải nên tỏ ra tôn kính lá cờ. Một người nào có t́nh cảm tín ngưỡng chân thực sẽ không hài ḷng với quan điểm rằng nên tin vào có God v́ nó hữu dụng, v́ anh ta sẽ ước muốn biết thực có một God hay không. Thật phi lư khi đánh đồng hai câu hỏi này làm một. Ở vườn trẻ, tin có Ông già Noel th́ hữu dụng [21, nhưng người lớn không tin rằng cứ tin như thế là chứng minh thật có một ông già Noel!

 

    Bởi v́ chúng ta không bận tâm với chính trị, chúng ta có thể xem thế là quá đủ để gạt bỏ cái luận chứng dựa trên đạo đức này, nhưng có lẽ cũng đáng theo đuổi nó thêm một chút xa hơn. Đó là, đầu tiên hết thảy, rất đáng ngờ là tin vào God hay không, lại có tất cả những hiệu quả tốt đẹp về đường đạo đức như vẫn được gán cho nó. Rất nhiều những nhân vật lỗi lạc, chính nhân quân tử,  thật nổi tiếng của lịch sử là những người không tin vào God . John Stuart Mill [22] là một thí dụ. và rất nhiều kẻ thật tồi tệ mà lịch sử c̣n ghi,  lại là những kẻ tin vào God. Trong đám tồi tệ này, có lẽ có thể lấy Henry VIII [23] làm điển h́nh.

 

    Dẫu thế nào đi nữa, luôn luôn đưa đến kết quả tai hại khi chính quyền ra tay làm việc, nhưng cứ bám vào  những quan điểm v́ nó có chỗ dùng, chứ không phải v́ nó có sự thật. Lập tức khi điều này đưa vào thực hành, là có nhu cầu kiểm duyệt nổi lên ngay, để trấn áp những lư luận ngược chính quyền.  Và rồi tự cho là khôn ngoan khi ngăn cản sự suy nghĩ trong giới trẻ, sợ sẽ nảy sinh những “tư tưởng phản động” nguy hiểm.  Khi có hành sự sai lầm như thế với tôn giáo, như ở nước Nga Sô Viết, các nhà thần học coi là xấu, nhưng vẫn cũng là xấu, khi chính những nhà thần học lại áp dụng sách lược này để bảo vệ những ǵ mà các nhà thần học cho là tốt, là đúng. Tự do tư tưởng và tập quán xem trọng chứng cớ là những chuyện có tầm quan trọng mang nội dung đạo đức lớn lao hơn là niềm tin vào giáo điều này hay giáo lư kia của môn thần học. Trên tất cả các nền tảng lư luận này, không thể chủ trương đặt những tin tưởng thần học lên cao hơn v́ sự tiện dụng của nó mà không ngó ngàng ǵ đến chân lư.

 

    Có một dạng đơn giản hơn và ngờ nghệch hơn của vẫn luận chứng này, nó lôi cuốn được nhiều người. Người ta sẽ kể với chúng ta rằng họ sẽ trở thành khốn khổ quá quắt đến không chịu đựng nổi nếu không có sự an ủi của tôn giáo. Dù có cho là đúng đi nữa, đây là luận chứng của một kẻ hèn nhát.  Không ai ngoài kẻ hèn nhát mà lại tự ư chọn sống trong cái thiên đường của kẻ rồ dại. Khi một người ngờ vợ ḿnh ngoại t́nh, anh ta không  nghĩ là cách tốt hơn cả nên nhắm mắt trước chứng cớ. Và tôi không thể thấy tại sao nhắm mắt trước chứng cớ là điều nên khinh rẻ trong trường hợp này, nhưng lại đáng phục trong trường hợp khác.  Ngoài ra, luận chứng này đă thổi phồng quá đáng sự quan trọng của tôn giáo trong việc góp phần vào hạnh phúc con người.  Bạn có hạnh phúc hay không tùy thuộc vào một số yếu tố. Phần đông người ta cần khỏe mạnh và đủ cái ăn.  Họ cần xă hội xung quanh có dư luận tốt về họ và được những người thân thuộc yêu mến.  Không những chỉ cần sức khỏe sinh lư mà cả tâm trí nữa. Có được các điều này, số đông con người sẽ cảm thấy hạnh phúc bất kể quan điểm thần học. Không có những điều này, số đông con người sẽ cảm thấy không hạnh phúc bất kể quan điểm thần học. Suy nghĩ về số những người tôi được biết, cứ tính mức trung b́nh, tôi không t́m thấy người có ḷng tin tôn giáo lại vui sướng hơn những người không có.

 

    Khi quay về với chính những tin tưởng của tôi, tôi thấy tôi khó mà nhận thức được một mục đích nào của vũ trụ, và lại càng không thể ước cho nó có được một chủ đích. Những ai tưởng tượng rằng hành tŕnh tiến hóa của vũ trụ th́ dần dần tiến lên một sự toàn hảo đẹp ḷng kẻ Sáng Tạo, là người ấy sa vào (dù họ thường không nhận ra điều này) cái quan điểm cho rằng đấng Sáng Tạo th́ không toàn năng ǵ cả, v́ nếu Ông ta toàn năng, ông đă có thể tạo ra cái cứu cánh tốt đẹp ở chung cuộc mà không phải phiền phức với phương tiện dọc đường. Bản thân tôi không thấy có bất kỳ một toàn hảo nào mà vũ trụ đang nghiêng hướng tới. Theo các nhà vật lư, năng lượng rồi sẽ dần dần phân bối đồng đều và một khi có sự phân bối đồng đều, nó sẽ trở nên như vô dụng. Lần lần mọi sự mà chúng ta thấy có ǵ hay hay hoặc thích thú , như sự sống hay ánh sáng, sẽ biến mất – như thế, là cái cuối cùng, họ đoan chắc với chúng ta như thế. Vũ trụ th́ giống như một rạp hát, trong đó chỉ diễn có một vở kịch một lần thôi, sau khi màn hạ xuống, rạp hát th́ bỏ hoang lạnh cho đến khi nó đổ quị điêu tàn. Tôi không có ḷng quả quyết với bất kỳ lạc quan nào rằng đó là câu chuyện sẽ xảy ra. Nói thế là giả định nhiều hiểu biết hơn là hiểu biết chúng ta thực có. Tôi chỉ nói rằng đó có lẽ sẽ xảy ra dựa trên những bằng chứng hiện nay. Tôi sẽ không quả quyết vơ đoán rằng vũ trụ không có một cứu cánh nào, nhưng tôi nói rằng không mảy may có một bằng chứng nào để nghiêng về phía cho rằng nó có cứu cánh.

 

Tôi sẽ nói thêm rằng, nếu có một cứu cánh và nếu cứu cánh này là của một vị Sáng Thế Toàn Năng, th́ cái vị Sáng Thế đó, thật là xa lạnh với ḷng yêu thương và nhân từ, như chúng ta thường được kể, nhưng phải ở vào một mức độ độc ác họa hiếm khó có thể tưởng [24]. Một người phạm vào tội giết người th́ bị xem là kẻ xấu. Một vị Thần linh Toàn Năng [25], nếu có một vị, lại giết sạch không chừa một ai. Một người chủ tâm lây bệnh như cancer cho người khác, sẽ bị coi là kẻ thù. Nhưng đấng Sáng Thế, nếu Ông ta có thật, gây bệnh hăi hùng này cho hàng nhiều ngh́n [26] người mỗi năm. Một người, ông ta có kiến thức và khả năng cần thiết để làm cho con cái ḿnh thành lương hảo, lại chọn lối làm cho chúng xấu xa, kẻ ấy đáng bị nh́n với nguyền rủa. Nhưng God, nếu Ông ta có thật, lại chọn lối xử sự này với rất đông đám con cái Ông ta. Toàn thể cái khái niệm về một God toàn năng mà phê b́nh đến là nghịch đạo, chỉ có thể thành h́nh trong thể chế chuyên quyền vùng Cận Đông, ở đấy, kẻ trị v́, dù cho ác độc một cách ma quái, cứ tiếp tục vui hưởng sự nịnh hót của bầy nô lệ. Đó là cái tâm lư tương ứng với cái thể chế chính trị lỗi thời này, nó vẫn muộn màng tồn tại trong thần học chính thống.

 

Cũng có, thật vậy, một dạng tân thời của học thuyết duy thần, theo đó God th́ không toàn năng, nhưng Ông ta chỉ làm hết sức ḿnh, dù có gặp nhiều khó khăn. Quan điểm này, dù với tín đồ KiTô là mới, nhưng nó không có ǵ mới trong lịch sử tư tưởng. Thật ra, có thể t́m thấy trong Plato. Tôi không nghĩ là quan điểm này có thể bị chứng minh là sai. Tôi nghĩ trong mọi điều có thể nói th́ phải nói là không có lư do khẳng định nào nghiêng phần đúng về nó.

 

Nhiều tín đồ tôn giáo thuần thành nói cứ như  phận sự của những người hoài nghi là phải đưa ra phản chứng các giáo điều thay v́ chính các nhà chủ trương giáo điều phải chứng minh các giáo điều này cho đúng. Dĩ nhiên, đây là một sai lầm. Nếu như tôi đưa ra giả thuyết là giữa trái đất và sao Hỏa (Mars) có một cái b́nh trà bằng sứ, quay quanh mặt trời, theo một quĩ đạo h́nh ellipse, không ai có thể bác bỏ sự xác quyết của tôi , nếu như tôi cẩn thận thêm vào rằng cái b́nh trà này rất nhỏ,  những viễn vọng kính dẫu mạnh mẽ  nhất của chúng ta cũng không thể t́m được nó. Nhưng nếu như tôi cứ tiếp tục nói như thế, trong khi giả thuyết của tôi dẫu không thể phủ bác, không thể nào tự đắc nói rằng lư trí con người không ngờ vực nó. Đáng cho tôi bị xem đúng là nói ba láp. Tuy nhiên, nếu như sự hiện hữu của cái b́nh trà đă được xác nhận trong các quyển sách cổ [27], lại được dạy như chân lư thiêng liêng mỗi Chủ nhật [28], và cho ngấm giọt vào tâm trí trẻ con ở nhà trường, ai chậm chạp trong sự tin vào hiện hữu của b́nh trà là dấu hiệu của tánh t́nh lập dị và đủ để kẻ ngờ vực này được nhà tâm lư chuyên môn chú ư, trong thời khai sáng nay, hay sự chú ư của phán quan ṭa dị giáo [29] trong một thời trước đây. Nó thành thói quen giả định rằng, nếu một niềm tin được phổ biến rộng răi, chắc phải có cái ǵ hữu lư trong ấy. Tôi không nghĩ bất kỳ ai đă học lịch sử có thể giữ quan điểm này. Trong thực tiễn, tất cả các tín mộ [30] của người cổ sơ đều phi lư. Trong các nền văn minh sơ khai, có nhiều lắm là chừng một phần trăm của mớ tín mộ, tin tưởng này có ǵ đáng bàn bạc. C̣n trong thời đại chúng ta..... Nhưng đến chỗ này tôi phải thật cẩn thận. Chúng ta đều biết có những tin tưởng phi lư ở nước Nga Soviet. Nếu chúng ta theo đạo Tin lành, chúng ta biết có những tin tưởng phi lư trong tín đồ CaTô. Nếu chúng ta là tín đồ CaTô, chúng ta biết có những tin tưởng phi lư trong đám tín đồ Tin Lành. Nếu chúng ta theo đảng Bảo Thủ, chúng ta kinh ngạc về những chuyện mê tín t́m thấy trong đảng Lao Động. Nếu chúng ta là những người theo chủ nghĩa Xă Hội, chúng ta thất kinh về sự nhẹ dạ của đảng Bảo Thủ. Tôi không biết, bạn đọc thân mến ơi, đâu là các điều bạn tín mộ, nhưng dù chúng là ǵ đi nữa, bạn phải thừa nhận rằng chín phần mười những tín mộ của chín phần mười nhân loại đều hoàn toàn vô lư. Những tin mộ bị nghi ngờ là, dĩ nhiên, những tin mộ bạn không có. Tôi không thể, do đấy, nghĩ là quá tự tin khi nghi ngờ điều ǵ vốn đă từ lâu được cho là đúng, nhất là khi quan điểm này chỉ phổ thông riêng trong những vùng địa lư nhất định, như trường hợp với các quan điểm thần học tôn giáo.

 

Kết luận của tôi là không có lư do ǵ để tin vào bất cứ giáo điều nào từ thần học truyền thống và, xa hơn, không có lư do nào để mong ước cho chúng là đúng. Ngoài câu thúc từ các năng lực thiên nhiên ra, con người th́ tự do làm nên định mệnh cho chính ḿnh. Trách nhiệm là của hắn, và ở đấy là cơ hội.

 

Lê Dọn Bàn tạm dịch, (Toronto – May/2009)

NDVN, ngày 31/5/09



Dịch từ Bertrand Russell, "Is There a God?" (1952), trong The Collected Papers of Bertrand Russell, Volume 11: Last Philosophical Testament, 1943-68, ed. John G. Slater and Peter Köllner (London: Routledge, 1997), pp. 543-48.

 

[Source: http://chuyendaudau.blogspot.com/2009/05/co-god-hay-khong.html - 5/2009]


 

_____________________________

 

[1] Tôi thử đề nghị giữ nguyên từ “God” – đọc là ``gót`` - thay v́ dịch là Thượng Đế, Trời, Tạo Hóa, hay chúa Trời – v́ cả hai từ này – và tất cả các từ tương tự khác có trong Việt, hay Tàu -  đều không hề có chứa khái niệm “Ex nihilo” (Latin, "out of nothing") – là khái niệm chủ yếu trong nội dung từ “God”.  Trong tư tưởng phương Tây, God tạo ra vũ trụ từ hư không, ông ta, nếu có, th́ ở ngoài vũ trụ này. Trong khi đó, ở phương Đông, Tàu, Ấn và Việt, các vị như Trời, Thượng đế, Brahman,… đều“thuộc” vào vũ trụ này, ở trong vũ trụ này cùng với con người, dù khác biệt ǵ ǵ đi nữa. 

 

Gọi vũ trụ này là một tập hợp U (Universal set)  – God không phải là một phần tử của U - theo định nghĩa của tôn giáo phương Tây. C̣n Trời, Thượng đế, Thiên đế, Brahman,…đều là phần tử  - dù đặc biệt - của tập hợp vũ trụ U này.

 

Khái niệm Ex nihilo này không hề có trong tư tưởng phương Đông chúng ta quen thuộc. Dịch "God" là Thượng Đế, Thiên chủ - hay nôm na như "chúa Trời" (“chúa Blời”) là thủ thuật của các nhà truyền đạo - khi đem một meme hoàn toàn mới truyền  vào một môi trường văn hóa khác lạ, phải quấn quanh meme này một cái áo địa phương, bằng cách mượn một cái vỏ sẵn có quen thuộc (ở đây là một từ), rồi gài đặt nó vào trong, có thế mới mong được chấp nhận dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng ở trong vẫn là một nội dung hoàn toàn khác biệt – giống như thủ thuật  “ốc mượn hồn” – con c̣ng trong vỏ ốc, đội lốt ốc, để trà trộn kiếm ăn trong đám ốc.

 

Sang địa hạt ngôn ngữ, gạt qua một bên các thủ thuật của tuyên truyền tôn giáo, khi nhập cảng ư niệm này – chi bằng dùng từ nguyên gốc – cho thật đúng nghĩa của nó. Chúng ta đă có một truyền thống – tivi th́ gọi là tivi, radio > “ra dô”, “cuillère”  > cùi d́a > th́a,  rồi “mỏ lét”, “bù long”, sà pḥng”, và hiện nay: “forum” > “phố rùm”, “teen age” > “tuổi teen”. Vậy, God nên giữ là “Gót”, v́ các lư do kể trên. Như thế, lại hay v́ God nếu không mang những cái vỏ giả - tự xưng là c̣ng - không phải ốc - th́ sẽ không  phải nhận cóc làm cậu (“con cóc là cậu ông trời”), không phải thuê Nam Tào, Bắc Đẩu giúp việc (Thượng đế, thiên đ́nh), không phải chờ Táo quân về chầu ngày 23 tháng chạp! Và hàng ngày không bị chửi (“tặc thiên”! – Chí Phèo - Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề ǵ? Trời có của riêng nhà nào? ) – hay nhẹ hơn – cũng bị trách: “Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” (K), hay bị xem là ngu xuẩn ác độc "trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán, chết đuối người trên cạn mà chơi" (CONK)..vv. là những điều mà tín đồ các đạo thờ Gót không muốn. 

 

Ở đây, Russell hoài nghi cả hai ư niệm god (hữu thần) và một God (độc thần).

 

[2] First commandment: Ngoài ta ra, nhà người không có God nào khác nữa (Thou Shalt Not Have Any Gods Before Me) = “chỉ có một God là ta thôi”. Hay “chỉ ḿnh ta là God thôi!”  Là điều đầu tiên trong 10 điều God răn dạy cho dân Jew, qua lời kể của Moses. Lời răn này nguyên chỉ là của god Yahweh dạy riêng cho dân Jew – sau được các tôn giáo Abraham khác nhận theo.

 

[3] Baal – vốn trước là danh từ chung có nghĩa “thần, thánh” ở Trung Đông, cũng có khi để chỉ Hadad, là thần mưa, sấm, sinh sản và chúa tể trên trời.  Người Jew trước thờ cả hai Yahweh và Ba'al – sau bỏ chỉ thờ một ḿnh Yahweh.

Tương tự, các god Ashtaroth (nữ thần mặt trăng – gốc của dân Phoenician), Dagon (thần liên hệ với ngũ cốc, canh nông), Moloch (thần liên hệ với lửa) – t́m thấy trong nhiều dân tộc ở Trung Đông, khi người Jew c̣n theo đa thần, cũng đều là những thần linh của họ. Như tác giả dẫn trên đây.

 

[4] Tên gọi có về sau – thực tên là họ Asmonaeans, một gia tộc anh hùng lĩnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lai Antiochus IV., 168-161 B. C., đưa đến thời kỳ tự do cho nước Israel cổ. 

 

[5] God – viết hoa – dùng trong monotheism, mang ư niệm một god duy nhất – ngược lại “god” – viết thường – chỉ chung mọi thứ god.

 

[6] Tôi đoán Russell muốn nói đến Tống Nho – Tân Khổng giáo –  với  ba khái niệm Chu Hi làm mới: Lư, Khí,  và Thái Cực (thay cho Trời)

 

[7] Bài này viết năm 1952 –thế chiến thứ II mới chấm dứt, phe Đồng Minh thắng, nhưng nước Nga Sô Viết theo chủ nghĩa cộng sản, đối đầu với đồng minh cũ Anh, Mỹ, tạo nên cuộc chiến tranh “lạnh”.

 

[8] Lănh thổ xưa của Hy lạp, nay nằm vào vùng biển phía Tây Turkey – đây là nơi triết học ra đời - có các triết gia Hy lạp đầu tiên như: Anaximander, Anaximenes, Heraclitus, Anaxagoras, Diogenes Apolloniates, Archelaus, Hippo, và Thales.

 

[9] Người Hi Lạp tin núi Olympic là nơi các thần linh của họ trú ngụ, trong đó có 12 vị nổi tiếng - gọi chung là các thần linh Olympic: Zeus, Poseidon, Hades, Hestia, Hera, Ares, Athena, Apollo, Aphrodite, Hermes, Artemis, Hephaestus.

 

[10] Tín ngưỡng cổ của người Greek và Thracian, thờ Orpheus, thêm Persephone và Dionysus (Bacchus), ngày nay không c̣n.

 

[11] John Locke (1632-1704) – được coi là triết gia duy nghiệm đầu tiên của Anh, chủ trương về Tâm trí của ông chống lại cả hai triết gia KiTô: Augustin (“tội tổ tông”) lẫn Descartes.Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn lao trong khoa nhận thức học và chính trị học. Votaire, Rousseau, và các nhà tư tưởng Scottland cùng những người lănh đạo cách mạng US đều chịu ảnh hưởng của ông.

 

[12] The first cause argument (hay “cosmological argument”) Luận chứng về Nguyên Nhân Đầu Tiên hay luận chứng vũ trụ (v́ giải thích nguyên nhân của vũ trụ). 

 

Mượn ư niệm “cái khởi động ban đầu” ("prime mover") của Aristotle - Trong Summa Theologica, Thomas Aquinas phát biểu dạng quen thuộc luận chứng này (gọi là luận chứng về nguyên nhân đầu tiên – hay luận chứng vũ trụ): Theo nó, mọi sự thấy quanh ta là kết quả của một chuỗi những nguyên nhân xảy ra trước nó. Nhưng những chuỗi sự kiện này không thể kéo dài măi về quá khứ. Do đó, phải có một nhân đầu tiên mà tự nó không từ nguyên nhân nào ra cả. Gọi đó là God.

 

Phát biểu như sau:

1. Mọi sự kiện hoặc có nguyên nhân hiện hữu đến từ ngoài nó hoặc hiện hữu tự thân.

2. Không phải tất cả mọi sự kiện đều có nguyên nhân ngoài nó (đến từ sự kiện khác)

3. Do đó, ít nhất có một hiện hữu tự thân.

 

Có rất nhiều khó khăn chấp nhận luận chứng này – ngay về luận lư tạm kể trước hết, mệnh đề (2) không thể biết là đúng hay sai, nếu sai th́ mệnh đề (3) sai, hay ít nhất không vững. Và có rất nhiều nhược điểm thấy trong luận chứng này. Trong đó Russell rất nổi tiếng phát biểu sự ngờ vực của ḿnh – nay thành cổ điển trong giới triết học – lư luận về God là lư luận con rùa!

 

Russell nêu ra nhược điểm của lư luận có dạng “chuỗi mệnh đề bất tận” (infinite regresses). Ông lịch sự chỉ nói là nó “không thỏa măn” người nghe.

 

[13] Rusell muốn nhắc đến thuyết Big Bang – do Georges Lemaître, là một nhà khoa học nhưng cũng là tu sĩ  đạo CaTô đưa ra, nên trộn lẫn vật lư với thần học, muốn dùng “khoa học” để chứng minh cho tôn giáo của ḿnh. Như Rusell phê b́nh ở đây - giả thuyết này ngay từ lúc ra đời, ở mặt vật lư cũng đă không đứng vững v́ dựa trên rất nhiều giả dụ (assumption), lại có ẩn ư tôn giáo nên càng chập choạng.

 

Ngày nay nhiều mô thức tuy c̣n mang tên cũ Big Bang – nhưng nội dung hoàn toàn khác hẳn – trong đó các khái niệm  mới về multi universe, dark matter và dark energy ra đời. Trước big bang lại có big bang khác, thành, trụ, hoại, không …liên tục. Không c̣n Big Bang (viết hoa) –theo nghĩa duy nhất – tạo thiên lập địa - nữa!

 

[14]Scholastic arguments for the existence of a Supreme Being: Luận chứng kinh viện về sự hiện hữu của đấng Tối Cao là tên gọi khác của Luận chứng về nguyên nhân đầu tiên.

 

[15] Là bậc thày môn toán và luận lư – Rusell muốn nói – cách lư luận dựa trên nhân quả (causality) trong luận chứng này hợp lư, chỉ có cái kết luận của nó hướng tới  là yếu, không thuyết phục và thỏa măn được người nghe mà thôi. V́ nếu nhận mọi sự đều có nguyên nhân (lư luận như thế là thuận lư), tại sao lại dừng ở cái con rùa! (vô lư).

 

[16] Beast of Belsen – tên thật là Josef Kramer, từng là cai ngục của Nazi tại Auschwitz , rồi cuối cùng tại Bergen- Belsen. Nổi tiếng ác độc. Sau thế chiến II, là tội nhân chiến tranh bị xử treo cố năm 1945.

 

[17] Omnipotence : Toàn năng, một trong tính chất của God - theo định nghĩa

 

[18] Nicholas Copernicus (1473-1543) nhà thiên văn người Polish – đưa ra mô h́nh heliocentric – mặt trời là trung tâm (chứ không phải quả đât) của vũ trụ. Sợ giáo hôi KiTô trừng phạt, sách On the Revolution of the Celestial Spheres  của ông chỉ cho in sau khi ông qua đời, tuy thế, năm 1616 giáo hội KiTô xếp vào thư mục các sách bị cấm (Index of Prohibited Books.)

 

[19] Russell muốn nói – Nếu kẻ sáng tạo ra vũ trụ, cũng tạo ra các dạng sống – phải khác nhau - trên những hành tinh  khác nhau – số hành tinh có sự sống rất nhỏ nên nếu có chúng rất tản mác trong vũ trụ,  rất xa cách nhau về không gian. Nếu thế, môi trường sống rất khác biệt - các sự sống phải có thể dạng khác biệt –  vậy kẻ sáng tạo ra chúng, tương ứng, nếu có một bảng giá trị, phải rất khác biệt và rất bao biện rộng răi. 

 

[20] William James (1842-1910) nhà tâm lư học người Mỹ

 

[21] Ở phương Tây, trẻ con được khuyến dụ làm điều tốt, rồi Noel đến, ông già Noel sẽ đem quà đến thưởng cho. nếu không th́ không có quà thưởng.

 

[22] John Stuart Mill (1806-1873): triết gia, kinh tế gia, lư thuyết gia về đạo đức và chính trị, và cũng là nhà quản trị lỗi lạc người Anh, Ông đă có ảnh hưởng rất lớn vào tư tưởng và đường lối chính trị của nước Anh và cũng là người nổi tiếng và có uy tín nhất trong thế giới nói tiếng Anh ở thế kỷ XIX. Ông là cha đỡ đầu của tác giả bài  này.

 

[23] Henry VIII (1491– 1547) - vua nước Anh, nổi tiếng vô đạo đức: có 6 vợ, giết 2, cờ bạc, tàn sát những người theo Tin lành., v́ các mâu thuẫn cá nhân vói Vatican, nên bỏ CaTô lập Anh giáo.

 

[24] The Problem of Evil: Vấn nạn hay câu hỏi về KhổÁc – trong tất cả các luận chứng chủ trương vô thần, đây là câu hỏi từng có lâu nhất, bàn căi nhiều nhất, và làm giới KiTô lúng túng, trả lời loanh quanh bằng nhiều cách nhất. 

 

Vắn tắt, câu hỏi như sau: Quan điểm truyền thống về God là vị toàn trí (omniscient), toàn năng (omnipotent), toàn thiện (benevolent). Có nghĩa là nếu God thật có, hiện hữu, vậy ông phải biết cách, phải muốn, phải có thể làm sao, hay pḥng ngừa, tạo lập, xếp đặt thế nào cho mọi tai ương, đau khổ, ác độc,… có trong nhân loại đừng bao giờ xảy ra (như một lời nguyện của Phật AD Đà – Trong cơi của tôi, từ người thường đến bậc trời, dù chỉ c̣n nghe nhắc đến tên gọi những điều xấu ác, tôi sẽ hoăn không thành Phật – lời nguyện 16). Nhưng khổ đau, tai ương (thiên tai, đông đất, bênh tật…) là chuyện thông thường, không thuyên giảm, mỗi ngày quanh chúng ta, do đó thực chẳng có một God toàn trí, toàn năng, toàn thiên như đă nói.

 

Epicurus (341–270 B.C.) là triết gia Greek đầu tiên trong lịch sử triết học phương Tây đặt vấn nạn này – nay c̣n ghi lại các câu hỏi nghi ngờ của ông về sự hiện hữu của một God – dẫu lúc ấy chưa có God định nghĩ theo các tôn giáo nhận Abraham làm thủy tổ.

Nổi tiếng là Nghịch lư Epicurus  (Epicurean paradox) hay Những câu hiểm hóc của Epicurus (The Riddle of Epicurus) – đây là dạng biết đến sớm nhất của Vấn nạn về KhổÁc – các câu nổi tiếng và cho đến nay vẫn được dẫn chứng như sau:

 

Is God willing to prevent evil, but not able? - Then he is not omnipotent.

Is he able, but not willing? - Then he is malevolent.

Is he both able and willing? - Then whence cometh evil?

Is he neither able nor willing? - Then why call him God?

 

Phải chăng God muốn ngừa Xấu Ác, nhưng không thể? – Vậy ông không toàn năng

Phải chăng ông có thể ngừa, nhưng không muốn? – Vậy ông ta xấu bụng hiểm ác

Phải chăng ông ta vừa có thể và không muốn?  - Vậy từ  đâu Xấu Ác đến đây

Phải chăng ông ta không thể và không muốn? – Vậy c̣n gọi ông là God làm ǵ?

 

[25] Omnipotent Deity – vị thần linh toàn quyền năng - chỉ God.

 

[26] Con số thống kể thời tác giả - 1950’s – ngày nay lớn hơn nhiều.

 

[27] Kinh Thánh KiTô giáo.

 

[28] Ở các nước KiTô phương Tây, ngày chủ nhật, các nhà thờ có lớp dạy giáo lư chuyên dành cho trẻ con.

 

[29]Thời trung cổ, châu Âu, có ṭa án của nhà thờ lập ra, lùng bắt, tra tấn, khảo hành rồi xử tội những ai nghi ngờ các giáo điều hay God của giáo hội Vatican. Thiêu sống là cách xử tội thông thường.

 

[30] Nguyên văn là belief – có thể dịch chung là tin tưởng, ở đây dịch là “tín mộ” để nhấn mạnh là ḷng tin có nội dung tôn giáo. KiTô dịch là đức tin – “đức” nhấn mạnh vào giá trị của niềm tin – vốn là xem chủ yếu trong nội dung KiTô giáo



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend