NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

KÊU GỌI NGƯỜI PHẬT GIÁO


 

  

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được...   

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng

 

Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. Tuy nhiên, “tâm t́nh với ḷng thành”-những lời tâm sự của viên đại tướng quân đội Sài G̣n từng giữ trọng trách Tổng tham mưu trưởng lâu nhất đă thú nhận quân đội Sài G̣n là quân đội tay sai của Mỹ...đọc tiếp

 

"BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH  

    Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  

 Bush and Blair, cartoon
        Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:
 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

Tony Blair picture 1811810

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

  * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

    Những ư kiến “trái chiều” này thực ra chỉ làm phong phú thêm các thông tin về sự kiện đau ḷng xảy ra cách đây 8 năm về trước… 

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

* THƯ MỤC 2009: THÁNG 9 – 8 – 7 – 6

   

 

 

 

  

 

Kêu Gọi Người Phật Giáo

 

 

“Đạo Phật theo một truyền thống tuỳ duyên hoá độ, rất linh động mềm dẻo đối với tín ngưỡng của địa phương, lại không cứng rắn đ̣i hỏi những h́nh thức tổ chức thờ cúng phải theo gương mẫu của Ấn Độ. Giữa Phật giáo ở các nước ngoại Ấn không có mối giây liên hệ thuộc hạ nào với Phật giáo Ấn Độ, nên khi vào Giao Châu, Phật giáo trở thành Phật giáo Việt Nam với đủ những màu sắc và đặc tính địa phương.

...Người Giao Châu đă đến với đạo Phật không bằng tuệ giác mà bằng t́nh cảm. Hay nói ngược lại cũng vậy, đạo Phật đă bắt sâu rễ vào trong ḷng người Giao Châu hơn là vào trong óc...

...Do đó ta có thể nói, không sợ bị cải chánh là đạo Phật khi vào Giao Châu, không những nền Đạo Lư ấy đă thành đạo giáo của xứ sở Giao Châu mà cae đến Phật nữa, cũng là Phật của dân Giao Châu nốt.

 

...Đạo Phật vào Giao Châu là một điều đại hạnh cho dân tộc vậy.”

Trích mấy nhận định trong cuốn Việt Nam Văn Minh Sử Lược Khảo của sử gia Lê Văn Siêu, tôi muốn nhắc lại (tr.89) một điều quan yếu rằng đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam không c̣n là thứ đạo ngoại lai như các thứ đạo Tây phương cứ vẫn phục ṭng triệt để mệnh lệnh của Giáo hội “Mẹ” ở ngoại quốc. Cũng như đă biến thế trở thành một thứ đạo Việt Nam, một thứ đạo dân tộc, nên đạo Phật đă phát triển mau lẹ và mạnh mẽ - không cần ai dụ dỗ, không cần ai doạ dẫm - vào các tầng lớp nhân dân từ vua quan cho đến dân thứ. Nói thế không phải đạo Phật không có thời kỳ suy thoái. Vào cuối đời Hậu Lê, phần v́ do quân Minh đốt phá kinh điển chùa chiền, phần v́ bị một số nhà Nho có địa vị trong triều đ́nh ganh ghét, phần v́ sự du nhập của đạo Thiên Chúa giữa thế kỷ 16, lại thêm nội chiến liên miên và tiếp theo là cuộc xâm lăng của Pháp nên từ đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 xảy ra t́nh trạng chùa chiền tiều tuỵ đổ nát, cao tăng vắng bóng, tăng sĩ chân tu biến thành thầy cúng, sinh hoạt Phật giáo tiêu điều.

Cũng cần nói thêm, như Nguyễn Lang đă nói rằng:

“Trong sự thịnh đạt đă ẩn chứa sự tàn lụi. Khi đạo Phật được vua chúa quư trọng th́ các nhà quyền quư và trăm họ đều hướng vào. Chùa chiền càng nhiều th́ nếp sống thanh quy càng khó có thể bảo đảm được. Tăng chúng càng đông th́ càng có nhiều phần tử bất hảo làm hại thanh danh tăng đoàn. Sự kính trọng càng nhiều th́ niềm kiêu hănh càng thêm cao. Sự cúng dường càng hậu hĩ th́ sự ỷ lại càng tăng. Suy đồi là ở chỗ đó”. (Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, Lá Bối, Tập II, trang 42).

T́nh trạng này đă xẩy ra cuối đời nhà Trần sau thời thịnh đạt dưới hai triều đại Lư Trần. T́nh Trạng này cũng đă xẩy ra gần đây sau 1963, khi nhà Ngô Đ́nh bị lật đổ. Nhiều sư c̣n trẻ cũng trở nên lănh tụ, nhiều sư già cũng (tr.90) trở nên kiêu tăng. Nhiều Phật tử làm nghề thầy thuốc đỡ đẻ, nhiều Phật tử ăn cắp tượng Chàm, nhiều nữ Phật tử lá đổ trên đầu ngón tay cũng thành chính khách, dân biểu v.v...

T́nh trạng này cũng đang xẩy ra tại hải ngoại, nơi mỗi sư là một ngôi chùa, nhiều sư trở thành lănh chúa một địa phương, sự kết hợp giữa các sự một ngày khó khăn, sự phân hoá, sự cấu xé lẫn nhau như ăn cơm bữa.

Tuy nhiên, như mọi người đă biết Phật giáo đă tiềm ẩn vào đáy sâu tâm hồn người Việt Nam rồi, cho nên như nhà Nho Nguyễn Trăi khi cáo quan về điền viên và trước khi bị tru di ba họ đă trở thành Thiền sư, c̣n dân chúng Phật tử cũng “lặn” vào giữa ḷng quần chúng để ẩn mà trường tồn chờ ngày phục hồi sinh khí, như thế khi Pháp xâm lăng Việt Nam mới có những nhà sư móc nối với giới sĩ phu yêu nước hoạt động chống Pháp như lịch sử đă chứng minh.

Do đó, ta có thể nói rằng suốt trường kỳ lịch sử 2,000 năm hiện diện trên quê hương Việt Nam, khi ẩn khi hiện, đạo Phật và dân tộc như bóng với h́nh. Chính đệ tử nhà Phật đă chống Bắc dẹp Nam mở mang bờ cơi bảo vệ biên cương xây dựng cho chúng ta một giải giang sơn gấm vó như ta thấy ngày nay. Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Hoàng và ngay cả Nguyễn Ánh Gia Long, người chiến sĩ kiên cường đă mở rộng biên giới Việt Nam về tận Cà Mâu, Hà Tiên đều là đệ tử của nhà Phật.

Đến đời vua Lư Thánh Tông, Phật giáo dù là quốc giáo cũng không kỳ thị mà lại mở rộng ṿng tay đón mời Khổng giáo để khai hoá văn học, lập Văn Miếu, xây tượng Chu Công, tượng Khổng Tử và 72 tiên hiền để thờ. Đến đời Lư Nhân Tông, nhà nước Phật giáo mở khoa thi, chọn người văn học vào làm quan, xây dựng Hàn Lâm Viện, nước ta (tr.91)có Quốc Tử giám từ đó. Ngay cả đối với Lăo Giáo, với tư tưởng triết học quá cao siêu đến độ trừu tượng và thần bí cũng được đạo Phật đón mời “kết nghĩa anh em” để cùng với Khổng Giáo bắt tay, tạo thành nền “Tam giáo Đồng Nguyên” cùng tô điểm cho Việt Nam, một xă hội có trật tự, có kỷ cương, có luân thường đạo lư từ trong thôn xóm ra ngoài phố phường, từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến thiết quốc gia.

Cho đến ngày nay, dù đất nước trải bao phen băo chướng, nền Tam giáo Đồng Nguyên đặc biệt là đạo Phật và luân lư Khổng Mạnh vẫn nở hoa trong mọi gia đ́nh Việt Nam, trừ một thiểu số mất gốc.

Đạo Lăo mà những kẻ theo Tây chê bai là mê tín dị đoan, th́ học giả Đào Duy Anh con người thấm nhuần Mác-xít lại đề cao cái khía cạnh tinh tuư của nó. Ông đă viết:

Trong tư tưởng của Lăo Tử th́ những yếu tố có vẻ vô thần hay biện chứng người ta thường đề cao th́ tôi thấy đă bị chủ nghĩa Duy Vật biện chứng vượt quá xa rồi, song những tư tưởng như “Thiên hạ mạc nhu nhược ư thuỷ nhi công kiên cường giá mạc chi năng thắng” cùng là “Nhược nhi thắng cường, nhu nhi thắng kiên” chẳng phải chính là những điều độc đáo trong tư tưởng quân sự của chúng ta từ xưa đến nay hay sao? Ngay trong Đạo Giáo, chứa chất bao nhiêu chuyện dị đoan mê tín cũng đă có những cái quư như những Thiện Đàn nhắm khuyên điều thiện để mong giữ vững nhân tâm theo thiện và duy tŕ phong hoá trong những thời buổi hoang mang. Những điều thiện do các Thiện Đàn truyền bá qua các Kinh Âm Chất, Văn Xương, qua các bản ca Khuyến giới, chính đó cùng với lời dạy từ bi bác ái của nhà Phật hun đúc (tr.92) nên cái niềm thương người, cái đức hy sinh, chúng ta vẫn thấy nở tươi trong ḷng các bà mẹ Việt Nam trong những cảnh huống đen tối nhất. (Nhớ Nghĩ Chiều Hôm” sđd trang 198-199).

Đào tiên sinh cũng cho biết việc lập Thiện Đàn của Đạo giáo có quan hệ đến việc duy tŕ phong hoá ở xă hội cũ, nhưng nó c̣n liên hệ với các phong trào ái quốc trong nước ta. Từ khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược rồi đô hộ các nhà Nho bất đắc chí, hoặc về quê mở trường dạy học hoặc lập Thiện Đàn mà bảo vệ cương thường. Nổi tiếng nhất là Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, quê làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định, rồi đến Đặng Ngọc Toản giáo thụ, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, Án Sát Sơn Tây Phạm Đ́nh Tuỳ v.v...

Theo cụ Đào Duy Anh, th́ đền Ngọc Sơn ở Hà Nội do nhà văn hào Nguyễn Văn Siêu dựng từ đời Minh Mệnh cũng là một Thiện Đàn. Ngày nay, chế độ Xă hội đương quyền vẫn giữ lại cả đền Ngọc Sơn lẫn cả Thiện Đàn, vẫn cho hoạt động như thời trước cũng như việc cho xây dựng lại Chùa Một Cột đă bị một nhóm quân nhân có đạo Thiên Chúa đặt ḿn triệt phá năm 1954 trước khi di cư vào Nam (xem “Lột Mặt Nạ Những Con Tḥ Ḷ Chính Trị” của Lê Trọng Văn), làm cho tôi có cảm t́nh với chế độ nhà nước đương quyền v́ họ c̣n biết duy tŕ những di tích lịch sử như tôi đă kể.

Xin kể ra đây vài bài giáng cơ của các Thiện Đàn để thấy những lời đạo lư lồng vào lời kêu gọi yêu nước trong các bài giáng cơ, không thua ǵ bài Hịch rao thuyền khi đất nước lâm nguy.

Bài “Cứu Sinh” của “Đệ Nhất Thánh Mẫu” có đoạn: (tr.93)

“Ngậm ngùi thay Thiên địa hiếu sinh mà nhân thế tự ḿnh tức nghiệt. Để đến nổi tai ương yểu chiết lại kêu rằng trời ghét lũ ngu dân. Há biết rằng thân lại buộc thân, như lặn xuống suối ai lần được ra! Mẹ vay mượn ngọn bút hoa, bảo cho con biết đường ra lối vào?”

Bài giáng cơ “Khuyển Trung hiếu” của Phạm Ngũ Lăo tướng quân dưới đây có đoạn:

“Việc ái quốc dùi mài trong dạ,

Chữ trung trinh vàng đá ghi ḷng,

Cơi Nam Bang quyết chí xoay ṿng,

Trong cảnh thổ há dung quân Tàu thực!”

C̣n có những bài của Tổng đốc Hoàng Diệu, của Châu Xương đệ tử của Quan Vân Trường ngâm lên nghe như lời Hịch thúc dục ba quân hăy vung gươm lên mà trả thù nhà đền nợ nước.

V́ giáng cơ là sản phẩm văn hoá dân tộc, lại có cái giá trị như những lời tiên tri nên con cháu họ Đỗ chúng tôi mới đến nhờ Thiện Đàn của ông Tú tài Nguyễn Kiến trong làng xin cơ bút cho một bài giáng ca để biết nội tổ chúng tôi theo Cần Vương kháng Pháp bị Tây giết mất thây, không biết hồn phách ông hiện nay ở nơi nào để con cháu họ Đỗ lập đền thờ cúng kiếng.

Tôi viết lại câu chuyện và viết bài giáng cơ vào cuốn Hồi kư VNMLQHT. Thế là cả khối Công Giáo Cần Lao viết sách, viết báo chê bai, mỉa mai tôi là bịp bợm, là mê tín dị đoan, là bệnh hoạn. Thái độ đó cho thấy những người theo đạo Chúa chẳng những đă không biết ǵ đến nền văn hoá đặc thù của Dân tộc mà c̣n không biết rằng cho đến 30/4/1975, nhà thờ Cao Đài ở Tây Ninh và đền thờ Thánh Mẫu ở đường Hiền Vương, Sài G̣n vẫn có Thiện Đàn, cơ (tr.94) bút hoạt động. Họ tự chứng minh là người mất hẳn cội nguồn xa ĺa phong tục, tập quán từng hiện diện trên quê hương ta trên hàng ngàn năm rồi.

Một số tên thực dân và một số Việt gian được phong là Thánh tử đạo ở Vatican, th́ họ hết sức vui mừng, tin rằng Chúa sẽ đem những kẻ làm hại quê hương dân tộc ta về nước Chúa, c̣n cha ông ta lập Thiện Đàn để duy tŕ phong hoá, truyền bá luân lư cương thường thị họ chê bai, mỉa mai là dị đoan mê tín, hủ lậu.

Nhân loại ngày nay đang mỗi ngày xa ĺa những đạo dối, đạo tà, đạo bịp để hướng về văn hoá Đông phương như tôi đă tŕnh bày trên kia, th́ người Việt Nam ta phát triển ba ḍng tư tưởng Thích, Lăo, Khổng càng rất cần thiết. Với căn bản nền Tam giáo Đồng Nguyên đă có sẵn, đă nằm sâu trong tiềm thức người Việt Nam nay với sự cố gắng hoạt động không ngừng của Viện sử học Việt Nam tại Hà Nội, tôi tin rằng nước Việt Nam ta trong vài mươi năm sau nữa sẽ thấm nhuần sâu sắc những yếu tố tốt đẹp lành mạnh của ba ḍng tư tưởng Tam Giáo Đồng Nguyên.

Như ta đă thấy suốt trường kỳ lịch sử dân tộc 2,000 năm, nền Tam Giáo Đồng Nguyên đă sản xuất ra không biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt, ái quốc, chí sĩ, nhân tài. Trong những cơn nguy biến của quê hương, họ đă đứng lên cứu nguy, trong những thời kỳ nô lệ họ đă đứng lên làm cách mạng, trong những lúc tuyệt vọng nền Tam Giáo đem lại hy vọng và niềm tin, trong những khi đau khổ nền Tam Giáo đem lại t́nh thương và an ủi.

Riêng đạo Phật luôn luôn đứng về phía đại khối nhân dân, suốt 2,000 năm hiện diện trên quê hương chưa một lần đạo Phật rước voi về dày mả Tổ, chưa một lần đứng về (tr.95) phe phi và phản dân tộc, vẫn luôn luôn trung trinh với tổ quốc, sắt soi, chung thuỷ với đồng bào.

Đến đây, tôi cần phải mở một dấu ngoặc để trả lời bài tham luận của nhà văn Thiên chúa giáo Cao Thế Dung, khi ông gán cho nhà Nho Việt Nam cũng có người theo Tây bán nước chứ không riêng ǵ đồng bào Thiên chúa giáo. Quả thật nhà Nho Việt Nam cũng có những tên như Hoàng Cao Khải, như Nguyễn Thân, như Tôn Thọ Tường đă theo Tây bán nước. Nhưng đó chỉ là những tên nguỵ Nho. Lê Hoan, Cao Xuân Dục, Nguyễn Hữu Bài, Petrus Kư theo Thiên chúa giáo đă làm tay sai cho Tây. C̣n đại đa số nhà Nho đều là những bậc chí sĩ yêu nước, đều gia nhập vào các tổ chức phục quốc, kháng chiến trong các phong trào Văn Thân Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Quang Phục Hội, ngay cả trong cách mạng mùa Thu 1945.

Ông Cao Thế Dung chỉ t́m ra được vài tên nhà Nho Việt gian, đă vội la lên rằng nhà Nho cũng theo Tây bán nước mà quên rằng dăm ba tên nguỵ Nho ấy đă bị nhân dân cả nước phỉ nhổ, đă bị chính những nhà Nho chân chính vạch mặt chỉ tên như Tôn Thọ Tường đă bị Phan Văn Trị, như Hoàng Cao Khải đă bị Phan Điện (thân phụ của Phan Anh) làm thơ lên án là Việt gian. C̣n Nguyễn Thân ở miền Trung th́ bị nhân dân đặt cho cái tên là Đôi guốc. Petrus Kư một tên Việt gian thâm độc bí mật làm cố vấn cho nhiều tên Toàn quyền Pháp đă từng đến Huế để lường gạt nhà vua, đă bị nhân dân Huế nh́n thấu tâm địa khuyển ưng của hắn bằng câu đối bất hủ:

“Gia Hội kiều đầu song ẩn sĩ,

Đông Ba quách ngoại sổ thanh lâu”.(tr.96)

(Đầu cầu Gia Hội hai tṛ núp, Ngoài cửa Đông Ba mấy mụ trùm)

Điều tôi muốn nói là trong lúc nhân dân cả nước kết tội bọn nguỵ Nho là Việt gian phản quốc, bọn măi quốc cầu vinh th́ người có đạo Thiên chúa lại tôn thờ họ, viết sách sử đề cao họ. Hăy lấy trường hợp gia đ́nh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm làm dẫn chứng. Những Cao Xuân Dục, Nguyễn Hữu Bài th́ được gia đ́nh họ Ngô coi là đồng chí. Khi ông Diệm lên làm Tổng Thống th́ con cháu hai tên Việt gian đó được trọng dụng, làm tay chân thân tín. tượng của tên Việt gian thâm độc Petrus Kư được Tây dựng lên thời Việt Nam c̣n đô hộ, vẫn được Tổng Thống Diệm cho giữ lại để trưng bày trước vườn hoa Dinh Độc Lập. Anh hùng Phan Đ́nh Phùng th́ bị Nguyễn Thân và Ngô Đ́nh Khả cho đào mả lên lấy thuốc súng trộn với thi hài của cụ bắn đi cho mất tích. Tên tuổi những twn đại Việt gian như tên linh mục Trần Lục được người Thiên chúa giáo đặt tên cho một trường Trung học giữa Sài G̣n. Tên tuổi tên đại ác gian Trần Bá Lộc được Tây giao cho cầm quân triệt hạ phong trào kháng Pháp từ Quảng Nam vào Phan Thiết th́ được người Thiên chúa giáo đặt tên cho một trường Trung học ở Qui Nhơn.

Ngô Đ́nh Thục viết thư cho Toàn quyền Decoux gọi cụ Phan Đ́nh Phùng là giặc. Ghê tởm hơn nữa là đúc tượng hai vị nữ anh hùng Dân tộc là chị em bà Trưng th́ mặt mày lại của hai mẹ con bà Ngô Đ́nh Nhu và Lệ Thuỷ. Nói cách khác là đúc tượng hai mẹ con mụ Nhu để nhân dân tôn thờ.

Tôi phải dài ḍng như thế là muốn nói lên rằng chế độ chính trị nào mà dùng người đạo Chúa làm rường cột, làm hậu thuẫn th́ chế độ đó là chế độ phi và phản dân tộc. Tôi (tr.97) e ngại những người đọc sử thiếu nghiên cứu cẩn thận hoặc thế hệ tương lai thiếu kiến thức về thế hệ cha ông thời c̣n thịnh Nho có thể bị mê hoặc bởi những luận điệu kiểu ngày nay có những luận điệu chửi bới, mạt sát người Pháp là thực dân, người Pháp là tàn ác do người Thiên chúa giáo viết ra đều là giả trá. V́ người Thiên chúa giáo Việt Nam muôn đời vẫn mang ơn người Pháp đă cứu cha ông họ khỏi bị các vua chúa nhà Nguyễn, các sĩ phu trong các phong trào kháng Pháp đánh phá th́ làm sao họ có thể chống Tây, phản Pháp được. Họ sung sướng v́ nhiều giáo sĩ thực dân được Vatican phong Thánh tử đạo kia mà? Vậy ở Việt Nam ai là Thánh?

Việc phủi bụi thời gian để xác định lại hành trang của các vị gọi là tử đạo ở Việt Nam, cách đây trên một thế kỷ quả không dễ dàng với một thái độ cẩn trọng, khách quan, dựa trên chính sử nhà nước (triều Nguyễn) như Đại Nam Thực Lục, và các Châu bản triều Nguyễn. Các nhà sử học Việt Nam bước đầu đă có thể làm sáng chân dung một số vị thánh, khiến chúng ta không khỏi sự nghi ngờ tính “thiêng liêng” và “nghiêm ngặt” của việc phong Thánh lần này (6/1988).

Đó là những nhân vật chắc chắn có dính líu, can dự vào các hoạt động chính trị xâm lược, chống đối nhà nước, phương hại an ninh quốc gia. Cố Du (Marchand) - đa số các giáo sĩ Pháp, Tây Ban Nha ở Việt Nam đều có tên Việt - can dự cuộc binh biến của Lê Văn Khôi năm 1833-1835 (số danh sách 61), Phao Lồ Hạnh (số danh sách 37) có tài liệu nói rơ y chỉ đường cho quân Pháp đánh chiếm (tr.98) đồn Cây Mai (Gia Định) năm 1859. Cố Liêm (Hermosilla), giám mục Tây Ban Nha (danh sách số 39) tham gia chỉ huy cuộc nổi dậy phù Lê ở Hải Dương, Jean Charles Thu (Cornay) linh mục Thừa sai Pháp tự nhận là quân sư của quân nổi dậy ở Phù Vinh, Sơn Tây chống triều đ́nh 1837. Garcia Xuyên (Melcher Garcia Sampedro, danh sách số 34) bị kết tội cùng Cố Liêm chỉ huy các cuộc nổi dậy chống triều đ́nh ở Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên...

...Thật thú vị khi xem trong cuốn Historie de L’Indochine của P.Héduy nói trên, thấy tên ba người Việt Nam trong số họ (lại đều được phong Thánh!) là Paul Bường tức Tổng Viết Bường, Đại uư thị vệ nhà vua, Mathiêu Lê Văn Gấm, người liên lạc cho giám mục nổi tiếng Lefêbre, Phero Lựu, Emmanuel Lê Văn Phụng, Phao Lồ Lê Bảo Tịnh, Michel Hồ Đ́nh Hy, quan chức cao cấp của triều đ́nh. Riêng vụ án Hồ Đ́nh Hy năm 1859, đă là một đề tài phong phú. C̣n Rheinard th́ đă gài linh mục thông dịch Nguyễn Hoàng mà Tự Đức biệt đăi đến chức chủ sự Trung hành nhân và ngự triều thông dịch, được phép ra vào cung cấm, lại chính là kẻ “giảo quyệt muôn đường” và “ăn ở hai ḷng” như chính nhận xét của Tự Đức (xem Tự Đức Thánh chế 91, Sài G̣n 1971, trang 233).

Có thể dẫn cử trường hợp đặc biệt loại này là Trương Vĩnh Kư. Người ta nói rất nhiều về một Trương Vĩnh Kư, một nhân vật “Văn hoá bản xứ lớn” một con cờ mắc kẹt trong bàn tay các cố đạo bản xứ và giáo sĩ ngoại quốc. Nhưng tôi lại muốn lưu ư ở đây vai tṛ “cố vấn bí mật” của ông ta do cha đỡ đầu là Paul Bert trong cuộc “đánh lừa chiến lược” với quan lại chóp bu của triều đ́nh Tự Đức (tr.99) trong chuyến công du Bắc Kỳ 1876, tạo điều kiện cho bọn Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai...(Viết theo tài liệu “Một số vấn đề lịch sử Thiên chúa giáo ở Việt Nam” Đỗ Quang Hưng, Hà Nội, 1991)

Nêu rơ ra như thế v́ mặc dù chưa đầy đủ lắm, nhưng ta đă thấy một sự lừa bịp của tổ chức phong thánh và việc các nhà viết sách báo người Việt Nam có đạo Thiên chúa khi họ giả vờ chỉ trích “Tây Thực Dân”.

Nói thế không phải trong giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam không có người yêu nước chống Pháp. Ngoại trừ Nguyễn Trường Tộ là một  trường hợp biệt lệ, c̣n có những tín đồ Thiên chúa giáo nhiệt t́nh yêu nước như Mai Lăo Bạng, như linh mục Đậu Quang Lĩnh, như linh mục Nguyễn Thần Đồng, linh mục Nguyễn Văn Tường. Có lẽ nhờ họ ở cùng quê hương với chí sĩ Phan Bội Châu được cụ hướng dẫn, giáo dục nên họ có tinh thần chống Pháp và theo cụ mà hoạt động cách mạng. Ngoài các nhân vật đó ra, vào thế hệ nối tiếp Thiên chúa giáo c̣n có Lê Hữu Cảnh hoạt động trong Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông ta là một viên Đội Khố Đỏ theo lănh tụ Nguyễn Thái học để hoạt động.

Điều tôi muốn nói ra là mặc dù những nhân vật Thiên chúa giáo trên đây là những nhân vật yêu nước, chống Pháp không khác ǵ các sĩ phu, nho sĩ người bên Lương, nhưng họ không được người Thiên chúa giáo vinh danh, ghi công nghiệp họ vào sử xánh dân tộc. Đó là v́ thái độ mặc cảm của người Thiên chúa giáo. Không lẽ họ vừa đề cao những tên theo Tây bán nước như Trần Lục, như Petrus Kư...lại vừa đề cao những người Thiên chúa giáo yêu nước chống Pháp. Như thế chả hoá ra họ tự mâu thuẫn hay sao. Chi (tr.100) bằng cứ để tên tuổi những nhân vật Thiên chúa giáo yêu nước mai một trong đống hồ sơ lưu trữ tại các thư viện nhà Ḍng. Nếu có một ai công kích người Thiên chúa giáo theo Tây bán nước th́ họ lại đưa tên tuổi những Mai Lăo Bạng, Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Thần Đồng, Nguyễn Văn Tường, Lễ Hữu Cảnh ra phân bua, phân bua một cách gượng gạo. Từ ngày cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi ra đời, tôi thấy tên tuổi của những người Thiên chúa giáo yêu nước chống Pháp xuất hiện trên các cuốn sách của ông Cao Thế Dung và vài người khác với lời lẽ tôn vinh.

Cũng cần phải nói thêm rằng suốt 100 năm độ hộ Pháp, lịch sử dân tộc đă bị các cố đạo Pháp, các linh mục và trí thức Thiên chúa giáo Việt Nam cũng như v́ áp lực của chính quyền đô hộ, nhiều nhà viết sử Việt Nam đă xuyen tạc lịch sử, đă ca ngợi công lao sự nghiệp của những kẻ đội lốt tôn giáo làm tay sai cho Tây thực dân. Nay nước nhà độc lập, không khí tôn giáo được cởi mở hơn, các thư viện của Hộitruyền giáo hải ngoại Pháp được mở rộng, Viện sử học Hà Nội sẽ có cơ hội sưu tầm và nghiên cứu lại để viết nên một cuốn sử về việc du nhập Thiên chúa giáo vào Việt Nam. Điều này Giáo hội La Mă và những giám mục, linh mục Việt Nam e ngại, lo âu, lo sợ sự thật xấu xa, tội lỗi sẽ bị lột trần ra ánh sáng tạo thành bản án lịch sử để đời. Nhưng Viện sử học Hà Nội không thể không làm trách nhiệm của ḿnh đối với lịch sử dân tộc được. Hăy trả sự thật cho sự thật.

Đoạn lịch sử mà ở đó đă nảy sanh các vị Thánh tử v́ đạo của Giáo Hội Ki-tô Việt Nam có thể có nay mai là một thời kỳ dữ độc và phức tạp, anh dũng và bi thương cùng với biết bao vấn nạn và nghịch lư. Thật ḷng những người Việt (tr.101) Nam chân chính hôm nay, không ai muốn khơi ra, trái lại đă và đang muốn trám lại, đào sâu chôn chặt. Chẳng thể đặng đừng, mở lại những trang sử ấy cũng chỉ để góp phần soi sáng cho những chỗ c̣n âm u, uẩn khúc của một vấn đề lịch sử tế nhị mà hậu thế có thể hiểu lầm. Huống chi cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng, những tín đồ ngoan cố kiểu Cao Văn Luận, Phan Phát Hườn, Vũ Đ́nh Hoạt, Nguyễn Văn Chức, Lữ Giang vẫn cứ ngoan cố, căi cối, căi chày, cứ cho rằng Giáo hội Ki-tô Việt Nam không có tội với tổ quốc, không cơng rắn cắn gà nhà!?

Tôi phải kéo dài những suy nghĩ, những tŕnh bày đó là để muốn nói lên rằng bất kỳ một chế độ chính trị nào thiếu khôn ngoan và không phân tách bạn thù cho hắc bạch phân minh, không biết tin tưởng triệt để và dựa vào hậu thuẫn nền Tam Giáo, không dựa vào lực lượng Phật tử làm hạ tầng cơ sở th́ nhất định chế độ đó, chính quyền đó không sớm th́ muộn sẽ phải thất bại. Trường hợp chế độ Cộng Sản ở Mông Cổ, trường hợp chế độ Cộng Sản Pol Pot, trường hợp chế độ Ngô Đ́nh Diệm, trường hợp chế độ quân phiệt Miến Điện hôm nay, là những dẫn chứng cụ thể.

Chế độ Ngô Đ́nh Diệm dù có hậu thuẫn người Thiên chúa giáo cả trong và ngoài nước, dù có đến 4,5 cơ quan Mật vụ, dù có đảng Cần Lao Công giáo làm trụ cột vẫn bị lật đổ như thường chỉ v́ khinh mạn đàn áp lực lượng nền Tam giáo. Hết người Pháp đến người Mỹ đến Việt Nam chỉ tin tưởng vào lực lượng Thiên chúa giáo để chống cộng, khinh thường lực lượng Phật giáo nên phải cuốn cờ bó giáp chạy dài. Mỗi lần tôi nhớ lại khi biến cố Phật giáo năm 1963 vừa xẩy ra gây một sự bất ngờ và xúc động cho người Mỹ, trong một buổi họp Hội đông An Ninh Quốc Gia, Tổng (tr.102) Thống Kennedy đă hỏi “Phật giáo là cái ǵ?” tôi không khỏi buồn cười, chua xót.

Theo thống kê, của Liên Hiệp Quốc tính đến ngày 11/7/1994, th́ dân số Việt Nam hơn 73 triệu người.

Người Việt thuần tuư: 63.5 triệu

Người Tày: 1.3 triệu

Người Hoa: 1 triệu

Người Thái: 1 triệu

Người Miên: 1 triệu

Người Mường: 1 triệu

Người Nùng: 800,000

Các dân tộc khác: 3.7 triệu

Trong đó:

Phật giáo: 40.5 triệu (55.3%)

Công giáo: 5.1 triệu (7%) *

Phật giáo Hoà Hảo: 2.2 triệu (3%)

Cao Đài: 1.1 triệu (1.5%)

Các tôn giáo khác: 3.3 triệu (4.5%)

Không có tôn giáo: 20.7 triệu (28%)

Qua bảng thống kê trên đây tôi có thêm mấy nhận xét để t́m hiểu thành phần nào là thành phần Dân tộc hay Đồng minh với thành phần dân tộc.

- Những người Tày, người Hoa, người Thái, người Mường, người Nùng đều thuộc thành phần Dân tộc, trừ người Miên, nhưng cũng như hạng người kia, người Miên cũng có một văn hoá với người Việt, đặc biệt về phương diện thờ Phật. (tr.103)

- Những người không có tôn giáo nào, đại đa số lại theo đạo Phật và đạo ông bà. Người ngoại quốc đến Việt Nam thấy trong nhà những người này không có bàn thờ Phật hay bàn thờ cha mẹ, nghĩ rằng họ không theo đạo nào. Người ngoại quốc không biết rằng bàn thờ ông bà cha mẹ chỉ trưng bày tại nhà gia trưởng; mỗi lần cúng kỵ, những người trong họ đến nhà gia trưởng để làm lễ gia tiên. Do đó, dù họ không có bàn thờ Phật hay bàn thờ gia tiên họ vẫn là người của Đạo Phật, người của Tam giáo Đồng Nguyên.

- Đạo Hoà Hảo và đạo Cao Đài đều là đạo Dân tộc.

Nói tóm lại, trong số 63.5 triệu người thuần tuư Việt Nam, trừ đạo Công giáo 5.1 triệu người, kể cả người theo đạo Tin Lành khoảng nửa triệu (trước 1975, đạo Tin Lành chỉ có 200.000 người), số người theo Tam giáo Đồng Nguyên vẫn là đa số tuyệt đối, ít ra cũng chiếm 80% dân số Việt Nam. Tuy nhiên theo tôi, trong tương lai với cái đà tôn giáo Tây phương bị chuyển hoá, bị biến thể theo văn hoá tôn giáo Đông phương th́ những người Việt Nam theo đạo Tây phương sẽ trở về với đạo Dân tộc nhiều hơn như tôi đă tŕnh bày những lư do trên kia. (Xem thêm: “Cái nh́n của Giám mục Bùi Tuần về hiện t́nh Giáo hội...báo Ngày Nay, Houston tháng 12/1994, trích đăng ở phần Phụ lục).

Nước Việt Nam ta, theo tôi nghĩ với rất nhiều hy vọng là trong ṿng 15,20 năm nữa, sẽ là một quốc gia văn minh tiến bộ, phát triển và thịnh vượng, không thua kém ǵ các quốc gia kỹ nghệ Tây phương và Nhật Bản, Đài Loan, Đại Hàn. Nhân tài người Việt đủ ngành nghề khắp năm Châu cũng sẽ trở về phục vụ xứ sở. Nông Lâm, Hải, Khoáng Sản dư dật càng làm giàu mạnh, phồn thịnh thêm cho quốc gia. Việt Nam với địa h́nh con Rồng uốn khúc trên bờ bể Thái (tr.104) B́nh Dương với biết bao phong cảnh hữu t́nh, như một bức tranh thuỷ mạc càng thúc dục ḷng người Việt trở về sống trên quê hương. Để tự hào là người Việt Nam - một khi đă trở về với quê hương, để tự hào v́ dân tộc, th́ c̣n mang theo cái đạo ngoại lai vào người làm ǵ để mang tiếng là làm người khách lạ sống chính ngay trên quê hương ḿnh - huống chi nền đạo ngoại lai Tây phương đang bị chính nhân dân các nước Tây phương ngày càng xa ĺa chối bỏ.

Cuộc Đấu Tranh Của Hoà Thượng Huyền Quang - Một Cuộc Đấu Tranh Đơn Độc Tuy rất lạc quan với một tương lai đầy triển vọng sẽ đến với đất nước ta, nhưng ba đại hoạ cho dân tộc như tôi đă nói trên kia vẫn ám ảnh tâm hồn tôi. Ám ảnh v́ ba đại hoạ đó rất dễ dàng xẩy đến cho dân tộc. Đó là nạn xâm lăng của Trung Quốc, nạn Văn hoá Côca Côla và nạn băng hoại xă hội.

Về nạn xâm lăng của Trung Quốc, trên kia tôi đă kể vài thủ đoạn, vài hành động tàn ác Trung quốc đang đối xử với Việt Nam. Từo báo Hải Vân, Sacramento số tháng 10/1994, cho biết nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam vừa bày tỏ sự tức giận về một hành động quấy phá khác của Trung Cộng, phát động việc thu mua mủ cao su sống và gạo qua ngả buôn lậu ở biên giới. Viên chức Hà Nội nói rằng việc xuất cảng gạo và cao su nay đă lâm vào t́nh trạng khó khăn, v́ một số hợp đồng với nước ngoài không thực hiện được do không đủ số lượng để lên tàu. Như thế các hợp đồng dài hạn bị các nước nhập cảng huỷ bỏ dần dần. Ngay cả một số nhà máy làm các sản phẩm bằng cao su ở (tr.105) trong nước cũng phải giảm giờ hoạt động v́ không có nguyên liệu.

Mấy năm trước, Trung Cộng đă mở chiến dịch mua móng trâu, sừng ḅ, mua rễ cây quế để giết hại kinh tế Việt Nam.

Nhưng đạo hoạ cho Việt Nam do Trung Quốc gây ra c̣n tai hại hơn nhiều, chưa kể một cuộc xâm lăng trước sau cũng xẩy đến khi họ đủ lực lượng đương đầu với Mỹ. Đó là việc Trung Quốc đă cho đắp hai cái đập ở thượng nguồn sông Cửu Long. Đây là một đ̣n chính trị vô cùng độc ác. Với những đập này họ muốn chi phối các quốc gia hai bên bờ sông Cửu Long, vấn đề thuỷ lợi. Họ muốn cho nước vào đồng bằng th́ họ cho, họ không muốn cho th́ họ đóng đập lại, họ muốn các nước bị lụt ngập th́ họ mở cửa đạp ra. Riêng Việt Nam, c̣n bị mất một nguồn lợi nhuận rất lớn đó là đất phù sa hàng năm được sông Cửu Long cung cấp cho miền Đồng Nai, sông Hậu.

 Chúng ta đă thấy rơ âm mưu của Trung Quốc, ngày nay dùng sách lược tằm ăn dâu mà hiếp đáp Việt Nam, ngày mai khi khả năng chiến tranh đầy đủ họ sẽ chiếm cả vùng Đông Nam Á, lấy Singapour làm biên giới phía Nam như bản địa đồ Mao Trạch Đông đă để lại. Lịch sử suốt 3,4000 ngàn năm trời từ thời nhà bạo Tần đến đời nhà Thanh, Trung Quốc vẫn luôn luôn nuôi tham vọng xâm chiếm Việt Nam, vẫn coi dân Việt Nam là man di mọi rợ. Người thức giả không thể vô tư trước nguy cơ của đất nước do Trung Quốc gây ra.

Về văn hoá Côca Côla, là thứ văn hoá triệt phá văn hoá 5,000 năm văn hiến của Việt Nam. Triệt phá phong tục, truyền thống tốt đẹp của cha ông, là thứ văn hoá đạp đổ (tr.106) bàn thờ cha mẹ, triệt hạ đ́nh, chùa, miếu mạo như hành động của quân Thập tự Tây Ban Nha đă thực hành tại Mê Tây Cơ, Phi Luật Tân và các nước Trung Nam Mỹ. Không cần nói th́ ai cũng biết, hễ đạo Chúa vào th́ đạo Phật, đạo ông bà, nền tam giáo phải đội nón ra đi. Ra đi trong nhục nhă. Chỉ mới có 40 năm quân Mỹ chiếm đóng mà một nước Tam giáo hoàn toàn Đại Hàn đă có 30% dân số theo đạo Thiên chúa, kể cả tín đồ đạo Tin lành.

Hoạ băng hoại xă hội là do văn hoá Côca Côla gây ra, mà Hoa Kỳ là nguồn gốc của hoạ này, nơi mà tội ác phát triển một cách ghê tởm và mănh liệt. Giết người, cướp của, ma tuư, băng đảng, cha giết con, vợ giết chồng hay trái lại, xẩy ra hàng ngày. Loạn luân, đồng t́nh luyến ái, bệnh Aids, ly dỵ, hiếp dâm, cha cố cũng làm t́nh, cũng hiếp dâm con nít như điên. Mở báo ra đọc, mở Tivi ra xem tin tức và tội ác tràn ngập xứ Mỹ, cũng như dân không có nơi cư trú, ngủ đầy gầm cầu, vỉa hè nơi các thành phố của Hoa Kỳ.

Kẻ giết Tổng Thống Reagan vẫn không bị tù, vụ án hai người con giết cả cha lẫn mẹ để cướp 14 triệu đồng, để ăn chơi du hư kéo dài ba năm vẫn chưa biết ngày nào mới két thúc, một bà già ở Sacramento giết chín mạng người, chôn xác trong vườn đến 4,5 năm mới khám phá được, vẫn chưa ra toà. Kẻ đốt xe, chà đạp Quốc kỳ rồi ném xuống đất vẫn không bị truy tố trước pháp luật v.v...Quả thật không có một quốc gia nào mà vô đạo, vô luân hơn Hoa Kỳ. Không có một quốc gia nào đă có nửa triệu Cảnh sát viên mà c̣n phải tăng cường thêm một trăm ngàn nhân viên công lực và ba tỷ 200 triệu Mỹ kim để chi phí bốn năm cho việc giữ ǵn an ninh trật tự như Hoa Kỳ. Trong lúc đó th́ Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ chỉ lo bênh vực những người có đạo (tr.107) Chúa từ Mễ Tây Cơ, Trung Nam Mỹ xâm nhập bất hợp pháp vào Hoa Kỳ bất chấp sự chống đối của 72% nhân dân Hoa Kỳ, bất chấp nhân dân Hoa Kỳ phải nai lưng ra đóng thuế cho bốn triệu kẻ xâm nhập bất hợp pháp, ngồi mát ăn bát vàng.

Việt Nam ta v́ nhu cầu kiến thiết, nhu cầu phát triển, nhu cầu thịnh vượng mà phải giao thương với Hoa Kỳ sẽ không khỏi bị cái đại hoạ “Xă hội băng hoại” do người Mỹ du nhập vào. Người Mỹ đến Việt Nam từ thời ông Diệm cầm quyền, thế mà ngày nay dù đất nước quê hương đă thay da đổi thịt, nạn “băng hoại xă hội” không những vẫn c̣n tồn tại ở các thành phố miền Nam, mà đă lan tràn ra miền Bắc một cách nhanh chóng khủng khiếp. Hăy tưởng tượng một ngày nào đó, nạn “văn hoá Côca Côla” triệt phá văn hoá đặc thù của dân tộc, triệt phá phong tục truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại, hăy tưởng tượng nạn “băng hoại xă hội” đưa Việt Nam vào con đường đầy tội ác, mất cả luân lư, đạo đức, cương thường th́ Việt Nam c̣n là Việt Nam nữa hay không?

Cũng v́ lo âu cho đất nước chẳng may rơi vào t́nh trạng một xă hội rừng rú, một xă hội mà con người trở thành con thú nên tôi mới cất cao lời kêu gọi mọi thành phần dân tộc hăy đặt quyền lợi tổ quốc giống ṇi trên quyền lợi tôn giáo hay đảng phái, cùng nhau đoàn kết để chung lo việc nước việc dân, xây dựng một tương lai lành mạnh cho xứ sở.

Tôi đă kêu gọi Nhà nước đương quyền hăy từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản đưa quốc gia tiến dần đến chế độ dân chủ. Tôi đă kêu gọi người đạo Chúa hăy bỏ nền đạo ngoại lai mà trở về với nền đạo tốt đẹp của cha ông. (tr.108)

Đến đây tôi xin phép đặt vấn đề trách nhiệm và bổn phận của người Phật giáo mà cuộc đấu tranh do Hoà thượng Huyền Quang đang lănh đạo, đang là mấu chốt của vấn đề mà loạt bài này cần phải đặt ra.

Trước hết, tôi cần trích lại bức tâm thư của Đại lăo Hoà thượng thích Đôn Hậu ngày 20/9/1991, từ chùa Linh Mụ, Huế gởi cho chư Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức, Tăng ni Việt Nam đang lănh đạo và tu học ở hải ngoại:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Thưa quư vị,

Đức Thế tôn ra đời chuyển vận bánh xe chánh pháp đem lại trí tuệ và t́nh thương, hạnh phúc và an lạc cho Chư thiên và loài người. Hàng chúng tăng đệ tử của ngài từ thế hệ này qua thế hệ khác tâm trong tâm, nguyện cùng nguyện từng hoà hợp với nhau để kế tục sự nghiệp cao cả ấy. Tuy nhiên, việc kế tục không đơn giản v́ có khi hàng đệ tử Phật đă phải hy sinh tính mạng để cho Chánh pháp được Hoằng dương.

Trong lịch sử truyền bá Phật giáo Việt Nam cũng như trên thế giới có lúc rất bi thảm đầy tủi nhục, nhưng có lúc cũng vẻ vang rất đáng tự hào. Lúc bi thảm là lúc bản thể của Tăng ni lu mờ, nội bộ của Tăng ni bị phân hoá và thành phần của Tăng có nhiều quan điểm dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu biết đạo lư một cách cục bộ, phiến diện. Trái lại lúc vẻ vang là lúc nội bộ chúng Tăng tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy giác ngộ, giải thoát làm cứu cánh, lấy bản nguyện đọ sanh làm sự nghiệp.

Bởi vậy từ quê hương, và cũng chính từ kinh nghiệm bản thân tôi hằng nghĩ đến nếu không muốn nói là luôn luôn lo âu và theo dơi những sinh hoạt của tăng ni Việt Nam đang (tr.109) tu học và hành đạo ở hải ngoại, những người con của Giáo hội đang đem chuông đánh ở xứ người, một việc làm cao quư nhưng cũng đầy phức tạp. Với niềm thao thức đó, nay tôi có mấy lời tâm huyết gửi đến quư vị, v́ rằng năm nay tôi đă xấp xỉ cửu tuần, sự sống có thể ngừng lại bất cứ lúc nào và sự từ giă anh em trong trọng trách của ḿnh cũng chưa kỳ hạn được nên tôi tha thiết kêu gọi quư vị phải phát huy hơn nữa bản thể của Tăng giới mà đoàn kết hoà hợp, hăy cùng nhau thể hiện t́nh thần tương kính, tương thuận, tương giáo như luật dạy. Hăy v́ sự tồn tại của Giáo hội, v́ sự quang vinh của Đạo pháp và Dân tộc mà gạt bỏ những quan điểm dị biệt để cùng nhau hoằng dương chánh pháp, làm nhiều Phật sự cụ thể, hữu ích và lớn lao hơn. Tăng ni Phật tử ở quê nhà đang gởi gắm rất nhiều niềm tin tưởng vào đạo t́nh cao quư ở quư vị.

Tôi thành tâm cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho tất cả anh em thân tâm an lạc, phước đức trang nghiêm để hoàn thành sứ mệnh của bậc chúng trung tôn mà Phật pháp và lịch sử Phật giáo Việt Nam đă giao phó.

                                                                                     Nay kính

 

Bức thư tuy công khai nhưng nội dung vẫn chứa ẩn nhiều ư nghĩa thầm kín mang tính chất giáo huấn và ưu tư mà người bàng quang có thể đặt ra nhiều câu hỏi:

1. Tại sao từ 18 năm qua từ 1975 đến nay, nay Đại lăo Hoà thượng mới công khai hoá tâm tư và ư nguyện của ḿnh?

2. Phải chăng v́ chư tăng trong nước cũng như ngoài nước quá phân hoá, và có một số các vị thiếu đạo hạnh, không theo đúng luật thanh quy. (tr.110)

3. Phải chăng 18 năm qua, chư tăng ở hải ngoại ngồi trên sự b́nh an và sung túc mà quên đi những đồng đạo cơ cực ở quê nhà v.v...

4. Phải chăng trước cơn Pháp nạn kéo dài mà vị cao tăng đă từng là một trong những rường cột chống đỡ ngôi nhà Phật giáo trong nhiều cơn băo táp, phải trối trăn lại những thao thức của ḿnh trước khi về chầu Phật.

Tôi đoán rằng khi Ngài hạ bút viết bức tâm thư này dù tuổi già, giọt lệ như sương nhưng nước mắt của Ngài cũng dầm dề, ràn rụa. Ngài khóc v́ đàn con Phật chưa đoàn kết lại, chưa giữ tṛn đạo hạnh, có người chưa hoàn toàn xứng đáng trưởng tử của Như Lai.

Rồi mấy ngày sau tôi nhận được bản sao bức thư của Đại lăo Hoà thượng và bản sao bức thư Hoà thượng Mẫn Giác gởi về cho Đại lăo Hoà thượng với lời hứa long trọng:

“Chúng con hoàn toàn đặt ḿnh dưới sự chỉ đạo của Giáo hội và tâm thành vâng giữ giáo lệnh của Đại lăo Hoà thượng”.

Các tài liệu này được chùa Phật Giáo Việt Nam. Los Angeles có nhă ư gởi cho tôi. Chùa Phật Giáo Los Angeles c̣n gởi cho tôi bản sao hai bức thư Hoà thượng Quảng độ từ Thái B́nh gởi về chùa Linh Mụ. Hai bức thư viết bằng nước mắt để xin một ít lộc nơi Đại lăo Hoà thượng v́ hoàn cảnh quá khó khăn. Và bản sao một bức thư của Hoà thượng Huyền Quang gởi về Huế cho Đại lăo Hoà thượng, lời lẽ cũng hết sức lâm ly, sức khoẻ đă suy giảm.

Hoà thượng Huyền Quang, thời chiến tranh Việt Nam Minh-Pháp, đă có thái độ chống đối Việt Minh nên bị Việt Minh Liên Khu 5 quản thúc cùng với người bạn của tôi, một chức sắc Cao Đài là cụ Lương Vĩnh Thuật mà anh em (tr.111) Việt Quốc Nam Ngăi không mấy ai không biết. Tôi đă được hân hạnh mạn đàm với Hoà thượng về Phật sự vài lần hồi c̣n ở Sài G̣n. Tôi rất kính trọng nhà tu hành suốt đời chỉ hiến thân cho Đạo pháp nay về già mà thân thế vẫn lao đao.

Hoà thượng Quảng Độ tôi chỉ được hân hạnh gặp Ngài một lần vào khoảng năm 1965, 1966 khi tôi lên phi trường Tân Sơn Nhất tiễn một người thân đi ngoại quốc. Mới gặp tôi lần đầu mà Ngài đă có cảm t́nh thân thiết. Ngài cho biết thời đấu tranh năm 1963 v́ Ngài c̣n trẻ, thân h́nh lại có vẻ phốp pháp, hùng dũng nên bị bọn Mật vụ nhà Ngô bốn đứa xách hai tay hai chân động thân thể Ngài vào lề đường xi măng, nên nay mỗi lần trở trời hơi gió là xường cốt nhức rêm, đau đớn lắm phải đi Thái Lan chữa bệnh.

Là nhà sư di cư mà lại chống chế độ Hà Nội nên Ngài bị đem về quản thúc tại Thái B́nh, tỉnh nhà của Ngài. Nhà văn Vũ Thế Ngọc, nhân một chuyến về thăm quê hương không quên ghé xuống Thái B́nh thăm thầy  Quảng Độ cô đơn trong một ngôi chùa đổ nát. Ngài bị lưu đầy ngay chính nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài. Ngài c̣n mẹ già nay đă gần 100 tuổi không ai phụng dưỡng. Cách đây mấy tháng, một cư sĩ Phật giáo hải ngoại về nước không ngờ được tin Ngài đang ở Sài G̣n tại Thanh Minh thiền viện, Cư sĩ xin yết kiến Ngài nhưng Ngài không tiếp. Không biết v́ Ngài không muốn tiếp khách hay v́ chính phủ cấm Ngài tiếp khách. Nghe nói Ngài thường tỏ ra phẫn nộ, giận thời thế, giận cả bằng hữu nhân t́nh.

Đọc thư của hai bậc chân tu đang lâm nạn với lời lẽ vô cùng bi thiết, ngậm ngùi, muốn khóc, tôi tự hỏi tại hải ngoại chùa chiền mọc lên khắp nơi, nhiều ngôi chùa vô cùng (tr.112) tráng lệ, 17,18 năm qua có ngôi chùa nào, có vị Dân biểu; Nghị sĩ, Bộ trưởng nào nhờ Phật giáo mà nên danh giá đă bố thí cho hai thầy một chút ít bổng lộc ǵ chưa?

Cách ít lâu sau, tôi nhận được tài liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại gồm có thư của Thượng toạ Thích Đức Niệm gởi về vấn an Đại lăo Ḥa thượng, bản tuyên cáo chung gồm có chữ kư của nhiều Thượng toạ, Đại đức khắp Âu, Mỹ, Úc, Canada. Tuyên cáo chung của Giáo hội cũng bày tỏ ḷng trung thành và sự tuân phục của Giáo hội Hải ngoại đối với Giáo hội Mẹ trong nước.

Tôi đang mừng thầm thấy Đại lăo Ḥa thượng c̣n sống ngày nào th́ như c̣n cột trụ trống với gió mưa để những con chim lạc đàn bay về Tháp Bảo chùa Linh Mụ, th́ bỗng được Phật học viện Quốc tế của Hoà thượng Đức Niệm hạ cố thông báo cho biết việc Đại lăo Hoà thượng Đôn Hậu viên tịch. Với tuổi già sức yếu tôi không đi được nên đă sai con trưởng tôi đại diện gia đ́nh đến Phật học viện dự đại lễ sầu siêu.

Sỡ dĩ tôi phải dài ḍng v́ theo báo chí hải ngoại th́ Ḥa thượng Huyền Quang được phép ra Huế dự đám tang cố Đại lăo Ḥa thượng. Trong bài điếu văn Ḥa thượng Huyền Quang đă để lộ thái độ chống đối mạnh mẽ nhà nước đương quyền. Cuộc đấu tranh do Ḥa thượng Huyền Quang lănh đạo nổ ra từ đó vào khoảng tháng 10/1992. Một cuộc tranh đấu tự phát đơn độc của Phật giáo, của Phật giáo mà thôi sẽ xẩy ra ở quê nhà.(tr.113) 

CUỘC ĐẤU TRANH CỦA H̉A THƯỢNG HUYỀN QUANG SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

Trong lúc đó th́ tôi lại bi quan vô cùng, tự hỏi không biết cuộc đấu tranh của Phật giáo sẽ đi về đâu, mặc dù cuộc đấu tranh có đầy đủ chánh nghĩa theo quan điểm những người ủng hộ cuộc đấu tranh. V́ nhà nước Xă Hội Chủ nghĩa đă giải tán Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất (tức Giáo hội Ấn Quang cũ) lập ra Giáo hội mới mà tại Hải ngoại gọi là Giáo hội nhà nước, sư Quốc doanh. V́ nhà nước đă tịch thu tài sản của Giáo hội. V́ nhà nước giam cầm một số tăng ni của Phật giáo.

Trong lúc đó nhà nước, sau một cuộc chiến tranh Nam Bắc tràn ngập hận thù, nại lư do chính trị và an ninh, cần phải có biện pháp cứng rắn để ngăn ngừa các cuộc phá rối hay nổi loạn. Nhà nước cũng không thể trả lại hoàn toàn tài sản cho Giáo hội Phật giáo v́ c̣n phải giải quyết tài sản của Thiên chúa giáo, mà tài sản này chẳng những đă to lớn, đă vô giá mà c̣n nhiều vấn đề pháp lư phải đặt ra. Thử hỏi tài sản của Phật giáo so sánh với tài sản của Thiên chúa giáo La Mă có được 1/1.000.000 chưa? Nhà nước cũng không thể trả cái quy chế Thống nhất của Phật giáo miền Nam cũ mà thật sự Phật giáo Thống nhất đó chưa hẳn đă thống nhất. Nếu trở lại có tạo ra một tiền tệ để nhiều hệ phái khác chẳng hạn như Phật giáo từ vĩ tuyến 17 trở ra cũng có thể đ̣i Thống Nhất. Như thế có một chính quyền nào lại muốn tạo ra t́nh trạng nhiều quốc gia trong một quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, nếu nhà cầm quyền không cứng tay lái, các tôn giáo có thể gây ra nhiều (tr.114) cuộc xáo trộn, rối rắm. Lịch sử Việt Nam và thế giới đă và đang chứng minh điều đó.

Tôi đang suy nghĩ về những ngang trái của quê hương dân tộc ḿnh th́ bỗng một hôm, vào khoảng mùa Hè năm 1993, tôi được mời tham dự một cuộc mạn đàn để thảo luận về cuộc đấu tranh của Phật giáo đang diễn tiến.

Cuộc họp được triệu tập tại một ngôi chùa mà theo tôi th́ cảnh trí đẹp hơn tất cả các ngôi chùa khác ở California. Đứng giữa khuôn viên chùa nh́n ngắm bốn bề, tôi có cảm tưởng đang nh́n ngắm một bức tranh thuỷ mạc, có tháp cao, hồ rộng, có cây cổ thụ, có hoa bốn mùa. Cảnh trí đă đẹp mà phong cảnh ngôi chùa lại rất trang nghiêm. Chùa do một chân tu lănh đạo, những ngày lễ lớn có đến hàng ngàn Phật tử tham dự.

Ḥa thượng trụ tŕ chùa là một nhân vật đặc biệt. Sau khi thi đỗ Cử nhân Văn chương tại Đại học Sài G̣n, ông được cử đi học tại Đài Loan và lấy được bằng Tiến sĩ Triết học và Phật học. Biến cố 1975 xẩy ra ông được mời qua Hoa Kỳ và thành lập chùa tại một nơi có nhiều người Việt Nam cư trú. Gia đ́nh Ngài vốn theo đạo Phật, nhưng dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm, ông cụ thân sinh ra Ngài v́ ham chức Quận trưởng nên bỏ đạo Phật để theo đạo Chúa, mặc dù bà cụ hết sức khóc lóc van lơn. Hai mẹ con Ngài đành phải ra đi, Ngài quyết chí tu hành để báo hiếu cho mẹ già v́ buồn chồng cải đạo, mà ra đi vĩnh viễn, đồng thời cũng để cảm hoá người cha trở về với đạo Phật. Quả thật, thái độ của hai mẹ con Ngài đă kéo được ông cụ trở về với gia đ́nh, với nền đạo tổ tiên sau khi bước công danh gây cho ông nhiều ưu phiền, lận đận. (tr.115)

Trong buổi mạn đàm, v́ Ḥa thượng là người tính t́nh trầm mặc rất ít nói, Ngài chỉ ngồi nghe không đưa ra một ư kiến nào nên tôi không biết được lập trường của Ngài ra sao. C̣n quư vị chư tăng khác th́ thiên về lập trường “chủ chiến” của nhóm các ông Trần Quang Thuận, Bùi Ngọc Đường, Ngô Trọng Anh và một số Trung tá, Đại tá H.O. Và tôi nhờ lớn tuổi nên được quư thầy cho nói trước. Tôi đề nghị một cuộc đấu tranh ôn hoà, không bạo động, không có những danh từ đao to búa lớn, mạt sát các nhân vật lănh đạo đương quyền.

Tôi đă đề nghị một cuộc “Đối thoại xây dựng” hơn là “đấu tranh, xuống đường, bạo động”. Tôi đề nghị nên đóng góp tiền bạc gởi về quê nhà để có phương tiện xây dựng lại cơ sở, đào tạo tăng săi. Phải có thực mới vực được đạo và đó là một h́nh thức đấu tranh mà Ḥa thượng Thanh Từ đang hoạt động ở quê nhà. Trong bối cảnh ngang trái, tế nhị, phức tạp của đất nước, Phật giáo vẫn được tự do hoạt động th́ đó là cách đấu tranh khôn ngoan và hữu hiệu hơn cả. Đi đôi với chính quyền mà hoạt động đắc lực cho tôn giáo v́ thế Thiên chúa giáo La Mă và Tin Lành đâu có đấu tranh. Họ chỉ âm thầm phát triển tín đồ. Quan điểm của tôi được một số cư sĩ đồng ư chẳng hạn như cựu Đại tá Trần Văn Kha, cư sĩ Hồng Quang, nhà văn Vũ Thế Ngọc, hai vị này từng đi Việt Nam về, nắm vững t́nh cảnh Phật giáo ở quê nhà.

Nhưng Giáo sư Trần Quang Thuận gây gắt bác bỏ ư kiến của tôi. Thậm chí bác bỏ luôn ư kiến về việc gởi tiền bạc về giúp Phật giáo trong nước. Tôi thật bất ngờ và xúc động khi ông Thuận nói rằng: “Người ta gởi về hai, ba trăm triệu, ḿnh gởi về 5,7 chục ngàn th́ ăn nhằm ǵ?” (tr.116)

“Người ta” mà ông Thuận ám chỉ đó là tín đồ Thiên chúa giáo. Nhưng ai nấy đều biết từ cả chục năm qua rồi tín đồ Thiên chúa giáo và Tin Lành hải ngoại đă đóng góp hàng tháng vô số bạc tiền để gởi về cho Giáo hội Mẹ ở quê nhà, đó lad chưa kể số tiền bạc của các giáo hội Hoa Kỳ và Âu Châu giúp Giáo hội Việt Nam xây dựng dần dần lại cơ sở, và các hoạt động văn hoá, tôn giáo. Làm việc xă hội, giúp đỡ cho đồng bào Phật tử cơ cực ở quê nhà mà ông Thuận lo ngại. Vậy ông Thuận muốn ǵ? Tôi tự hỏi như thế?

Ư kiến tranh đấu ôn ḥa của tôi cũng bị một số cựu Đại tá, Trung tá H.O. bác bỏ quyết liệt. Việc anh em H.O. đ̣i đấu tranh đến kỳ cùng không có ǵ là khó hiểu cả v́ hận thù Cộng Sản đang nằm sâu trong tiềm thức của anh em vốn đă bị tù, bị cải tạo mươi, mươi hai năm. Vả lại ư thức chính trị của anh em chưa cho phép anh em có cái nh́n theo hướng đi và đường dài của đất nước và lịch sử.

Nhưng với giáo sư Trần Quang Thuận mà đ̣i quyết liệt đấu tranh cho đến kỳ cùng th́ tôi cho rằng v́ ông đứng trên quan điểm của một chính khách chuyên nghiệp, một người chuyên làm Bộ trưởng, Nghị sĩ nay ra nước ngoài, xa lánh Việt Cộng, đấu tranh không sợ nguy hiểm nên ông đ̣i đấu tranh cho đến cùng. C̣n tôi th́ đứng trên quan điểm chiến lược trường kỳ mà đ̣i đấu tranh ôn ḥa, v́ thế giữa ông Thuận và tôi mới có lập trường dị biệt quá xung khắc không hàn gắn được.

Giáo sư Trần Quang Thuận và tôi không xa lạ ǵ nhau. Ngày tôi cho ra đời cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, có lẽ ông ngạc nhiên lắm v́ một người học hành thấp kém như tôi, mà viết nổi một cuốn sách làm rung động dư (tr.117) luận người Việt khắp năm Châu, nên từ ngạc nhiên cho đến quư trọng, ông dành cho tôi rất nhiều t́nh.

Mấy ngày sau khi sách tôi được ra mắt tại Phật Học Viện Quốc tế, Giáo sư Thuận đă hướng dẫn một phái đoàn độ mươi người có cả các giáo sư B́nh, giáo sư Đường, các cư sĩ Hồng Quang v.v...từ Los Angeles lên Fresno tặng tôi một tấm placque kỷ niệm. Tôi hết sức vui mừng.

Nhưng hôm nay trong buổi mạn đàm về một vấn đề sinh tử của Phật giáo, ông Trần Quang Thuận và tôi trở thành đối thủ, ông lại được quư chư tăng và anh em H.O. hết ḷng ủng hộ.

Họp xong, tôi chán nản ra về, bỏ cả việc đi thăm nhà người con gái ở cách chùa 15 phút xe hơi, tôi đi thẳng về Fresno.

Tối đó tôi thao thức suốt đêm, tiếc cho Phật giáo năm 1963 đă bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng để vươn lên. V́ kém ư thức chính trị một phần, v́ không nắm vững t́nh h́nh một phần, v́ chủ quan một phần, v́ sự du nhập vào hàng Phật giáo của giới trí thức, chính khách manh động thấy Phật giáo lúc bấy giờ như phao câu, v́ âm mưu chính trị kéo cả Giáo hội vào việc lật đổ Thủ tướng Trần Văn Hương để cuối cùng bị phe Thiên chúa giáo của Linh mục Hoàng Quỳnh, Hồ Văn Vui... tương kế tựu kế đưa quân phiệt Thiệu Kỳ lên cầm quyền nên Phật giáo thảm bại và phân hoá.

Tôi đă phân tách sự thất bại bày trong VNMLQHT. Và tôi đă phải thương hại cho Phật giáo v́ các nhà lănh đạo thiếu sáng suốt nên Phật giáo đă gặp phải Pháp nạn mà tôi cho là Pháp nạn đêm dài mộng mị nhất. Lời nhận (tr.118) định của tôi cho đến ngày nay vẫn không sai. Tôi sẽ trở lại bài này trong một bức tâm thư khác.

T́nh h́nh ngày nay, phức tạp, khó khăn và ngang trái hơn rất nhiều mà theo tôi th́ nên đối thoại với nhà nước hơn là đấu tranh kiểu thời Ngô Đ́nh Diệm chỉ lợi cho nhiều thứ kẻ thù hơn là cho Phật giáo. Phải chăng v́ biết như thế mà quư vị cao tăng nhu Minh Châu, Thiện Siêu, Trí Tịnh và trước kia thời c̣n sinh tiền Ḥa thượng Trí Thủ cũng phải nhượng bộ. Đồng thời Ḥa thượng Trí Quang th́ bất động, Ḥa thượng Quảng độ cũng ẩn thân, Ḥa thượng Đức Nhuận ở tù ra mang đầy uất hận vẫn không hoạt động với thầy Huyền Quang. Thượng tọa Đức Nghiệp và cả Thượng tọa Thông Bửu, những nhà sư vào hạng “sư đấu tranh”, vẫn giữ thế ôn hoàmà hoạt động phật sự theo kiểu Ḥa thượng Thanh Từ: nghĩa là hăy lo cũng cố lực lượng trước đăm, hăy lo cho dân chúng thấm nhuần chánh nghĩa của Đạo Phật trước đă, việc đấu tranh sẽ hạ hồi phân giải. Đấu tranh mà dân chúng hững hờ, Phật tử lơ là th́ chính quyền sẽ đánh giá đối thủ như thế nào. Có thể nói rằng, thầy Huyền Quang đă phất cờ sai chiều gió, thiếu chuẩn bị cho nên đă thất bại ngay từ lúc mới bắt đầu xuất tưởng. Xung quanh thầy chỉ c̣n lại một số ít thượng tọa, đại đức tuổi c̣n trẻ, tuy nhiệt t́nh mà mưu kế lại không có ǵ, làm sao đương đầu nổi với chính quyền, với những nhân vật từng già dặn với đấu tranh, với cách mạng.

Hoàn cảnh đất nước, tinh thần, nhân dân hoàn toàn khác với thời 1963. Khác với thời 1963, ngày nay nhà nước cầm cán, nhóm tranh đấu cầm lưỡi. Rất tiếc thầy Huyền Quang đă không nh́n thấy những yếu tố căn bản cho mọi cuộc đấu tranh: Bạn, thù và Thiên thời, Đại lợi, Nhân hoà, (tr.119) đă không bắt chước Lưu Bang nhường cho Hạng Vơ vào Hàm Dương dù quân ḿnh đến trước.

Theo tinh thần buổi họp, theo quan điẻm của nhóm chủ trương đấu tranh th́ cần phải đấu tranh để Phật giáo khỏi bị chỉ trích là thân Cộng. Phật giáo có con đường của Phật giáo là lực lượng chủ lực của Dân tộc làm ǵ th́ v́ tổ quốc, v́ chính nghĩa mà làm, đâu có phải v́ a dua, v́ mặc cảm mà đấu tranh. Trong buổi họp có người c̣n cho rằng nhờ đấu tranh mà dư luận có cảm t́nh với Phật giáo. Điều đó quả đúng thật nhưng dư luận đó là dư luận của những kẻ 17, 18 năm qua chỉ biết chống Cộng bằng mồm. c̣n trên thực tế, th́ cuốn “Thánh Chiến” của giáo dân Lữ Giang vẫn ra đời, vẫn lên án Phật giáo là thân Cộng. Bạch thư của Thượng tọa Tâm Châu vẫn ra đời vào tháng 12/1993, lúc đấu tranh có vẻ lên đến cao điểm, đă lên án “phe Ấn Quang” là Cộng Sản. Mà phe Ấn Quang lại là phe đang đấu tranh với thầy Huyền Quang ở trong nước, nguyên là Tổng thơ kư Viện Hoá Đạo, và thầy Hộ Giác ở nước ngoài nguyên là một uỷ viên cao cấp của Hội đồng Viện Hoá Đạo Ấn Quang, cả Pháp sư Giác Đức cũng là người của Ấn Quang. Ngay cả ông Phạm Kim Vinh “kẻ xưng là Phật tử” vẫn viết bài điểm sách khen ngợi cuốn “Thánh Chiến” của Lữ Giang, kết tội Ấn Quang thân Cộng, kết tội Ấn Quang lật đổ nhà Ngô và nhiều sách báo khác vẫn tiếp tục chỉ trích Phật giáo. Có tờ báo xu hướng Thiên Chúa giáo ở San José c̣n gán cho cuộc đấu tranh hiện nay là đấu tranh giả, th́ dư luận nào có cảm t́nh với cuộc đấu tranh của Phật giáo.

Tôi may mắn có rất nhiều đàn em là Phật tử trí thức có mặt nhiều nơi trên thế giới, cho biết t́nh h́nh nội bộ Phật (tr.120) giáo, tôi phải nói lên sự thật nhưng chỉ gặt hái được thái độ, lơ là bất măn của vài thầy. Huống chi tôi có chỉ trích Phật giáo Thống Nhất đâu. Những nhà sư gây phân hoá, gây tai tiếng cho Phật giáo, bị các Phật tử trí thức chê là phong kiến, là kiêu tăng mới đáng chỉ trích.

Sau cuộc biểu t́nh ngày 20/5/1993 tại Huế, phong trào đấu tranh trong nước xụp đổ. Hoà thượng Huyền Quang đă cô đơn lại cô đơn hơn, chỉ thỉnh thoảng lên tiếng bằng những lá thư yêu cầu chính phủ điều này điều nọ. Chính phủ không trả lời những thư của thầy được, sao gởi ra cho hải ngoại để báo Chánh Đạo đăng lên và gọi đó là “cuộc đấu tranh vẫn tiếp diễn với khí thế bừng bừng” .Báo Chánh Đạo muốn lấy tay che mặt trời, nhưng đừng ḥng lường gạt được ai! Sau này có người về nước hỏi thầy Huyền Quang mới biết đó là những bức thư giả mạo đă được báo Chánh Đạo đăng, v́ mục đích nào đó.

Một biến cố khác nữa càng làm cho những kẻ chủ trương đấu tranh thêm bẽ bàng: Khi Hoà thượng Thanh Từ đế Houston là lúc Phật giáo Thống Nhất của thầy Hộ Giác đang họp Đại hội tại đó. Có mặt cả Tâm Tràng Ngô Trọng Anh, Vơ Văn Ái, Trương Như Phùng, Thích Giác Đức, Thích Quảng Ba ở Úc nữa, toàn là những người nổi tiếng chống Cộng.

Một Phật tử thuộc hạng chống Cộng quá khích tuyên bố rùm beng chống đối Ḥa thượng Thanh Từ, theo như sự kể lại của báo Chánh Đạo tại San José. Chánh Đạo lớn lối kêu gọi Phật tử hăy quyết liệt tẩy chay Ḥa thượng Thanh Từ. Chánh Đạo gán cho tất cả chư tăng tại hải ngoại đều phản đối cuộc Mỹ du của Ḥa thượng Thanh Từ bằng tít lớn: “Thái độ dứt khoát của giới lănh đạo Phật giáo Việt (tr.121) Nam tại hải ngoại về chuyến Mỹ du của Ḥa thượng Thích Thanh Từ”.

Trong lúc đó, chỉ có Ḥa thượng Hộ Giác phản đối với lời lẽ lễ độ và ôn ḥa, và Ḥa thượng Tâm Châu nhà tu hành kiêm đại chính khách, đại lănh tụ th́ tuyên bố cứng rắn hơn. Lên tiếng tại chùa Nam Quang ngày 5/9/1994, Ḥa thượng Tâm Châu nói: “Tôi cực lực phản đối những người tiếp tay nối giáo cho giặc. Việc làm của họ không mang lại ích lợi ǵ trực tiếp cho đồng bào mà chỉ củng cố thêm cho chế độ Cộng Sản kéo dài thêm sự thống trị của Cộng Sản và làm cho triển vọng trở về Việt Nam của chúng ta. Những người này đáng bị lên án.” (Tuần báo Chánh Đạo số 102 ngày 8/11/1994)

Rất tiếc Ḥa thượng Tâm Châu đă không ở lại trong nước dưới sự cương tỏa của Cộng Sản để “cực lực lên án những kẻ tiếp tay cho Cộng Sản” như nhà sư quật cường Huyền Quang đă tuyên bố. Rất tiếc Ḥa thượng Tâm Châu đă không ở lại trong nước để đi khắp miền quê Nam Việt, đến những làng xóm xa xôi chưa bao giờ nghe được tiếng mơ lời kinh để thuyết pháp cho đồng bào như Ḥa thượng Thanh Từ. Điều đáng lưu ư là càng bị chống đối, Ḥa thượng Thanh Từ càng được Phật tử kính mến ngưỡng mộ.

Tại Houston, đêm ông Vơ Văn Ái, cố vấn chính trị của quư thấy, diễn thuyết chỉ có độ 300 người đến nghe mặc dù quần chúng đă được thông báo, kêu gọi gần mấy tuần lễ trước, th́ hai đêm tiếp theo tại hai ngôi chùa khác các cuộc thuyết pháp của Ngài Thanh Từ thu hút hàng ngàn Phật tử, mặc dù Ḥa thượng bị một nhóm chống Cộng đến chiều hô hào chống đối.(tr.122)

Mấy ngày sau, đến phi trường Los Angeles, Ḥa thượng Thanh Từ cũng được rất đông Phật tử đón mừng mà niềm hân hoan lộ vẻ trên mặt mọi người như lâu ngày đàn con gặp lại cha già. Thế rồi tại Santa Ana, hai đêm liền diễn thuyết cũng thu hút hàng ngàn Phật tử tham dự. Chùa Việt Nam của thầy Pháp Châu rộng lớn như thế mà Phật tử không có đủ chỗ ngồi nghe tràn ra cả ngoài sân.

Sự thành công của Ḥa thượng Thanh Từ cho những kẻ chống Cộng bằng mồm thấy rằng Phật tử không khờ khạo như họ tưởng mà Phật tử có lập trường, có thái độ rơ ràng. Họ biết thầy nào là bậc chân tu trọng vọng, thầy nào là nhạc bất quần. Họ biết chống Cộng rẻ tiền không thể đồng hoá với sự chống Cộng khôn ngoan. Với thái độ ôn ḥa, với tinh thần vừa xây dựng lực lượng hạ tầng cho Phật giáo, vừa giúp chính phủ kiến thiết quốc gia. Ḥa thượng Thanh từ nằm ngay trong ḷng địch mà chống Cộng, đó mới là thứ chống Cộng khôn ngoan, thứ đấu tranh hữu hiệu.

Như đă nói, cuộc đấu tranh của Ḥa thượng Huyền Quang ở trong nước sau cuộc biểu t́nh 24/5/1993, chỉ c̣n như ngọn đèn le lói để rồi coi như hoàn toàn thất bại. Thiếu lănh đạo, thiếu kế hoach, thiếu hậu thuẫn Phật tử, và quần chúng nói chung, lại thiếu cả sự đồng thuận của các vị sư già tên tuổi, để lộ thế yếu kém giúp cho nhà nước thêm thế thượng phong, cuộc đấu tranh càng gây thêm chia rẽ trong hàng ngũ Tăng sư và Phật tử trong nước, cuộc đấu tranh chỉ làm lợi cho Thiên chúa giáo và Tin Lành v.v...Ḥa thượng Huyền Quang mang tâm sự cô đơn, một con chim bị gẫy cánh chỉ c̣n biết mong đợi sự trợ giúp, sự tiếp tay của Phật giáo hải ngoại nữa mà thôi. Nhưng, như tôi đă nói (tr.123) trên kia, Phật giáo hải ngoại cũng không làm ǵ được hơn, hai bậc nhân tài Trần Quang Thuận, Vơ Văn Ái cũng không giúp được ǵ cho quư thầy dù ông Thuận thỉnh thoảng đi Pháp, đi Nga, đi Ấn Độ để hoạt động ǵ đó, dù ông Ái tích cực vận động với các quốc gia Âu Châu v.v... Nhưng các quốc gia ấy vẫn cứ mắt lờ tai điếc, họ chỉ lo đi với chính phủ Hà Nội để giao thương buôn bán, làm giàu...

Ông Vơ Văn Ái với tôi cũng không phải xa lại ǵ. Thời ông mới 18,19 tuổi (vào khoảng 1948, 1949) ông hoạt động cho kháng chiến bị Mật thám Pháp theo dơi suốt đêm ngày, có nhiều lần ông ta đến nhà tôi ở gần Tam Toà để ẩn trốn. Là một Phật tử thuần thành, một người yêu nước chí t́nh, cụ thân sinh ra ông là người yêu nước cực đoan thấy con ḿnh có tài năng, có chí lớn mà lại không có môi trường hoạt động nên đă khuyên ông đi Pháp để hoạt động văn hoá có lợi cho dân tộc hơn. Là người rất thông minh, nhiều sáng kiến, đa tài đa dạng, nên qua Pháp dù trẻ tuổi ông Ái vẫn làm nên đ́nh đám ngay vào thời 1950-1952. Việt nam đă hay, thơ lại xuất sắc, chủ nghĩa đầy bụng, nên dù với hai bàn tay trắng, với thân cô thế cô ông vẫn ra được báo ngay giữa ḷng Paris, nói lên tiếng nói Dân tộc và đă viết nhiều tác phẩm đặc biệt. Từ 1975 ông Ái quả thật là một người nhiều sáng kiến, ông thành lập con tàu Ánh Sáng để vớt người vượt biển, ông dự định mở Đại học Đông Phương ở giữa thủ đô Ba Lê, ông đi kiện chính phủ Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc ở Genève, ông cho in lại sách của Dương Thu Hương và của nhiều nhà văn Cộng Sản chống Hà Nội để phổ biến tư tưởng “phản động” của những người sống trong ḷng chế độ cho đồng bào hải ngoại biết nội bộ chế độ. (tr.124)

Ông coi tôi như bạn vong niên. Trong cuốn Gọi Thầm Giữa Paris ông đă dành cho tôi hai trang sách chan chứa cảm t́nh.

Nhưng khi làm cố vấn chính trị cho quư thầy tranh đấu ở Hải ngoại ông đă không phất nổi cây cờ. Hai vơ khí sắc bén là “Nhân Quyền”“Liên Tôn” nghe nói được ông đề nghị xử dụng lại không được thiết thực cho t́nh thế đấu tranh ngày nay, trước một thế giới lo quyền lợi riêng hơn là chuyện nhân quyền thiên hạ.

“Nhân Quyền”, một thứ danh từ đầy hoa mỹ bao gồm nhiều ư nghĩa nhân đạo, mang sứ mạng cứu giúp người bị đàn áp, nhưng chỉ được các quốc gia dùng để trả giá với nhau trong việc giao dịch, không c̣n là thứ vũ khí dùng để trừng phạt được ai.

Vụ Thiên An Môn năm xưa là một dẫn chứng điển h́nh, vụ nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện đàn áp sinh viên, phật tử là dẫn chứng thứ hai, vụ đàn áp dân Bast-Timor của xứ Nam Dương là dẫn chứng thứ ba, vụ Thiên chúa giáo La Mă Croatia và Thiên chúa giáo Chính Thống Serb tận diệt dân Hồi giáo Bosnia là chứng cớ hùng hồn nhất về vi phạm nhân quyền, vẫn không được quốc tế can thiệp...Nên quốc tế đặt vấn đề nhân quyền làm ǵ với Việt Nam trong lúc các quốc gia có thế lực, các quốc gia trong khối ASEAN đều ve văn Việt Nam. Đă có nhiều người viết về mặt trái của “Nhân Quyền”, ở đây tôi đưa thêm ư kiến của Tiến sĩ Nguyễn Đ́nh Thắng trong tờ tuần báo Người Dân Thầm Lặng với lời lẽ phân tách nghiêm chỉnh và vô tư.

Dưới tiêu mục “Việc nhỏ và việc lớn” ông Nguyễn Đ́nh Thắng viết rằng: (tr.125)

“Tác giả Nguyễn Văn Phổ và Thường Dân viết rằng vấn đề thuyền nhân nay đă cuối mùa, quốc tế đă ngoảnh mặt, có tranh đấu cho họ cũng vô vọng, chi bằng t́m cách giải quyết vấn đề nhân quyền trong nước th́ chuyện thuyền nhân cũng sẽ tự nó tiêu tan đi. Nghe rất hợp lư.

“Tôi muốn đi thêm một bước nữa, quốc tế ủng hộ nhân quyền cũng chỉ đăi bôi, thực ra họ chỉ phục vụ cho quyền lợi của riêng họ mà thôi. Như thế nên giúp nhân loại thành Phật sống hết, tận diệt tham sân si th́ không những chuyện nhân quyền mà tất cả mọi vấn nạn trên thế giới này cũng tiêu tan sạch.”...Khi nhận định rằng v́ quốc tế đă bỏ rơi thuyền nhân th́ có làm cũng chẳng đến đâu nghĩa là đă tự đánh giá thực lực của ḿnh. Với thực lực ấy, nghĩa là không đủ sức để bảo vệ ngay cả số thuyền nhân nhỏ nhoi hiện đă đặt chân đến thềm của thế giới tự do th́ làm sao dám nghĩ đến chuyện tày trời là đem lại nhân quyền cho 70 triệu dân trong ṿng kiểm tỏa của Cộng Sản? Ai chứ tôi th́ tôi phải làm xong bài toán lớp một rồi ra mới dám tính đến chuyện thi lên lớp hai.

“Hơn nữa, nếu tin rằng quốc tế họ lo lắng về t́nh trạng nhân quyền ở Việt Nam th́ quả là chúng ta ngây thơ. Chẳng cần nh́n đâu xa cứ nh́n vào sự kiện Tổng Thống Clinton đă nuốt chửng tất cả các lời hứa hẹn về nhân quyền khi bị Trung Cộng đe dọa đến quyền lợi mậu dịch th́ biết ngay. Chẳng cần nh́n đâu xa, nếu quốc tế thực sự lo lắng về t́nh trạng nhân quyền ở Việt Nam th́ tại sao những nạn nhân của sự vi phạm nhân quyền, có người bị tù đầy hàng chục năm, có người đang bị truy nă, khi đă chạy thoát ra ngoài nay lại bị chính cái quốc tế mến chuộng nhân quyền ấy hăm hở cưỡng bách hồi hương? (Tạp chí “Người Dân Thầm Lặng” số 50 tháng 10/1994) (tr.126)

Thực tế của vấn đề “Nhân Quyền” là như Tiến sĩ Nguyễn Đ́nh Thắng đă viết trên tờ “Người Dân Thầm Lặng” đó.

Quư thầy của Phật giáo và các ông cố vấn chính trị đ̣i quốc tế phải trừng phạt nhà nước việt Nam về vấn đề nhân quyền, nhưng trước hết Việt Nam không nằm trong danh sách các quốc gia vi phạm nhân quyền của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Hai nữa là đối với quốc tế quyền lợi quốc gia họ lớn hơn, quan trọng hơn là vấn đề nhân quyền Việt Nam. Cứ tưởng một vài ông Nghị sĩ của quốc gia này hay vài ông Bộ trưởng quốc gia kia đặt vấn đề nhân quyền tại Việt Nam là đă có thể làm cho chính quyền Hà Nội run sợ mà quên rằng Việt Nam là quốc gia độc lập cí chủ quyền không phải ai cũng có thể thao túng được.

Bắc Hàn không cho phép phái đoàn Liên Hiệp Quốc thanh sát chương tŕnh nguyên tử Bắc Hàn, Liên Hiệp Quốc cũng đành chịu mà Hoa Kỳ cũng phải nhượng bộ th́ sức mấy mà Hà Nội để cho các quốc gia khác đặt vấn đề nhân quyền đối với họ. Một vài trường hợp như nhà văieät nam Phan Nhật Nam, hay vợ chồng nhà văn Nhă Ca th́ họ cho ra đi là yên việc, là giải quyết. Trường hợp thầy Đức Nhuận, họ trả tự do cho thầy là xong. Nay mai sẽ đến trường hợp các ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đ́nh Huy, Mạnh Thát, Trí Siêu v.v...cũng sẽ được họ giải quyết êm xuôi mà không cần đến áp lực của vấn đề nhân quyền.

Rất tiếc quư thầy đă không thấy cái thế mạnh của nhà nước Việt Nam, thế mạnh đến nỗi Hoa Kỳ phải công khai khen ngợi Việt Nam đă “thành thuộc và mau chóng” giải (tr.127) quyết vấn đề tù binh và tiếp theo là “bỏ cấm vận” và soạn sửa đặt văn pḥng liên lạc ngoại giao.

Sau vấn đề Nhân quyền là vấn đề Liên tôn được một số quư thầy, nhất là thầy coi như là chiếc đũa thần giúp Phật giáo Việt Nam tranh đấu mà không biết rằng đó là một thủ đoạn vô cùng tinh vi của Giáo hội Vatican.

Thủ đoạn tinh vi v́ Giáo hội La Mă không đấu tranh như Phật giáo mà c̣n “công nhận” Việt Cộng, “hợp tác” với Việt Cộng. Như bản tin của Người Việt số ra ngày thứ Sáu 25/3/1994, cho biết:

“Đoàn đại diện Vatican (do Thứ trưởng bộ Ngoại Giao Vatican Claudio Celli cầm đầu) đă đồng ư với đoàn đại diện Việt Nam là tất cả mọi vấn đề liên quan đến Giáo hội Công giáo Việt Nam, Toà thánh sẽ thông báo cho chính phủ Việt Nam và có sự thỏa thuận của chính phủ Việt Nam th́ Ṭa thánh mới ra quyết định.”

Phê b́nh bản tin trên, cựu Đại tá Trần Văn Kha trong loạt bài “Nh́n Đức Giáo Hoàng dưới lăng kính thế tục” (sẽ được in thành sách) viết như sau đây:

“Sự thân Việt Cộng của Vatican và một số Giáo Hoàng kể cả Giáo Hoàng đương kim đă có bằng chứng rơ ràng. Như vậy th́ thật là hiển nhiên như 2 với 2 là 4:

“Thân Cộng là thân Đức Giáo Hoàng”

Hay ngược lại cũng vẫn đúng:

“Thân Đức Giáo Hoàng là Thân Cộng”

Không tranh đấu như Phật giáo lại c̣n hợp tác với nhà nước Việt Nam thế mà tháng 11/1992, Giáo Hoàng phát (tr.128) động phong trào “Hợp tác tôn giáo” tổ chức ngay tại Ṭa thánh một cuộc họp quy tụ nhiều chức sắc các tôn giáo phần lớn ở Mỹ. Riêng phái đoàn Phật giáo Thống Nhất tại Hoa Kỳ gồm có 2 Thượng tọa Thích Minh Tuyên và Thích Giác Lượng cùng cư sĩ Phú Toan Cương tham dự.

Kể lại buổi họp Liên tôn tại Bắc Cali ngày 15/10/1994, vị cư sĩ già Lê Hữu Dản cho biết bà Ngọc Tuyết Tiên đại diện Cao Đài Thiên Lư Bửu Tôn nêu lên một vấn đề quan trọng và thực tế nhất. Với giọng nói dịu hiền của một vị chân tu cao niên, bà mếu máo bảo rằng: “Tôi rất đau buồn suốt mấy chục năm qua khi thấy mối t́nh duyên bất thành giữa nhiều đôi trẻ phần lớn do cha mẹ Thiên chúa giáo quá khắt khe đă buộc dâu rể theo các đạo khác phải đi nhà thờ rửa tội, xưng tội, đă có nhiều trường hợp bạn trẻ phải ly dị hay quyên sinh. Sau đó cụ Lê Hữu Dản đă lưu ư Giáo Hoàng: “trên đây là một vấn đề rất quan trọng đáng được Giáo Hoàng quan tâm giải quyết v́ nó vi phạm đến nhân quyền và tự do tín ngưỡng”. (Bán nguyệt san Mekong tỵ nạn, San José số 65 ngày 11/11/1994)

Đó chỉ mới là trường hợp hôn nhân, c̣n rất nhiều trường hợp khác nữa chứng tỏ người Thiên chúa giáo khinh thường đạo ông bà, đạo Phật mà bà cụ chưa nói ra đó thôi. Dù sao th́ thái độ của bà là thái độ của người biết giá trị cái gọi là Liên tôn như thế nào, biết hơn các nhà sư Giác Lượng và Minh Tuyên, những nhà sư đă được đến chầu hầu ở Vatican nên mới ham “Liên tôn” để được đi chầu hầu Vatican lần khác.

Theo tinh thần bài báo của cụ Lê Hữu Dản với những trích dẫn khá đầy đủ th́ v́ Vatican đang gặp quá nhiều khó khăn, đang trên đà xuống dốc khó cứu văn, nên Vatican (tr.129) mượn “Liên tôn” để tỏ ra Thiên chúa giáo có hậu thuẫn của các tôn giáo khác, để một mặt th́ che đậy cuộc suy thoái của ḿnh, mặt khác để trả giá với Hà Nội. V́ mặc dù Vatican đă chịu nhượng bộ chính phủ Việt Nam nhưng Hà Nội vẫn chưa cho Giám mục Nguyễn Văn Thuận về Sài G̣n, vẫn làm khó dễ trong việc Giáo Hoàng xin thăm viếng Việt Nam. Thủ đoạn tinh vi của Vatican là ở chỗ đó, là ở chỗ mượn các tôn giáo khác làm tay sai cho âm mữu chính trị của ḿnh.

Vấn đề c̣n đặt ra là tại sao Phật giáo Thống nhất Hải ngoại lại chịu đứng chung với Thiên chúa giáo, một tôn giáo đă coi Phật giáo là kẻ thù, đă chủ trương triệt hạ văn hoá dân tộc, đă có ông Tổng Thống Thiên chúa giáo đặt Phật giáo ngang hàng với các hiệp hội. Có phải v́ quư thầy hận Hà Nội mà đi với Thiên chúa giáo hay không? Hay là v́ ngớ ngẩn mà bị Cần Lao Công Giáo xúi dục, hoặc đe doạ chụp nón cối mà hành động như vậy?

C̣n nhớ năm 1979, khi Đặng Tiểu B́nh cho Hà Nội một bài học đă có nhiều người chống Cộng rẻ tiền vỗ tay vui mừng. Quư thầy đi với Thiên chúa giáo trong Liên tôn tức là đi với Vatican chống lại dân tộc. Không biết quư thầy đă vứt bỏ cái t́nh tự dân tộc ở chỗ nào rồi?

Phật giáo đang chia ra nhiều mảng, đang công khai bôi bẩn nhục mạ nhau, lại đang bị sách báo Thiên chúa giáo gán cho là thân Cộng, là làm mất nước. Phật giáo không lo hàn gắn lại những vết thương đang rướm máu, các cậu ấm cố vấn chính trị của quư thầy chỉ nghĩ đến ḿnh không lo trả lời những cáo buộc của các ông Nguyễn Văn Chức, Lữ (tr.130) Giang, Phạm Kim Vinh, lại lo đứng với Thiên chúa giáo để “Liên Tôn”.

Tôi thật không ngờ Phật giáo Việt Nam đến thời mạt vận đến như thế. Nội bộ ḿnh không kết hợp nổi lại đi kết hợp với kẻ khác.

May mà c̣n Tiến sĩ khoa học gia Trần Chung Ngọc lên tiếng kêu gọi Phật giáo không nên kết hợp với các nền tôn giáo Tây phương làm nhẹ bớt phần nào cái tủi nhục của nhiều người con Phật, xấu hổ v́ các thầy chạy theo liên tôi với Thiên chúa giáo.

Cư sĩ Trần Chung Ngọc viết rằng:

“...Nhưng Phật giáo không phải chỉ có những tương đồng với khoa học trong bộ môn thiên văn như vừa tŕnh bày ở trên, hay với môn vật lư các hạt nhỏ (particle physics) như đă tŕnh bày trong cuốn The Tao of Physics của Fritjoff capra, mà c̣n nhiều tương đồng khác trong các bộ môn như sinh học (bioscience) vật lư hạt nhân (nuclear physics) triết học khoa học (phylosophy of science) tâm lư học (psychology), phân tâm học hay tâm lư trị liệu (psychotherapy), di truyền học (genetics) v.v...Và nếu khảo sát kỹ th́ trong bộ môn nào tư tưởng Phật giáo cũng đi trước khoa học khá xa. Cũng v́ vậy những bộ óc khai phóng, tiến bộ nhất của nhân loại hiện nay càng ngày càng phải t́m về những chất liệu trong Phật giáo với hy vọng giải quyết những bế tắc trong việc mở mang kiến thức loài người. Ngoài ra cái tinh thần từ bi hỷ xả và bản chất khoan dung của Phật giáo cũng lần lẫn đi vào đầu óc của những con người tiến bộ trong thời đại khoa học.

Để kết luận tôi xin mượn lời của Luận gia Geral Du Pré như sau: (tr.131)

Trong thế kỷ này đă có nhiều công cuộc ḥa hợp tôn giáo trên thế giới với mục đích đáng tán thưởng là t́m ra những điểm chung giữa các tôn giáo và cổ suư tinh thần khoan dung giữa các tôn giáo. Tuy nhiên, điều này không làm cho tôn giáo sống lại, v́ những thứ mà hầu hết những tôn giáo cùng có là ḷng tin, giáo đièu, thánh kinh và các thần tính, tất cả những thứ này làm cho các tôn giáo đó không tương hợp với khoa học. Phật giáo (cùng với Lăo giáo) là một biệt lệ v́ Phật giáo không phải là một tín giáo, không có giáo điều cứng ngắc, không có thần quyền và không chấp nhận hiệu lực của bất cứ ai khác.

Tôi không tin rằng chúng ta nên t́m cách hợp nhất Phật giáo với các tôn giáo khác. Điều này chỉ dẫn đến sự lẫn lộn. chúng ta hăy cố gắng tranh đấu để hợp nhất Phật giáo với khoa học, để tạo nên một tôn giáo khoa học cho thế giới hiện đại. Khoa học Phật giáo sẽ làm tan biến sự hoang mang, bối rối bằng cách làm sáng tỏ và hợp nhất lư thuyết và phương pháp hành tŕ Phật giáo để làm một căn bản giác ngộ vững chắc, hữu hiệu cho người Tây phương. (Phật giáo Hải ngoại, số 3, Los Angeles)

Từ giáo lư đến hành hoạt, từ kinh thánh của Thiên chúa giáo đến kinh điển của nhà Phật, từ cung cách truyền bá của mỗi đạo đến cách xử thế giữa con người, từ việc dùng tâm con người để khuyến thiện của Phật giáo đến thiên đường địa ngục tưởng tượng của Thiên chúa giáo để thưởng phạt tín đồ...thật là cách xa cả một trời một vực, thế mà các nhà sư của đạo Phật lại thích “liên tôn” với tổ chức thủ đoạn hết sức tinh vi của Vatican. Bà sơ già Teresa từng được giải thưởng Ḥa b́nh năm 1979 c̣n bị Christopher (tr.132) Hitchens báo Vanity Fair và Tarik Ali một người Hồi Giáo lên án là đạo đức giả (Los Angeles Times, Fresno Bee, số ra ngày 13/11/1994 trích đăng lại) th́ làm sao các nhà sư Giác Lượng, Minh Tuyên đương đầu nổi với những bộ óc đầy thủ đoạn của Vatican.

Phải viết dài ḍng ra như thế để chứng minh cho quư thầy biết rằng hai thứ vũ khí cuối cùng mà thầy sử dụng để đấu tranh là “Nhân quyền” và “Liên tôn” không c̣n hữu hiệu nữa. Đó là thêm một lư do để tôi than phiền việc quư thầy đấu tranh mà không nắm vững yếu tố bạn thù, yếu tố thời thế. Thất bại là lẽ tất nhiên.

Sự thành công của Ḥa thượng Thanh Từ vô t́nh cũng là lư do làm cho cuộc đấu tranh của quư thầy thất bại, nó đă làm thay đổi tư tưởng của người Phật tử Hải ngoại như tôi đă nói trên kia. cuộc Đại hội của Phật giáo tháng 10/1994 tại Houston mà chỉ được một số báo địa phương nhắc nhở đến cũng là dấu hiệu suy thoái của cuộc đấu tranh.

Sau những thất bại đó, cuộc đấu tranh chỉ c̣n như ngọn đèn le lói, vài cuộc biểu dương đó đây: tự thiêu, biểu t́nh, tuyệt thực v.v...không đủ thắp sáng lại khí thế của đấu tranh mà lại là dấu hiệu của sự gỡ gạc uy tín trong buổi suy tàn mà thôi. (tr.133)

 

* Ghi chú: Công giáo chỉ có trên ba triệu giáo dân gồm có cả giáo dân sống giáo dân chết từ khi các giáo sĩ  gián điệp Tây xâm nhập chui vào Việt Nam, cho đến hiện nay, đều được lưu giữ trong sổ Danh Bộ Rữa Tội tại các nhà thờ, các linh mục chánh xứ rất cần số lượng giáo dân được ông ta rữa tội để hy vọng  thăng chức phát tài, đă được những nhà soạn Bách Khoa Tự Điển Mỹ gom các danh bộ các giáo xứ nhà thờ và đă chứng kiến số lượng giáo dân Công giáo sinh hoạt đi lễ nhà thờ hàng ngày và nhất là vào ngày Chủ Nhật, để biểu dương lực lương chính tri quanh ṿng đai Thành phố Hồ Chí Minh và Miền Nam (South Việt Nam)

Bằng chứng có những Phật tử chết bệnh hay chết bệnh già trong bệnh viện thân nhân chưa vào kịp, th́ một số linh mục túc trực ở đó đă làm phép Ma Rữa Tội, đều thật nực cười. Cố nhạc sĩ Trần Đại Lộc thanh niên đoàn Phật tử, vợ con anh Lộc chưa vào kịp, đă bị hai ông linh mục, đặc hai tên Thánh Ma cho anh ta, nhưng sau đó anh Lộc đă được chon cất theo nghi thức Phật giáo,nhạc sĩ ca sĩ Phật tử Duy Khánh ai cũng biết rất rơ, thế mà cũng dành Rữa tội và tổ chức tang lễ theo hai nghi thức Phật giáo và Công giáo…..

Theo The 1997 Grolia Multimedia Encyclopedia: 

 “…Although the majority of ethnic Vietnamese traditionally considered themselves Buđhist of Confucianist, there are about 3 million Roman Catholics, most of whom now live in the south. Members of two religious sects, the Cao Dai (an amalgam of Eastern and Western traditions) and the Hoa Hao (a radical form of Buddhism), live mainly in the Mekong delta area and number about 1 million each. Like the ethnic minorities, these religious groups have resisted assimilation into the majority culture and even today are under considerable pressure to conform to the government’s socialist ideals.(Trích Dân số giáo dân Công giáo Việt Nam của Lê Nhu)



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend