NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TẢN MẠN VỀ: VIỆT GIAN – VIỆT CỘNG – VIỆT KIỀU: Trần Chung Ngọc


 

 

<> QUỐC KỲ - QUỐC CA 

 

<> QUỐC KỲ VIỆT NAM

 

<> QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA NCHXHCNVN  

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

 

Thị trường chứng khoán lại sụt giảm trước viễn cảnh u ám của kinh tế Hoa Kỳ

 

 

 

Hai ngày sau cuộc họp thượng đỉnh G20 ở Washington, các thị trường chứng khoán thế giới lại sụt giảm, nhất là sau khi ngân hàng Mỹ Citigroup loan báo sẽ cắt giảm 50 ngàn việc làm trong những tháng tới

 

    Thông tin này đă khiến thị trường Wall Street hôm qua sụt mất 2,63% điểm. Tại châu Âu, các thị trường tiếp tục xu hướng sụt giảm . Tính đến trưa hôm nay, Paris bị mất 1,57% điểm, Luân Đôn 1,50% và Francfort 1,39%.

 

    Tại châu Á, sau khi Nhật Bản hôm qua xác nhận là kinh tế đă đi vào suy thoái, thị trường Tokyo hôm nay sụt 2,28% vào giờ đóng cửa. Hồng Kông cũng bị mắt 4,54% điểm.

 

    Theo một nhà phân tích tài chính ở Nhật Bản, mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên các thị trường. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Washington vừa qua, các nước công nghiệp phát triển và các nước đang trổi dậy đă cam kết sẽ phối hợp các chính sách chấn hưng kinh tế và giám sát tốt hơn nền tài chính toàn cầu. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh này lại không đề ra những kế hoạch cụ thể nào, cũng như không lập ra một cơ chế để kiểm soát hoạt động của các thị trường

 

Thanh Phương, RFI, ngày 18/11/08

 

 

  

Kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc càng thêm u ám

 

T́nh h́nh kinh tế ngày càng trở nên tồi tệ tại châu Á. Thị trường chứng khoán Tokyo lại tụt giảm. Hai lĩnh vực ngân hàng và xe hơi của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn. C̣n tại Hàn Quốc, chưa bao giờ số doanh nghiệp bị phá sản lại đạt mức cao như vậy từ 3 năm qua

 

Hôm nay thị trường chứng khoán Tokyo đă đóng cửa với chỉ số Nikkei bị mất đi gần 60 điểm, nghĩa là tụt giảm 0,66%. Các nhà đầu tư tỏ ra dè dặt trước những khó khăn tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp xe hơi.

 

Như vậy là ngân hàng số một của Nhật Bản, Mitsubishi UFJ Financial Group, đă công bố những kết quả trong sáu tháng đầu năm nay c̣n tệ hại hơn là dự trù, mặc dù ngân hàng này đă quyết định tăng số vốn là 990 tỷ yen (tức 8 tỷ eurô). C̣n tập đoàn tài chính số 3 của Nhật, Sumitomo Mitsui financial Group, th́ tụt giảm gần 8% cho dù tập đoàn này cũng có ư định tăng nguồn vốn. Do vậy mà các nhà đầu tư càng tỏ ra bi quan cho cả lĩnh vực ngân hàng.

 

Về phần công nghiệp xe hơi, Toyota, tập đoàn xe hơi số một tại Nhật Bản, thông báo hôm nay là tất cả các nhà máy đặt tại Hoa Kỳ sẽ ngưng sản xuất xe hơi trong hai ngày 22 và 23 tháng 12. Lư do là v́ mức cầu đă sụt giảm trên thị trường Hoa Kỳ. Đầu tháng này Toyota đă cho biết là tính đến tháng mười số xe bán ra tại Mỹ đă giảm đi gần 26% trong một năm.

 

C̣n mức lời của công ty Nissan sẽ là con số không trong quư hai của năm nay v́ mức cầu giảm và v́ đồng yen c̣n quá mạnh. Ông Carlos Ghosn, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Renault và Nissan, đă tuyên bố với nhật báo Mỹ Wall Street Journal rằng năm 2009 sẽ là một trong những năm khó khăn nhất của tập đoàn này.

 

Trong lúc đó, tại Hàn Quốc, có 321 doanh nghiệp bị phá sản trong tháng mười, con số cao nhất từ tháng ba năm 2005. Trong tháng trước đă có 203 công ty bị phá sản tại Hàn Quốc.

 

Thanh Thủy, RFI, 19/11/08

 

 

 

Một Trong Ba Thứ

Trần Chung Ngọc

 

 Chân Dung: Mỹ Con=Thằng Bồi=Con Ở=Việt Gian=Ăn “Phân” Fund NED=CIA

DP-nguyenNgocBich.jpg128BS Nguyễn Quốc Quân

           Nguyễn Ngọc Bích            Vơ Văn Ái         Nguyễn Quốc Quân   Đinh Quang Anh Thái 

 

                 

Lê Xuân Khoa             Nguyễn Gia Kiểng            Đoàn Viết Hoạt            Đỗ Quư Toàn

  

Ỷ Lan 007 “Vợ hai” Vơ VĂn Ái - Đ.Đ Vợ hai con Giác Đức - Đ.Đ Mật Báo Viên Hộ Giác

 

             

“H.T Dê ”Chánh Lạc - H.T "Cổ thư T́nh dụcGiác Đẳng - H.T “CCCĐ” Viên Lư

 

Điểm Mặt Việt gian hạng hai=Thằng bồi=Con ở=Ăn “Phân” NED=CIA

 

  Dr Nguyen Dan Quevu_thu_hien_23206_150

Nguyễn Chí Thiện    Dương Thu Hương     Nguyễn Đan Quế                Vũ Thư Hiên

 

TẢN MẠN VỀ :

VIỆT GIAN – VIỆT CỘNG – VIỆT KIỀU

 

LTS: Trong các diễn đàn e-mail hải ngoại, người ta thường bắt gặp những danh từ "Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều" cho nhiều trường hợp, lắm khi sai lạc, và áp dụng sai đối tượng. Cụm từ "Việt gian" và "Việt Cộng" bị lạm dụng tệ hại nhất. Bài phân tích sau đây sẽ giúp làm sáng tỏ ư nghĩa của các cụm từ trên. Có nhiều người viết câu "Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều, Cả ba thứ đó tiêu điều nước Nam." Nhưng nhiều người không đồng ư như thế, trong đó hẳn có tác giả Trần Chung Ngọc, và cho rằng chỉ có một thứ. Vậy ta sẽ t́m xem "thứ Việt nào" làm cho tiêu điều nước ta.

------------------------

 

Ca Dao Thời Đại Mới:

“ Việt gian, Việt cộng, Việt kiều :

Một trong ba thứ tiêu điều nước Nam

Luận về Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều, chúng ta cần định nghĩa rơ thế nào là Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều.

Việt Gian:

Chắc người Việt chúng ta ai cũng hiểu Việt Gian là những người Việt có những hành động phản bội quốc gia như “vi phạm sự trung thành đối với quốc gia hay chủ quyền quốc gia của ḿnh” (violation of allegiance toward one’s country or sovereign), “làm tay sai cho ngoại quốc và có những hành động phản bội dân tộc, thí dụ như những hành động với ư thức và chủ tâm giúp những kẻ thù của quốc gia” (consciously and purposely acting to aid its ennemies).

Trong bài "Những Kẻ Gian" đăng trên sachhiem.net có định nghĩa Việt gian như sau:

Từ "gian" nếu đi kèm theo tên một quốc gia như Việt gian, Hán gian,... thường có ư nghĩa về tư cách "không trung thành", "chống lại" quyền lợi của quốc gia mà người đó mang quốc tịch.

Lịch sử Việt Nam có ghi nhiều Việt gian. Khi xưa th́ có Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc cơng rắn cắn gà nhà nên bị liệt vào hạng Việt gian.

Trong những cuộc Bắc xâm, chắc chắn cũng có nhiều Việt gian theo Tàu phản bội quốc gia nhưng tên tuổi không rơ v́ thường là thứ dân.

Những khuôn mặt Việt gian th́ rơ ràng hơn nhiều kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta. Sau đây là vài tài liệu về những khuôn mặt Việt gian cận đại và hiện đại.

Trong bài: “Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai Paris và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trong lịch sử mất nước hồi cuối thế kỷ 19”, Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo viết:

Trong công cuộc xâm chiếm và b́nh định Việt Nam, thực dân Pháp đă được giáo hội Công giáo Việt Nam hỗ trợ tích cực mọi mặt. Trong số các tín đồ Việt gian, có những nhân vật rất nổi tiếng sau đây :

1. Tổng Đốc Phương, tức Đỗ hữu Phương, sinh năm 1844 tại Saigon, nguyên chủng sinh tại Penang, thông thạo tiếng Pháp, được Pháp chọn tham gia phái đoàn của Pháp trong cuộc thương lượng với triều đ́nh Huế năm 1868. Sau đó Phương tham gia các cuộc tảo thanh chống Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá. Năm 1872, Phương được Pháp thăng chức tổng đốc Saigon.

2. Trần Bá Lộc, sinh năm 1834 trong một gia đ́nh Công giáo tại Long Xuyên. Lộc xin vào đoàn quân Công giáo do Charner tổ chức chuyên việc lùng quét các nhóm quân kháng chiến. Sau khi tham gia nhiều trận đánh tái chiếm Rạch Giá, Lộc được Pháp phong chức tổng đốc Rạch Giá. Y là tên đại Việt gian được Pháp tín nhiệm trao nhiệm vụ triệt hạ phong trào kháng chiến từ Quảng Nam đến Phan Thiết. Với nhiệm vụ này, Trần Bá Lộc đă giết hại khoảng 25 ngàn người Việt yêu nước.

3. Trần Tử Ca, nguyên là một người bên lương, sinh trưởng tại G̣ Vấp. Lúc đầu y đi theo kháng chiến, nhưng sau đó y theo đạo, rời bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc chống lại Tổ Quốc. Năm 1862, Ca được Pháp bổ làm tri huyện Hóc Môn. Năm 1865, y đi theo quân đội Pháp càn quét các tỉnh miền Tây. Đêm 9-2-1885, Ca bị nghĩa quân giết chết .

4. Huỳnh Công Tấn là một người Công giáo trong hàng ngũ nghĩa quân của Trương Công Định từ 1861. Ngày 20-8-1864, Tấn phản bội, bất thần phục kích giết chết Trương Định tại G̣ Công. Ngày 19-9-1868, Huỳnh Công Tấn cùng với 127 lính tập Công giáo vây bắt Nguyễn Trung Trực tại đảo Phú Quốc. Như vậy, riêng một ḿnh y đă sát hại được hai nhà cách mạng kháng chiến nổi tiếng tại Nam Kỳ. Y được Pháp trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh cho hai chiến công lớn này !

5. Tạ Văn Phụng, tức Phêrô Lê Duy Phụng, nguyên chủng sinh tại Penang, lấy danh nghĩa là con cháu nhà Lê dấy binh khởi nghĩa tại Bắc Kỳ chống triều đ́nh Huế năm 1858. Tạ Văn Phụng nhờ các giáo sĩ liên lạc với chính phủ Pháp để xin giúp đỡ. Napoleon III đồng ư, và cử tên gián điệp Duval sang Việt Nam giúp Phụng với mục đích biến Bắc Kỳ thành một xứ Công giáo với một chính quyền Công giáo. Duval đi Macao mua vũ khí và giúp Phụng thành lập những đoàn quân gồm đa số là giáo dân. Trong các tháng 6 và 7-1863, Phụng khởi quân đánh chiếm một vùng rộng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ gồn 3 tỉnh Quảng Yên, Hải Dương và Nam Định.Triều đ́nh Huế cử Nguyễn Tri Phương đem quân ra Bắc dẹp loạn. Tạ Văn Phụng bị bắt đem về Huế xử tử.

Chúng ta cũng không nên quên là trong “hội thánh Công giáo” ở Việt Nam c̣n có một “đại Việt gian” là Linh Mục Trần Lục, người đă đem 5000 giáo dân và các phương tiện khác hỗ trợ quân xâm lăng Pháp để hạ chiến khu kháng chiến Ba Đ́nh của Đinh Công Tráng. Và sau này, khi thực dân Pháp trở lại Việt Nam để tái lập nền đô hộ trên đất nước Việt Nam, và trong khi toàn dân kháng chiến, th́ ở Bùi Chu và Phát Diệm, hai đại Việt Gian là Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh đă nhận vũ khí của Pháp, lập những khu gọi là “tự trị” dưới quyền Pháp, huy động giáo dân đi săn lùng và giết hại kháng chiến quân để chống Cộng cho Chúa theo lệnh của Giáo Hoàng Pius XII. Người Việt Nam chắc chưa ai quên câu nói ô nhục đă ghi vào sử sách của Linh mục Việt Gian Hoàng Quỳnh: “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”. Chúng ta cũng không nên quên rằng Chúa của Hoàng Quỳnh chỉ là một người thường Do Thái được nền thần học Ki Tô Giáo đôn lên làm Chúa Cứu Thế, chứ thực ra không có ǵ có thể gọi là Chúa Cứu Thế, v́ ông ta đă chết và táng xác cách đây gần 2000 năm. Tuy rằng nền thần học Ki Tô Giáo bịa chuyện là ông ta đă sống lại và bay lên trời, hiện đang ngồi bên tay phải của Thượng đế, nhưng những điều này nay đă không c̣n giá trị trong phần lớn nhân loại v́ những hiểu biết của con người ngày nay về vũ trụ và nguồn gốc loài người. Hơn nữa người ta đă t́m thấy “bộ xương cứu thế” của Chúa trong một tiểu quách ở Jerusalem. Chúng ta thấy chỉ v́ mù quáng tin vào một điều hoang đường của nền thần học Ki Tô Giáo mà một số người Công giáo Việt Nam đă trở thành “Việt gian”, lưu xú vạn niên.

Gần đây, Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đă liệt Tổng Thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm thuộc gia đ́nh “ba đời làm Việt gian” [tam đại Việt gian]. Ông giải thích cụm từ “tam đại Việt gian” như sau: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH63_1c.php :

Ở thế hệ thứ nhất của gia đ́nh ông Diệm - trong lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi cho Toàn Quyền Jean Decoux, Giám-mục Ngô Đ́nh Thục khẳng định rằng thân phụ ông, tức là ông Ngô Đ́nh Khả “đă phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An Nam, và đă nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền của Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đ́nh Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh.” Xin xem lá thư của Giám Mục Ngô Đ́nhThục gửi Ṭan Quyền Decoux ở bài trên.

Để độc giả có đầy đủ tài liệu, tôi xin để vào đây bài dịch lá thư của GM Ngô Đ́nh Thục viết bằng tiếng Pháp.

Bút tích của GM có thể thấy trong: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH63_1b.php

“Ṭa Truyền Giáo Vĩnh Long ngày 21 tháng 8 năm 1944

Vĩnh Long (Nam Kỳ),

Thưa Đô Đốc,

Một linh mục từ bổn Ṭa được phái đi Sàig̣n để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. V́ đă lâu không nhận được tin tức ǵ từ Huế, tôi không biết là điều tôi được báo cáo có đúng sự thực hay không.

Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc là Đô Đốc đă cảm thấy - nếu sự truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô Đốc nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.

Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp th́ - với tư cách của một giám mục, của một người An Nam, và với tư cách là con của một gia đ́nh mà phụ thân đă phục vụ nước Pháp ngay từ khi mới tới An Nam, và đă nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền của Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đ́nh Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy ḷng, không chấp nhận [hoạt động của các em tôi].

Thưa Đô Đốc, tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân của tôi: bởi v́ nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến quyền lợi của đạo [Thiên Chúa], tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Ṭa Giám Mục này ngay.

Lời tuyên bố của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô Đốc thấy rằng ḷng tin tưởng tŕu mến của Đô Đốc [đối với tôi] đă không đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.

Thưa Đô Đốc, tôi chưa bao giờ tiếc là đă xa Huế như thế này. Giá có mặt ở đấy, th́ tôi đă có thể khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy ra, tôi đă có thể chống lại các chủ đích của em tôi, nếu quả thật các em tôi có nghĩ đến những dự định có thể gây hại cho quyền lợi của nước Pháp.

Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại - rằng các em tôi đă phản lại truyền thống của gia đ́nh chúng tôi đến như thế, một gia đ́nh đă tự ḿnh gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.

Ngay chính các em tôi đă từng liên tục đưa mạng sống ra v́ nước Pháp trong cuộc nổi loạn của Cộng Sản. Diệm, người em kế tôi, suưt đă phải ngă gục dưới những phát súng của một Hoa Kiều Chợ Lớn được phái đến Phan Rang với mục đích hại Diệm, Phan Rang là nơi mà Diệm đă mănh liệt chống giữ lối xâm nhập vào An Nam của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ phái đến.

Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn này được chứng tỏ là điều đă gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là tôi đă làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót thương của Đô Đốc hầu xét với hảo ư trường hợp các em tôi. Đô Đốc không phải là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều này khi xét thấy rằng Thân phụ tôi là Ngô Đ́nh Khả đă từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá tŕnh lâu dài của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của ḿnh cho nước Pháp.

Thưa Đố Đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ này, tôi xin Đô Đốc vui ḷng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi.- Kư tên: Ngô Đ́nh Thục.”

Sang thế hệ thứ hai, Ngô Đ́nh Khôi là đứa con đầu ḷng của Ngô Đ́nh Khả cũng làm quan cho liên minh giặc Pháp - Vatican đến chức Tuần Vũ Quảng Ngăi vào năm 1926, Tổng Đốc Quảng Nam vào năm 1930, và từ năm 1933 được thăng lên chức Kinh Lược các tỉnh miền Nam Trung Kỳ.

Riêng bản thân Ngô Đ́nh Diệm được quan thày Pháp – Vatican cho nắm giữ chức tri huyện huyện Hải Lăng vào năm 1922. Năm 1928, ông được thăng lên chức Tuần Vũ B́nh Thuận, và năm 1933, ông được thăng lên chức Lại Bộ Thượng Thư tại triều đ́nh bù nh́n Huế.

Thế hệ thứ ba c̣n có Ngô Đ́nh Huân, con trai của Ngô Đ́nh Khôi làm mật vụ đắc lực cho giặc Nhật và được cho làm bí thư cho Đại Sứ Nhật Yokoyama tại Huế.[ii]

Một sự kiện cần phải biết là lịch sử đă khẳng định rằng (1) Liên Minh Pháp – Vatican là một thế lực xâm lăng cưỡng chiếm nước ta làm thuộc địa, và (2) nhân dân ta đă liên tục nổi lên tổ chức những lực lượng nghĩa quân để đánh đuổi liên minh giặc xâm lăng này từ năm 1858 cho đến năm 1954. Như vậy, những người Việt Nam làm tay sai hay làm quan phục vụ cho chính sách xâm lăng của ngoại nhân đều bị lên án là phản quốc và gọi là Việt gian.

Hoàng Gia Mô làm tri huyện Vĩnh Bảo (Hải Dương)bị Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới quyền lănh đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học lên án là phản quốc và gọi là Việt gian. Tên Việt gian này và bị xử tử vào đêm ngày 15/2/1930.

Không phải chỉ có một ḿnh Hoàng Gia-Mô mới bị lên án là phản quốc và gọi là Việt gian, mà tất cả những người làm quan hay làm việc đắc lực cho giặc như Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đ́nh Khả. Linh-mục Trần Lục, Hoàng Cao Khải, Lê Phát Đạt, Đỗ Hữu Phương, Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn, Petrus Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bá Ṭng, Nguyễn Hữu Bài, Cung Đ́nh Vận, Vi Văn Định, v.v… đều bị người Việt Nam và lịch sử lên án là phản quốc và gọi là Việt gian.

Nh́n vào thành tích làm tay sai cho liên minh giặc xâm lăng Pháp – Vatican và giặc Nhật của ông Ngô Đ́nh Khả, các con của ông Khả là Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Diệm, và người cháu của ông ta là Ngô Đ́nh Huân, chúng ta có thể khẳng định rằng gia đ́nh họ Ngô Đ́nh có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho quân cướp ngoại thù. Cho dù các văn nô và gia nô dưới trướng trong thời đại của ông có tôn kính ông Diệm với bao nhiêu mỹ từ đi nữa, với những thành tích lưu xú vạn niên kể trên, ông Diệm cần phải được nhắc đến với đại danh từ "tên" hay "thằng." Cho nên, đối với lịch sử dân tộc, Ngô Đ́nh Diệm phải chịu mang tiếng là thằng “tam đại Việt gian”.

Bộ mặt Việt Gian của Công giáo thể hiện rơ rệt trong vài vụ việc gần đây ở Việt Nam.

Thứ nhất là vụ TGM Ngô Quang Kiệt huy động giáo dân ngu muội đi đ̣i đất Ṭa Khâm Sứ cướp được của Phật Giáo khi xưa, với búa, ḱm, xà beng và làm ngăn trở giao thông công cộng, gây ồn ào phiền nhiễu cho các đồng bào quanh vùng, và cắm đại cây thập ác cùng dựng tượng một người đàn bà Do Thái ở những nơi không được phép.

Thứ nh́ là ông TGM Ngô Quang Kiệt tuyên bố một câu xanh rờn có tính cách xúc phạm đến cả dân tộc Việt Nam: “Cảm thấy nhục nhă khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam

Thứ ba là vụ làm loạn ở giáo xứ Thái Hà. Theo văn thư của Ủy Ban Nhân Dân TP Hà Nội gửi Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Giám Tỉnh Ḍng Chúa Cứu Thế th́:

Một số giáo sĩ tại nhà thờ Thái Hà không những không ư thức được trách nhiệm công dân, không làm tốt chức phận của ḿnh, mà c̣n có những lời nói, việc làm cổ súy, khuyến khích các hành vi vi phạm pháp luật…

Do đó Ủy Ban Nhân Dân TP Hà Nội yêu cầu Giáo hội điều chuyển một số giáo sĩ ra khỏi địa phận Hà Nội [Thật là vớ vẩn, vi phạm luật pháp th́ bắt phạt và giáo huấn, chứ sao lại thuyên chuyển đi nơi khác đề tiếp tục vi phạm luật pháp ở nơi khác hay sao, giống như các linh mục loạn dâm ở Mỹ, vi phạm ở địa phương này, th́ “bề trên” lại thuyên chuyển tới địa phương khác để tiếp tục loạn dâm. Giáo sĩ hay bất cứ ai, ở chức vụ nào, cũng đếu là công dân nước Việt. Nhà Nước có bổn phận phải trừng phạt, giáo huấn những hạng người vi phạm luật pháp này, không thể đối xử đặc biệt v́ họ theo đạo Công giáo]

Trước yêu cầu khoan nhượng và hợp lư của Ủy Ban Nhân Dân TP Hà Nội, chúng ta hăy đọc một đoạn trong thư trả lời của Ḍng Chúa Cứu Thế [Gọi vậy cho vui chứ chẳng có Chúa nào gọi là Chúa Cứu Thế cả, những nghiên cứu của giới học giả Âu Mỹ trong ṿng 200 năm nay đă đưa đến một điểm đồng thuận: Giê-su chẳng khác nào là một người thường sống với một hoang tưởng, và giới thức giả đă dạy điều này cho các linh mục, mục sư biết, nhưng v́ quyền lợi thế tục nên đám linh mục, mục sư này không dám dạy điều đó cho con chiên, và vẫn tiếp tục giữ họ trong bóng tối của tù ngục tâm linh (Xin đọc Gospel Truth của Russell Shorto)]:

Chúng tôi thấy rằng xét theo Giáo Luật của Hội Thánh Công Giáo, Hiến Pháp và Quy Luật của Ḍng Chúa Cứu Thế, đồng thời cũng xét về phương diện mục vụ, các linh mục….không vi phạm điều ǵ để phải bị “phê phán và giáo dục” và bị “điều chuyển khỏi địa phận thành phố Hà Nội”.

Tại sao Ḍng Chúa Cứu Thế lại có thể viết một cách ngu xuẩn trịch thượng như vậy. Giáo luật và hiến pháp hay ǵ ǵ nữa của Công giáo th́ chỉ có giá trị trong Công giáo và không ai, nhất là Nhà Nước Việt Nam, phải tôn trọng những giáo luật và hiến pháp của một tổ chức tôn giáo thiểu số trên thế giới, nhất là khi tôn giáo đó đă mang tội việt gian phản quốc như lịch sử đă ghi rơ. Như vậy là giáo luật Công giáo đứng trên luật pháp của Nhà Nước hay sao. Đúng là cái truyền thống “Việt Gian” mới có thể viết lên những câu coi thường phản bội quốc gia như vậy. Mở mắt ra mà coi ở Mỹ xem có bao nhiêu ông Linh mục đi tù v́ tội loạn dâm với con trẻ và nữ tín đồ. Nếu theo Giáo luật của Công giáo th́ chỉ có Ṭa Thánh mới có quyền xử đoán các Linh mục trong giáo hội Công giáo.

Một sự hiểu biết thấp kém khác của mấy ông giám mục, linh mục ở Việt Nam là tuyên bố bậy bạ, sẵn sàng đi tù thay cho những ai bị bắt đi tù. Tại sao mấy “Chúa thứ hai” ở Việt Nam lại đần đến độ không hiểu được là trong những xă hội tân tiến ngày nay, tội của ai th́ người ấy phải chịu, chứ không ai có thể chịu tội thay cho người khác. Vấn đề gánh tội thay cho người khác là cái lư thuyết thần học chuộc tội ngu xuẩn trong thời bán khai của dân du mục Do Thái trong thời đồ đồng bán khai, chứ đối với các xă hội tân tiến ngày nay th́ ai làm tội người ấy chịu, chứ không ai được phép chịu tội thay thế cho người có tội, khoan kể là cái gọi là “tội tổ tông” đó đă bị thế giới ngày nay, kể cả những bậc lănh đạo trong Công Giáo, từ Giáo hoàng trở xuống, vứt bỏ đi rồi. Tuy nhiên ở Việt Nam th́ mấy ông Giám Mục, Linh Mục ngày nay mà vẫn ngu ngơ đ̣i đi tù thay cho các giáo dân bị bắt. Luật Pháp nào cho phép các ông “hi sinh” như vậy. Tôi cho rằng không phải là các ông không biết vậy, nhưng nói cho ra vẻ “bề trên” hi sinh cho con chiên, chứ biết rơ rằng không bao giờ có thể thực hiện được lời ḿnh nói. Nhà Nước đâu có ngu mà để cho các ông đi tù thay, để các ông lại rêu rao là Nhà Nước đàn áp tôn giáo, bắt người vô tội.

Tôi đề nghị với Nhà Nước Việt Nam hăy viết thư thẳng cho Giáo hoàng Benedict XVI, bảo ông ta phải dạy dỗ đàn con chiên ngu muội của ông ta ở Việt Nam phải hành xử làm sao cho xứng đáng là một công dân của một quốc gia độc lập Việt Nam, chứ không thể dựa thế Vatican để làm càn, vi phạm luật pháp của Việt Nam. Việc phải làm th́ cứ làm, chứ c̣n ông ấy có nghe theo hay không th́ là chuyện của ông đó. Cần phải ư thức được rằng, Vatican bây giờ chỉ là con cọp giấy, v́ những thanh gươm và bó củi đă tước ra khỏi những bàn tay đẫm máu của Giáo hội. Ngày nay, giáo hoàng có nói ǵ th́ chỉ có đám con chiên ngu ngơ ngốc nghếch nghe theo và ca tụng, chứ những con chiên có đầu óc ở Âu Mỹ th́ chẳng coi những lời phán của ông ta ra cái ǵ, nhiều khi c̣n lên tiếng thẳng thắn phê b́nh chống đối. Chính Giáo hoàng Benedict XVI đă nhiều lần thú nhận là Công giáo ở Âu Châu suy thoái không cơ cứu văn, Âu Châu sống như là không có Thiên Chúa mà cũng chẳng màng đến cái gọi là “ơn cứu rỗi” của Giê-su. Nhà Nước phải dạy cho giáo dân biết rơ về tôn giáo của họ, dạy họ bớt cuồng tín, và trở lại làm người theo đúng nghĩa là một con người, con người Việt Nam. Người Công giáo, nhất là Công giáo Việt Nam, chỉ sợ sự thật, và t́m mọi cách kể cả đút lót, mua chuộc để che dấu sự thật. Tất cả những sự thật trong giáo hội mẹ, như Giáo hoàng John Paul II khuyên răn các con chiên phải ăn năn thống hối trước một thiên niên kỷ mới, hay sự kiện giáo hội xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội với thế giới, hay Giáo hoàng tuyên bố công nhận thuyết Tiến Hóa, không làm ǵ có thiên đường trên các từng mây cũng như không làm ǵ có hỏa ngục dưới ḷng đất, vụ trên 5000 linh mục can tội loạn dâm, và vụ các linh mục đă cưỡng bách t́nh dục các “sơ” trên 23 quốc gia v..v.., các giáo dân Việt Nam đều bị bưng bít, rất ít người biết. Do đó Nhà Nước có bổn phận phải giáo dục giáo dân để họ biết về những sự thật trong tôn giáo của họ. Người Công giáo Việt Nam có vẻ như không đủ trí tuệ để hiểu rằng, họ càng có những hành động vô lối, coi thường quốc gia bao nhiêu th́ càng để lộ tŕnh độ hiểu biết thấp kém và bộ mặt “Việt gian” của họ bấy nhiêu. Với những sự thật về Công giáo càng ngày càng được phơi bày, và trước những hành động phi pháp của Công giáo có hại cho dân tộc, ngày nay người dân không c̣n e dè nể nang nữa, tôi hi vọng người dân Việt Nam sẽ ư thức được cái hiểm họa của Công giáo và phải lên tiếng giáo dục họ nếu họ không chịu thay đổi tư duy để đồng hành với đại bộ phận dân tộc.

Nay chúng ta đă hiểu tại sao Charlie Nguyễn, một tín đồ đạo gốc Công Giáo, sau khi tỉnh ngộ đă viết lên những sự thực về bản chất phi dân tộc của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam như sau:

Hội đồng Giám mục hiện nay gồm các hồng y, tổng giám mục và giám mục do Vatican tuyển chọn kỹ càng. Hội đồng này là cơ quan lănh đạo đầu năo của giáo hội Công giáo VN, đồng thời cũng là ban tham mưu tối cao của đạo quân thứ năm nằm vùng trong nước, luôn luôn sẵn sàng tuân hành mọi chỉ thị phát ra từ Vatican.

Muốn vô hiệu hóa cái ṿi xâm lược của con Bạch tuộc vatican, việc cần thiết phải thực hiện là giải tán Hội đồng Giám mục VN… Giải tán Hội đồng Giám mục là bước đầu tiên phải có trước khi tiến tới việc thành lập Giáo hội Công giáo VN tự trị. Nói cách khác, Giáo hội Công giáo Việt Nam tự trị sẽ trở nên vô nghĩa khi Hội đồng Giám mục do Vatican lập nên vẫn c̣n tồn tại và vẫn tiếp tục lănh đạo giáo hội. Giải tán Hội đồng Giám mục chính là một hành động thực tiễn phá bỏ cái mắt xích trọng yếu trong guồng máy xâm lược của Vatican để bảo tồn sinh mạng dân tộc Việt Nam.

Giáo hội Công giáo VN từ xưa đến nay chưa bao giờ từ bỏ truyền thống phản quốc cố hữu của họ. Đúng như hai tác giả Nhật Nam và Hồng Hà LTV nhận xét trong các bài tham luận nói trên : “Bảy triệu tín đồ Công giáo là một loại ung thư cực kỳ nguy hiểm trên cơ thể quốc gia, do đó cần phải t́m cách cô lập chặt chẽ để giới hạn tối đa sức bành trướng của nó”. Đúng vậy, nếu không có phương cách ngăn chận sự bành trướng của căn bệnh ung thư Công giáo và Tin lành th́ căn bệnh nguy hiểm này có thể gây tử vong cho Tổ quốc Việt Nam.

Cần đặt nặng vấn đề giáo dục để cải hóa 7 triệu tín đồ Công giáo VN nhằm giúp họ phản tỉnh trở về với dân tộc.

Người Công giáo không thể cùng một lúc vừa trung thành với Vatican vừa trung thành với Tổ quốc. Bất cứ một tín đồ nào trung thành với Vatican đều đương nhiên trở thành kẻ phản quốc. Đây là một sự thật hiển nhiên có thể được kiểm chứng dễ dàng bằng lịch sử thế giới và bằng lịch sử Việt Nam.

Ở trong nước th́ như vậy, ở hải ngoại th́ sao? Theo định nghĩa về Việt gian ở trên th́ ở hải ngoại chúng ta cũng không thiếu ǵ Việt gian. Đọc trên những trang nhà như dongduongthoibao.net hay nhandanvietnam.org chúng ta thấy cả một danh sách và chân dung một số Việt gian nổi tiếng, có hạng nhất và có hạng hai. Đứng đầu hạng nhất th́ không ai có thể qua mặt vị thế vững vàng như bốn chân của Vơ Văn Ái, con nội trùng của Phật Giáo Việt Nam, và của đồng chủ tịch hạng nhất Nguyễn Gia Kiểng. Các khuôn mặt Việt gian cũng không thiếu trên các diễn đàn Tiếng Nói Giáo Dân hay VietCatholic. Tuy nhiên, những hạng người này không đáng để chúng ta phải quan tâm v́ tư cách và khả năng của chúng không có ǵ. Đọc Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Anh Tuấn, Chu Tất Tiến, Đinh Xuân Minh v..v.. chúng ta thấy rơ như vậy.

Nguồn:

http://nhandanvietnam.org/view.php?storyid=280

http://www.dongduongthoibao.net/view.php?storyid=231

Việt Cộng:

Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Viet_Cong th́ từ Việt Cộng xuất hiện lần đầu tiên trong báo chí ở Saigon năm 1956 để chỉ những người trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Người Mỹ dùng từ Việt Cộng bắt đầu từ năm 1957. Lính Mỹ gọi những người trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là “Victor Charlie” hay VC. Do đó, dùng danh từ Việt Cộng để chỉ tất cả những người Cộng sản là sai, nhưng danh từ này đă bị lạm dụng tràn ngập ở hải ngoại.

Từ đâu mà có Việt Cộng. Tài liệu Ngũ Giác Đài đă viết rơ. Chúng ta có thể đọc trong The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960" (Boston: Beacon Press, 1971), Mục G. THE VIET CONG; 1. Diem and Communists, vài đoạn như sau:

Ngô Đ́nh Diệm nắm quyền trong một quốc gia mà dù tất cả những hứa hẹn trên đầu môi chót lưỡi là cho tự do cá nhân và theo kiểu chính phủ Mỹ, vẫn chỉ là một chế độ độc đảng, một tập đoàn đầu sỏ chính trị gia đ́nh trị trong đó không có sự thực thi dân chủ cũng như những điều kiện tiên quyết để cho dân chủ. Ngày 11 tháng 1, 1956, trong sắc lệnh CPVN số 6, Tổng thống Diệm ban bố những biện pháp rộng răi của chính phủ nhằm “bảo vệ quốc gia và trật tự công cộng”, gồm quyền bắt giam “những cá nhân bị coi là nguy hiểm cho quốc gia” hoặc cho “quốc pḥng và an ninh chung” trong những trung tâm cải tạo. Một tháng sau ngày Hiệp Định Geneva quy định toàn dân bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vào ngày 21 tháng 8, 1956, chính phủ VN tuyên bố sắc lệnh số 47, định nghĩa sự vi phạm luật có thể bị xử tử h́nh bất cứ hành động nào của ai hỗ trợ cho bất cứ tổ chức nào bị chỉ định là Cộng sản. Hơn nữa, chính phủ VN bắt buộc phải dùng bạo lực để củng cố quyền lực trong vùng thôn quê.

Một bài trong tờ Foreign Affairs vào tháng 1, 1957, một phân tích gia Mỹ đă viết rơ như sau:

Nam Việt Nam nay là một quốc gia-cảnh sát tùy tiện bắt giữ và cầm tù, kiểm duyệt báo chí chặt chẽ và không có một lực lượng chống đối chính trị hữu hiệu… Tất cả những kỹ thuật về chiến tranh chính trị và tâm lư cũng như là các chiến dịch b́nh định bởi những cuộc hành quân quân sự rộng lớn là dùng để chống những đối lập ngầm.

[Ngo Dinh Diem presided over a state which, for all the lip service it paid to individual freedom and American style government, remained a one party, highly centralized familial oligarchy in which neither operating democracy, nor the prerequisites for such existed. On 11 January, 1956, in GVN Ordinance Number 6, President Diem decreed broad governmental measures providing for "the defense of the state and public order," including authority to detain "individuals considered a danger to the state" or to "national defense and common security" at re-education centers. One month after the date of the scheduled Geneva plebescite, on 21 August 1956, the Government of Vietnam proclaimed Ordinance Number 47, which defined as a breach of law punishable by death any deed performed in or for any organization designated as "Communist." Moreover, the GVN was forced to use violence to establish itself in its own rural areas.

In an article published in the January, 1957, Foreign Affairs, an American analyst stated that:

South Viet Nam is today a quasi-police state characterized by arbitrary arrests and imprisonment, strict censorship of the press and the absence of an effective political opposition. . . . All the techniques of political and psychological warfare, as well as pacification campaigns involving extensive military operations have been brought to bear against the underground.]

Chúng ta đă biết, những sắc lệnh trên của chính phủ Diệm đă hợp pháp hóa chính sách tố Cộng bừa băi của Diệm và nằm trong mưu đồ Công giáo hóa miền Nam với kết quả là trên 300000 (300 ngàn) người dân Việt đă bị giết hại, vừa để chiếm hữu tài sản, vừa để cưỡng ép vào đạo v..v.. mà phần lớn những nạn nhân không phải là “Việt Cộng”. Cái mũ “Cộng sản” đă được Ngô Đ́nh Cẩn ở miền Trung chụp lên đầu những thương gia có máu mặt ở Huế để cướp tài sản của họ. Với những tài liệu như trên mà ngày nay những người Công giáo vẫn ra công lên án là ở Việt Nam hiện nay không có tự do, không có nhân quyền, không có tự do tôn giáo.. Trong thời Diệm, không có một ông Linh mục hay một trí thức Công giáo nào lên tiếng đ̣i đa nguyên đa đảng, tự do báo chí hay “quyền làm người ở Nam Việt Nam”. Quan niệm về tự do, dân chủ, nhân quyền của những người Công Giáo Việt Nam từ xưa tới nay là “tự do, dân chủ, nhân quyền của những con chiên nô lệ Vatican, gói ghém trong giáo lư “hăy tuyệt đối tuân theo “đức vâng lời””, hăy “quên ḿnh trong vâng phục”. Đó là thứ tự do, dân chủ, nhân quyền mà họ muốn tranh đấu cho toàn thể dân tộc Việt Nam.

Đọc một số diễn đàn thông tin điện tử thuộc thế lực đen ở ngoại quốc chúng ta thấy họ, phần lớn thuộc truyền thống của tập đoàn Việt gian, vẫn ồn ào lên tiếng cả vú lấp miệng em, dùng một từ rất ngu xuẩn là “Việt gian Cộng sản”. Phải chăng như vậy là để che đậy cái bản chất “Việt gian” của chính ḿnh. Bất kể Cộng sản là cái ǵ khác nhưng không thể dùng hai chữ “Việt gian” để gán cho Cộng sản được. Trong khi các thế lực làm tay sai cho ngoại quốc có không ít th́ nhiều sắc thái của Việt gian th́ “Cộng sản” nói chung, “Việt cộng” nói riêng, đă có công vận động toàn dân đứng lên chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và hoàn thành sự thống nhất cho toàn lănh thổ, thực hiện hoài băo của bao nhiêu người yêu nước lớp trước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học v..v... Đó là những ǵ Cộng sản đă làm cho đất nước bất kể ngày nay Cộng sản đă biến chất như thế nào. Mặt khác, hăy mở mắt ra nh́n đất nước hồi trước và ngay sau 1975 và so với đất nước ngày nay để thấy như thế nào. Chúng ta ở phía Quốc-Gia có quyền không hài ḷng với kết quả của cuộc chiến và có quyền không đồng ư với một số biện pháp chính trị, xă hội của Cộng sản trong thời hậu chiến, nhưng chúng ta không thể bảo họ là “Việt gian”.

Có điều lạ là, theo như báo chí và trên các diễn đàn thông tin điện tử ở hải ngoại th́, “Việt Cộng” có mặt khắp nơi và nhiều vô số kể ở hải ngoại. Trừ những người Công giáo nô lệ Vatican không phải là quốc doanh ra, th́ hầu như ai cũng là Việt Cộng cả. Có người [phluu21@yahoo.com] đă lập danh sách những “Tên VC đặc công tuyên vận” [sic] gồm ngót nghét 70 người có tên tuổi thuộc các thành phần trí thức như bác sĩ, giáo sư đại học, nhà văn v…v… Ông Tú Gàn, alias Lữ Giang, alias Nguyễn Cần, người Công giáo, không thỏa măn với danh sách trên, nhưng cũng ngu như nhiều người Công giáo khác, vẫn dùng cụm từ “Việt Gian Cộng sản” để gọi những người mà ông ta cho là… “Việt gian Cộng sản” trong bài “C̣n Thiếu Nhiều”. Ông ta cho thêm vào danh sách trên một lô những tên tuổi khác, toàn là những tai to mặt lớn trong cộng đồng người Việt di cư, nhưng ông quên mất chính ông, v́ đă có người lên án ông ta là Việt Cộng.. Có điều lạ nữa là tại sao họ lại bỏ sót tên Trần Chung Ngọc, có lẽ họ biết rơ rằng ai sợ th́ sợ chứ tôi chẳng bao giờ coi cái mũ “Việt gian cộng sản” là cái ǵ, chẳng qua chỉ là cái mũ của những kẻ vô tŕnh độ, ngu xuẩn và thiếu học vấn, cho nên chỉ đáng mặt làm nghề buôn nón cối chứ không thể len vào giới trí thức. Bao nhiêu bài viết của tôi, viết cả về “Cụ Hồ” và “Cụ Diệm”, và khá nhiều về Công giáo, nhưng có ai lên tiếng phản bác ǵ đâu. Làm sao mà phản bác được những bài thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu. Cho nên nhiều nhất là chụp đại lên đầu tôi vài cái mũ. Nhưng đối với tôi, v́ ở xứ lạnh, mấy hôm trước nhiệt độ xuống dưới 0 độ F, với Wind chill là –30o F, nên càng có nhiều mũ đội càng ấm.

Có thể nói, như là một “tiêu chuẩn trí thức” [sic] ở hải ngoại là: “Tôi không đồng ư với anh, hoặc anh nổi tiếng hơn tôi, hoặc anh kiếm nhiều tiền hơn tôi, hoặc báo của anh bán chạy hơn báo của tôi v..v.., th́ tất nhiên anh phải là “Việt Cộng”” Nhưng những người dùng cái tiêu chuẩn chụp mũ này đần đến độ không hiểu rằng, cái mũ “Việt Cộng” ngày nay chẳng có giá trị ǵ, nó chỉ chứng tỏ những người dùng nó đều ngu xuẩn và thiếu học vấn, theo như tờ OCRegister trước đây [stupid and uneducated]. Biết rằng nó không c̣n giá trị mà vẫn dùng th́ đúng là ngu xuẩn và thiếu học vấn. Sau đây chúng ta sẽ sang vấn đề Việt Kiều xem họ nghĩ sao về Việt Cộng.

Việt kiều:

Việt Kiều là người Việt định cư ở nước ngoài. Người Việt nào sống ở nước nào th́ thường mang quốc tịch của nước đó. Cho nên trên thực tế Việt Kiều là những người gốc Việt mang quốc tịch Mỹ, Pháp, Úc v..v.. Những người Việt xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, ngắn hạn hay dài hạn, không được kể là Việt Kiều. Có khoảng trên dưới 2.5 triệu người Việt sống ở nước ngoài. Cộng đồng Việt Kiều rất phức tạp, có đủ mọi loại, mọi thành phần như một tiểu quốc: bác sĩ, nha sĩ [một số gian lận để lấy tiền của chính phủ], kỹ sư, luật sư, nhà khoa học [có người làm bom áp nhiệt để giết người], nhà giáo dục, ăn trộm, ăn cướp, giết người, buôn lậuv..v… Nhưng đặc tính của một số Việt Kiều chống Cộng năng nổ nhất mà phần lớn là người Công giáo là giống như những con ḅ mộng Tây Ban Nha, chỉ nh́n thấy màu đỏ là húc càn, bất kể lư lẽ, bất kể sự thực. Một đặc tính khác của nhóm người này là, theo Lữ Giang:

Gần như ngày nào trên các diễn đàn Internet và website của "người Việt chống cộng" cũng có bài tố cáo người này người kia hay nhóm nọ nhóm kia là đặc công cộng sản nằm vùng. Tiêu chuẩn để phân biệt "địch" và "ta" được rập khuôn: "Nói hay làm theo ta là quốc gia, nói hay làm trái lại là cộng sản nằm vùng".

Tương đối, giới trẻ Việt Kiều trong nhiều gia đ́nh, không phải là tất cả, rất thành công ở nước ngoài, thành công trong mọi lănh vực, nhất là về giáo dục. Lớp trẻ này đa số không quan tâm đến vấn đề thù nghịch giữa quốc gia và cộng sản, v́ thực ra họ không có những kinh nghiệm bản thân và không biết ǵ về quốc gia hay cộng sản. Tuy nhiên, có một thiểu số được cha ông truyền lại mối thù hận một chiều của lớp trước, cho nên họ cũng tham gia những hành động chống Cộng một cách không cần dùng mấy đến đầu óc. Điều này chúng ta có thể thấy rơ trong một bài viết trên http://www.lyhuong.net/web/modules/edito/content.php?id=22 của Trần B́nh. Sau đây là vài đoạn trong đó. Chúng ta nên để ư là những nhận xét của tác giả là về những thành phần chống Cộng năng nổ mà phần lớn thuộc thế lực đen và già nua chứ không phải là về tập thể người Việt hải ngoại nói chung.

Gửi các bạn ở hải ngoại: Các bạn chửi Cộng Sản 32 năm nay chưa thỏa ḷng sao? Đă hơn 32 năm, các bạn cứ tiếp tục chửi bới, và chế độ hà khắc ở VN vẫn tiếp tục tồn tại…

Như vậy, rơ ràng là thất bại không phải là do "địch" mạnh, mà do "ta" yếu. Nói rơ hơn, dân trí Việt Kiều, nhất là trong số những người hay về VN, quá yếu kém nên đă không thể thúc đẩy một phong trào dân chủ toàn dân ở trong nước.

Một sự thật đáng buồn: ngoại trừ một số ít trí thức hiếm hoi (tỉ lệ cao hơn ở các nước Châu Âu) [không hẳn vậy. TCN] có thể viết lách, lư luận và c̣n chút ưu tư đất nước, c̣n lại đa số Việt Kiều [chống Cộng. TCN] mặc dù đă tiếp cận với nền văn minh dân chủ Phương Tây đă lâu nhưng đă chẳng học hỏi được ǵ, bởi đa số họ vốn xuất thân từ một lối sống èo uột nửa Tây nửa phong kiến, khi ra được nước ngoài (dù là vượt biên, HO, con lai hay diện ODP) đều chỉ biết có một mục tiêu duy nhất là đồng tiền chứ không biết trau dồi tri thức (lười đọc sách, chỉ nghe nhạc hoặc xem Video)…

Họ sợ lớp trẻ quên tiếng Việt nhưng lại không biết lo rằng coi chừng tiếng Anh của chúng chưa đủ để tiếp cận tinh hoa văn hóa của phương Tây. [Điều này tác giả nhận định sai v́ lớp trẻ không có vấn đề với tiếng Anh và tiếp cận tinh hoa văn hóa Tây phương rất mau, dù rằng có nhiều trường hợp chỉ tiếp cận những rác rưởi trong nền văn hóa đó, mà chỉ có vấn đề với tiếng Việt. Do đó mối lo ngại lớp trẻ quên tiếng Việt là chính đáng. Đây cũng là điều khác giữa người Việt và người Trung Quốc. Trẻ con trong các gia đ́nh Trung Quốc đều bắt buộc phải học tiếng Trung Quốc và sinh hoạt văn hóa Trung Quốc những ngày chủ nhật. TCN] Họ c̣n thích nghe những bản nhạc than khóc năo nùng èo uột muôn thưở kiểu Việt Nam vốn có khả năng làm con người mềm yếu, mất tính chiến đấu (kiểu băng nhạc TN Paris) mà trước năm 1975 đă góp phần vào sự bại trận của miền Nam. [Điều này chỉ đúng với lớp người đă lớn tuổi. Tôi là một biệt lệ v́ chưa bao giờ bỏ tiền ra mua băng nhạc Thúy Nga hay tham dự những buổi văn nghệ của cộng đồng. TCN]

Ngoại ngữ kém cỏi (tiếng Mỹ, Pháp...) cũng là một đặc điểm nữa của cộng đồng [người lớn] Việt Kiều. Không phải là điều đáng ngạc nhiên khi dư luận Mỹ (và ở các quốc gia Châu Âu khác) cho tới giờ này vẫn biết rất ít về công cuộc đấu tranh dân chủ của người Việt hải ngoại. Bởi v́ trong đa số VK, khả năng viết, nói và đọc ngoại ngữ rất kém, cho nên không thể trao đổi tư tưởng hoặc truyền đạt thông điệp của ḿnh cho người bản xứ.

Có một sự việc đáng buồn nhưng ít ai biết từ mấy chục năm qua, đến gần đây mới lộ ra. Ở New Orleans, US, nếu không có cơn băo Katrina vừa rồi, th́ đâu có ai biết là rất nhiều người Việt định cư ở New Orleans không biết nói tiếng Anh và không thể tiếp xúc với Cảnh Sát khi có việc cần. (đây là những người qua đây từ 1975 đă có cơ nghiệp vững vàng, chứ không phải những người mới qua).

Ở những nơi tập trung đông người Việt như California, Georgia, Texas, và vùng Washington DC, mọi giao dịch đều dùng tiếng Việt, kết quả là tŕnh độ ngoại ngữ của người Việt rất kém.

Đă không tiến bộ, th́ phải thụt lùi. Lối tư duy, lư luận và cách hành xử của Việt Kiều giờ này chẳng khá hơn bao nhiêu khi c̣n ở Việt Nam. Hăy xem xét những hoạt động "văn hóa" của Việt Kiều ở hải ngoại. Có mấy ai đọc sách, suy tư, hoặc viết lách khi rảnh rang. Họ chỉ biết, từ năm này qua năm khác (1984 đến giờ) khi rảnh th́ đón mua băng TN Paris để nghe đi nghe lại những bài nhạc "quê hương" cũ rích chỉ thay đổi có ca sĩ tŕnh bày và để nghe ông NNNgạn và cô "đào" dài chân mặc váy ngắn (và rất ưa "phô" nó ra) NCK Duyen nhai đi nhai lại ba cái chuyện đàn ông đàn bà ghen tuông nhảm nhí, thiếu vắng chiều sâu về tâm lư xă hội cũng như nghệ thuật hài hước.

Tương tự như vậy, giới Việt Kiều rất "mê" HLinh và VSơn với những tṛ hề rẻ tiền được lập đi lập lại muôn thuở: ỏng ẹo giả gái, giả giọng Phú Yên, giọng Bắc, giọng Quảng, lời lẽ chợ trời thô tục…

Những kẻ ngày xưa đă từng lớn tiếng tự nhận là "tị nạn chính trị" phải hy sinh cả tính mạng bản thân và gia đ́nh để "đi t́m bến bờ tự do", giờ này chỉ biết chạy đôn chạy đáo kiếm tiền, cơm ngày 3 bữa no nê nằm ễnh ngửa trên sa lông thưởng thức những băng nhạc hề nhảm nhí, những bản nhạc than khóc hay ca tụng (rỗng tuyếch) quê hương đất nước và hễ có dăm ba ngày nghỉ và dư vài ngàn đô là đem về VN "thả", xây nhà cất cửa, du lịch, ăn nhậu - đàn bà th́ khoe khoang đồ trang sức quần áo, đàn ông thanh niên th́ đi t́m gái, lấy vợ "hai, hoặc ba".

Mỗi năm, hàng triệu người Việt về thăm quê, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi chuyển tải một số tài liệu dân chủ vào trong nước, c̣n đại đa số là về VN để vung tiền đô la, khoe khoang, hưởng thụ, giải trí. Thậm chí c̣n buôn lậu nữ trang hoặc ma túy. Khi về VN, họ cố t́nh ăn mặc cho "ra vẻ VK", họ đ̣i hỏi tiện nghi này nọ, chê bai đường sá, nhà cửa ở VN thiếu tiện nghi. Chẳng trách sao người Việt trong nước vẫn đang nh́n Việt Kiều qua lăng kính "đô la". Dưới mắt họ, Việt Kiều là những "chủng loại" lạ lùng chẳng giống ai từ nước ngoài về, có rất nhiều tiền đô và cách ăn mặc, cư xử, dáng dấp ngoại h́nh không giống người trong nước (mập, trắng trẻo, xem "sang" hơn, hay đeo cái "bao tử (túi đựng tiền xu) ở bụng, đeo nhiều ṿng vàng nữ trang hơn...), khi nói chuyện th́ giả bộ quên tiếng Việt hoặc bập bẹ vài chữ tiếng Anh cho ra vẻ…

Không bắt buộc mỗi Việt Kiều về nước phải là một "chiến sĩ dân chủ". Nhiều Việt Kiều bây giờ không màng đến chuyện chính trị v́ lư do này khác. Đây là tự do cá nhân của họ, ta không thể bắt buộc.,,

Một bài viết đưa ra những sự thực đau ḷng về những thành phần thấp kém trong cộng đồng Việt Kiều hỗn tạp hiển nhiên không làm hài ḷng một số người vẫn tự cho ḿnh là những vô thượng thiên tài về chính trị, về nhân quyền, về dân chủ v…v… Nhưng chúng ta không nên quên rằng phần lớn những hoạt động chống Cộng, đúng ra là chống Việt Nam, của họ đều bắt nguồn từ những tâm cảnh không biết ǵ là dân chủ với nhân quyền. Họ hoảng sợ trước một ca sĩ, một nghệ sĩ, một thầy tu v..v.. từ trong nước sang và có những hành động của băng đảng thuộc loại côn đồ cuồng tín phi dân chủ, phi nhân quyền đối với những người này bất kể liêm sỉ, bất kể lẽ phải, và cho đó là những hoạt động tranh đấu cho nhân quyền, cho tự do, cho dân chủ, và là những chiến thắng lẫy lừng để vinh danh cờ vàng. Họ nghĩ rằng ai cũng ngu như họ, sợ bóng sợ gió một ca sĩ, một nghệ sĩ, một ông thầy tu đi ra nước ngoài chỉ để phục vụ nghệt thuật, hay hoằng dương Đạo Pháp, trong khi nội bộ của họ th́ có đầy những “VC đặc công tuyên vận”. Tuyệt đại đa số Việt Kiều thầm lặng lấy làm xấu hổ đối với người ngoại quốc trước những hành động càn rỡ vô trí này, nhưng không muốn lên tiếng v́ không muốn gây chuyện với bọn vô lại. V́ thế chúng cứ tự do múa gậy vườn hoang bất kể sự khinh khi của đa số Việt Kiều.

Có một số tự cho là trí thức, nhà văn v..v.. nhưng chẳng làm nên nghề ngỗng ǵ cho ra hồn, lăn vào nghề viết bài, viết báo chống Cộng và được các diễn đàn Công giáo đăng bài của ḿnh, tưởng như vậy là bảnh lắm, nhưng không biết rằng đối với giới trí thức hiểu biết th́ những bài thuộc loại chống Cộng đó rất là ấu trĩ v́ đầy thiên kiến, xuyên tạc sự kiện, nh́n mọi sự ở trong nước với cặp kính đen, và mù mịt trước những hiện thực ở trong nước. Đối với những người này th́ bất cứ sự kiện nào tích cực ở trong nước họ cũng diễn giải theo chiều hướng tiêu cực. Họ đổ những tệ đoan xă hội ở Việt Nam, những điều mà một đất nước đang phát triển kinh tế không thể tránh được, lên đầu Cộng sản. Trong khi nước Mỹ, nơi họ ở, tệ đoan xă hội chiếm giải quán quân trên thế giới, th́ họ không dám thốt lên lời nào. Họ vui mừng làm bất cứ điều ǵ mà họ nghĩ thiệt hại cho Việt Nam, từ tuyên truyền bịa đặt không mua hàng Việt Nam, không về du lịch ở Việt Nam, không gửi tiền về Việt Nam. Họ nói là chống Cộng nhưng thực sự họ chống tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, họ không muốn người dân có công ăn việc làm, họ không muốn cho nước nhà phát triển kinh tế, họ không muốn cải tiến đời sống vật chất của người dân. Họ chỉ muốn Việt Nam là nước đói khổ, tụt hậu nhất thế giới, như họ thường rêu rao trên báo chí, trên các diễn đàn điện tử, và hi vọng v́ đó mà Cộng sản phải giải thể để cho Công giáo lên thay thế và đưa người dân vào ṿng nô lệ Vatican. Nhưng kết quả mưu đồ hại nước hại dân của những người có truyền thống cha truyền con nối làm “Việt gian” này ra sao, chúng ta đă biết.

Trên http://giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=3153 có một bài của Nhật Anh, viết theo tờ Wall Street Journal, về chủ đề: Việt kiều đổ về nước làm ăn, đăng ngày 18/12/2008. V́ là một bài nói về những đóng góp của Việt Kiều cho quốc gia Việt Nam, tôi xin phép trang nhà Giao Điểm được đang lại trong bài viết này:

Việt Kiều Đổ Về Nước Làm Ăn [Nhật Anh viết theo Wall Street Journal]:

Việt Kiều và những ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của Việt Nam

Xu hướng Việt kiều quay về sinh sống và đầu tư kinh tế ở Việt Nam đă bắt đầu từ những năm 1990. Với bộ luật năm 1994 quy định về chính sách nhập cư và khuyến khích người Việt Nam sống ở nước ngoài về đầu tư tại quê hương đă lôi cuốn rất nhiều Việt kiều về nước làm việc và sinh sống, đặc biệt là những người có năng lực làm việc, có thể cống hiến cho tương lai đất nước.

Dù là những người chủ các quán rượu, các câu lạc bộ đêm các pḥng trưng bày nghệ thuật, các cửa hàng thời trang, các công ty kiến trúc hay các xưởng phim,… th́ tất cả họ đều mang một phong cách làm việc mới, một tiêu chuẩn quốc tế và một sự pha trộn văn hóa vào Việt Nam để giúp Việt Nam ngày càng hiện đại hơn.

“Việt Kiều đă mang lại những ảnh hưởng to lớn tới hầu hết các lĩnh vực trong đời sống ở Việt Nam” kể từ năm 1986, khi đất nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, và mở cửa nền kinh tế, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, ông MarkSidel, một giáo sư luật học tại trường Đại Học Iowa nói.

Bên cạnh việc đầu tư vào kinh tế, giáo sư Sidel cũng nói thêm rằng Việt kiều đă đem lại những ư tưởng mới và hàng loạt những kĩ năng chuyên nghiệp vào Việt Nam, đó chính là ch́a khóa để đổi mới và xây dựng quốc gia.

“Việt Nam vẫn phải thận trọng với một số ít Việt Kiều thuộc các nhóm phản động ở nước ngoài về Việt Nam với mục đích chống phá chính phủ, để thiết lập nền chính trị của họ ở Việt Nam”, giáo sư MarkSidel nhấn mạnh. Nhưng hầu hết Việt Kiều trở về nước đều không quan tâm đến chính trị, và “họ được chào đón ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống”.

Phát triển nghệ thuật

Henri Trần Anh Dũng, một Việt kiều 40 tuổi đă trở về sống và đầu tư ở Việt Nam. Ông là người sáng lập Công ty Sud-Est Production, một công ty chuyên làm quảng cáo và phim tại Thành phố Hồ Chí Minh. “Tôi đă khám phá ra rằng tôi chưa bao giờ hiểu biết và cống hiến thực sự cho đất nước ḿnh, đó là một lỗi lầm rất lớn”, ông nói.

Bố mẹ ông là người Việt Nam, nhưng ông được sinh ra ở Lào và theo cha mẹ sang sống ở Pháp từ năm 1975. Đầu những năm 1990, ông trở về Việt Nam để làm bộ phim “Xích lô” (Cyclo), một bộ phim do anh trai của ông làm đạo diễn, ông Trần Anh Hùng, người đă được đề cử giải Oscar cho bộ phim “Mùi đu đủ xanh” (The Scent of Green Papaya).

Sau thành công của “Xích lô”, ông Dũng rất mong muốn được làm việc ở Việt Nam và đă quyết định thành lập Công ty Sud-Est Production. “Đó là một sự quay trở về tuyệt vời”, ông Dũng nói. “Tôi lớn lên không bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi người Pháp và cũng không ảnh hưởng nhiều bởi người Việt. Con người tôi là một sự ḥa trộn”.

Phạm Quỳnh, 35 tuổi, một nhà nghệ thuật đă quay trở về Việt Nam 10 năm trước đây. Sinh ra ở Đà Nẵng, di cư sang Mỹ năm 1975 và lớn lên ở San Diego, bà đă trở về và mở pḥng triển lăm Galerie Quynh ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là một trong những pḥng triển lăm hàng đầu về nghệ thuật Việt Nam đương đại, chuyên trưng bày những tác phẩm của các họa sĩ trẻ người Việt, đặc biệt là những tác phẩm của người Việt xa xứ. “Pḥng trưng bày của tôi bao gồm nhiều tác phẩm của Việt Kiều hơn là của người Việt Nam”, bà nói.

“Những họa sĩ này nhận bằng Đại Học sáng tạo nghệ thuật ở nước ngoài và trở về Việt Nam với rất nhiều ư tưởng và phong cách sáng tạo nghệ thuật đa dạng, độc đáo”. Bà Quỳnh nói thêm.

Kinh doanh nhà hàng

Nghệ thuật nấu ăn và sáng tạo các món ăn cũng là nét văn hóa đặc sắc của người Việt tạo nên những ấn tượng rất riêng cho các Việt kiều.

David Thai là người sáng lập ra thương hiệu Cà Phê Highlands. Từ một đại lư nhỏ lẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002, giờ đây công ty đă lớn mạnh với một loạt các cửa hàng và hơn 60 đại lư trên khắp cả nước.

Sinh ra ở Sài G̣n nhưng ông đă theo gia đ́nh định cư ở Seattle năm 1978. Thành công của một loạt công ty cà phê ở đây đă khiến ông nghĩ đến việc kinh doanh tương tự ở Việt Nam. Năm 1996, ông về Hà Nội học tiếng Việt trước khi mở quán cà phê đầu tiên, quán Âu Lạc ở hồ Hoàn Kiếm.

Cùng mới việc mở rộng các cửa hàng cà phê Highlands, ông Thai, 36 tuổi c̣n xuất khẩu những gói cà phê bột ra nước ngoài và xuất cho các siêu thị trong nước.

Ở phố cổ Hà Nội, hẳn ai cũng biết đến một nhà hàng rất đặc biệt có tên gọi Green Tangerine với người đầu bếp tài ba Stephane Yvin. Nhà hàng được xây dựng lại từ một ngôi biệt thự thời thuộc địa Pháp năm 1928, với những cánh cửa màu xanh đặc trưng.

Ông Yvin cho biết, thực đơn ở đây được thay đổi liên tục, sử dụng “những gia vị của người Việt qua cách pha chế của người Pháp”. Ông Yvin lớn lên ở Pháp, và trở về Việt nam năm 1993. Năm 2003, ông Yvin và người vợ Việt Nam của ḿnh đă mở Green Tangerine, một nhà hàng nổi tiếng với tầng lớp trung lưu ở Hà Nội cũng như khách du lịch nước ngoài.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Phương Anh, 43 tuổi là một trong những Việt kiều gặt hái được nhiều thành công trong kinh doanh các quán bar và các câu lạc bộ đêm sớm nhất ở Việt Nam.

Năm 1978, bà Phương Anh và gia đ́nh đă rời khỏi Việt Nam tới California và định cư ở Pasadena. Từ Mỹ về, bà cùng với một người bạn người Việt đă mở quán bar Q Bar Saigon với kiểu kiến trúc Pháp tao nhă. Sau một thời gian làm ăn và sinh sống ở Việt Nam, bà Nguyễn nói rằng “tôi cảm thấy yêu mến và gắn bó với đất nước Việt Nam và đă quyết định ở lại”.

Ông Andrew Lam, một nhà soạn sách, một người bạn của bà Phương Anh đă bày tỏ niềm tin rằng người bạn của ḿnh – bà Phương Anh sẽ “đem lại sức sống mới cho các quán rượu ở Việt Nam”.

Một Việt kiều khác cũng rất thành công trong kinh doanh quán rượu ở Việt Nam – đó là ông Nguyễn Biên. Định cư ở Perth, miền Tây Australia ba thập kỉ trước, Ông Nguyễn Biên đă quay trở về quê hương Việt Nam để t́m kiếm thị trường và phát triển kinh doanh nhà hàng và quán rượu. Ông là một doanh nhân trẻ 30 tuổi và là một trong hàng trăm, hàng ngàn Việt kiều quyết tâm quay về t́m lại cội nguồn và làm giàu trên quê hương ḿnh.

Ông Biên đă mở một nhà hàng và quán cà phê nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh – Xu. Xu được thiết kế bởi những mảnh gỗ không gọt giũa và những ngọn đèn treo rất đẹp. Xu được mệnh danh là nhà hàng “mở ra cách nấu nướng hiện đại cho Việt Nam”.

Sau khi gặt hái được một số thành công với Xu, ông Biên mở thêm một loạt các nhà hàng bún ḅ và bún huế ở Thành phố Hồ Chí Minh.

De Phạm Phú và vợ ông, bà Thảo sau một thời gian dài sống ở miền Tây Nam nước Pháp cũng đă quay trở về Việt Nam, mở một cửa hàng tên là Dong Pho, một nhà hàng được xây dựng lại từ một ngôi nhà của một gia đ́nh người Pháp thời thuộc địa.

Được khôi phục và hiện đại hóa một cách hoàn hảo với một khu vườn dành để uống rượu, nhà hàng của họ là điểm đến lư tưởng của du khách với những thực đơn hấp dẫn. Các món ăn chính là các món đặc sản của huế cùng với những món ăn pha trộn giữa Pháp và châu Âu.

Hiện có rất nhiều Việt kiều mong muốn được trở về quê hương: “Chúng tôi luôn tự hào là người Việt Nam. Sống ở nước ngoài, chúng tôi chưa bao giờ thực sự cảm nhận được “ngôi nhà của chính ḿnh”, bà Phạm Phú nói. “Bây giờ chúng tôi dự định sẽ sống ở Việt Nam cho đến hết đời”.

Đây chỉ là vài trường hợp điển h́nh. Tôi cũng biết có Việt Kiều ở Pháp, lấy việc về làm ở Việt Nam [outsource] vừa rẻ, vừa giúp cho một số người Việt có công ăn việc làm, và rất thành công. Chúng ta thấy trong khi giới trẻ Việt kiều có nhiều người tha thiết với sự đóng góp để phát triển quốc gia th́ một số người vẫn đi buôn thù hận và nhắm mắt nhắm mũi chống Cộng một cách rất cuồng tín. Có ông linh mục Đinh Xuân Minh ở bên Đức c̣n khuyến khích giáo dân hăy mang “Chúa Thánh Thần” ra mà chống Cộng, hay “Chống Cộng theo gương David” [không biết rằng David chỉ là một tên tướng cướp rồi lên làm Vua, trở thành một hôn quân, bạo Chúa, hoang dâm vô độ] hay Michael ǵ ǵ đó. Thật là không biết nhục, không biết xấu hổ.

Sau bao năm năng nổ vận động như: ngăn cản bỏ cấm vận, cản trở việc thông qua quy chế PNTR cho Việt Nam, cản trở Việt Nam gia nhập WTO, van xin ông Bush lợi dụng dịp APEC để ép Việt Nam về nhân quyền, khoa trương mấy cái nghị quyết ấm ớ của hạ viện Mỹ, của quốc hội Âu Châu v…v… với mục đích để “Đen về thay thế Đỏ” mà không mang lại một kết quả nhỏ nhoi nào. Hàng năm vẫn có nhiều trăm ngàn “Việt Kiều” về thăm quê hương đất tổ, và không chỉ về có một lần, vẫn gửi cả mấy tỷ bạc về Việt Nam, vẫn mua hàng của Việt Nam. Hàng năm, đến Tết, vẫn có cả trăm ngàn “Việt kiều” về quê ăn Tết. Đối với những người đă về thăm quê hương th́ họ thấy rơ sự thực về Việt Nam hơn ai hết, cho nên tất cả những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt v..v.. về Việt Nam ở hải ngoại chẳng c̣n một giá trị nào, chỉ có thể lừa bịp được những kẻ ngu ngơ ngốc nghếch. Nhân dịp cái gọi là lễ “giáng sinh” năm nay, chúng tôi vẫn chọn hàng xuất cảng từ Việt Nam, điển h́nh là quần áo v..v.. để mua quà cho con cháu, không phải để ăn mừng giáng sinh, mà là dịp người đi làm được nghỉ, học tṛ cũng được nghỉ, nghỉ xả hơi mùa Đông (Winter Break) cho nên rất thuận tiện để gia đ́nh xum họp. Cho nên có thể nói, họ muốn nói ǵ th́ nói, “la caravane” vẫn “passe”.

Điều khôi hài nhất là Việt Kiều đă về đóng góp cho đất nước từ đầu thập niên 1990, chứ đâu có chờ đến Nghị Quyết 36 của Việt Nam kư ngày 26/3/2004. Vậy mà gần đây, những người máy chống Cộng vẫn hoảng sợ và ra công chống phá Nghị Quyết 36, cho rằng Nghị Quyết đó ban hành để lừa bịp Việt Kiều. Họ không biết rằng Nghị Quyết 36 chỉ để cải tiến thủ tục, tạo một bầu không khí thuận lợi và thoải mái cho những Việt Kiều muốn tham gia đóng góp cho đất nước chứ chẳng có một lời nào để gây sự chia rẽ giữa những công đồng Việt Kiều. Sự chia rẽ là do số người máy chống Cộng hoang tưởng và tự đặt ḿnh vào sự chia rẽ. Nhưnghọ đă chống Nghị Quyết đó như thế nào để ba năm sau ban hành Nghị Quyết chúng ta có thể đọc được bản tin ngày 04/10/2007 những đoạn như sau:

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đă có nhiều chuyển biến tích cực về tư duy và hành động, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm khẳng định.

Số Việt kiều về thăm quê hương, t́m hiểu điều kiện đầu tư ngày càng tăng, từ 300.000 người năm 2003 lên hơn nửa triệu người trong năm 2006. Tính đến hết năm 2006, có 2.050 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước, với số vốn là 14.500 tỷ đồng. Lượng kiều hối bà con gửi về nước năm sau cao hơn năm trước, từ 2,7 tỉ USD năm 2003 lên 4,8 tỉ USD năm 2006.

Hàng năm có hàng trăm lượt chuyên gia trí thức về nước nghiên cứu, giảng dạy, hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu; nhiều hội, đoàn và các tổ chức nghề nghiệp của người Việt, đặc biệt là ở các nước phát triển đă thực hiện các hoạt động, các dự án hợp tác khoa học, công nghệ và các hoạt động mang tính nhân đạo trợ giúp đồng bào trong nước.

Kết Luận:

Qua các phần trên, chúng ta cần trở lại câu ca dao thời đại: “Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều: Một trong ba thứ tiêu điều nước Nam”.

Cái “Một trong ba thứ” ở đây chính là Việt Gian. Việt Gian có những hành động ǵ? Họ vẫn đang tiếp tục chống phá quốc gia dưới các món hàng xuất cảng của Âu Mỹ: tự do, dân chủ, nhân quyền v..v.., hoặc dưới mỹ danh “Chống Cộng Cho Chúa”. Họ van xin cầu cạnh mấy dân biểu cắc ké của Mỹ, mấy nghị viên Quốc Hội Âu Châu, can thiệp vào những chuyện nội bộ Việt Nam. Quá khứ của Âu Châu cũng như của Mỹ không có tư cách ǵ để xía vào những chuyện nội bộ của Việt Nam. Bà Tôn Nữ Thị Ninh đă dạy cho họ một bài học về đối ngoại mà họ vẫn chưa chịu mở mắt ra: “Đừng có xía vào chuyện nội bộ của Việt Nam.Chúng tôi chỉ tin tưởng vào một nền dân chủ do chính ḿnh tạo dựng, và đă qua lâu rồi thời kỳ những nước đang phát triển cần các nước phát triển đến khai sáng và cứu rỗi.”

Những điều hoang tưởng vọng ngoại như “Cha đă tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con” (Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 11), hoặc “Ủy ban Nhân Quyền Quốc Tế cho rằng...” hay “Tổ Chức Ân Xá Hoa Kỳ tố cáo rằng..”, “Dư luận cả thế giới và nhất là Quốc Hội Mỹ đều tập trung xoáy vào điểm...”, hay ca tụng “Nghị Quyết của Hạ Viện Mỹ”, “Luật về tự do tôn giáo thế giới của Mỹ” v..v.. để ép Việt Nam, đều nói lên những tâm cảnh đặc thù “Việt gian”, đồng thời tỏ rơ sự yếu kém của những tổ chức tranh đấu hải ngoại, tự ḿnh không thể làm nên tṛ trống ǵ, cứ phải dựa hơi những tổ chức, cơ quan ngoại quốc mà thực chất chẳng có ảnh hưởng ǵ trên quốc tế, nhất là đối với các nước Á Đông. Chúng ta có quyền không đồng ư với một số chính sách nào đó của chính quyền, nhưng nếu chúng ta không đủ thực lực và hậu thuẫn của quần chúng để thay đổi theo chiều hướng mà chúng ta muốn, khoan nói chiều hướng chúng ta muốn chưa chắc đă là đúng hay tốt hơn, mà cứ phải cầu cạnh đến ngoại bang trong khi biết rơ rằng ngoại bang chẳng bao giờ thương xót Việt Nam, th́ đó đúng là những hoạt động trong tâm cảnh của “Việt gian”.

Nếu Nhà Nước không cương quyết trong chính sách đối ngoại, tuyệt đối không để cho cá nhân cũng như quốc gia nào can thiệp vào những chuyện nội bộ của nước nhà, không quan tâm đề pḥng những kẻ mượn danh tôn giáo và những quan niệm về dân chủ, nhân quyền của Tây phương để chống phá quốc gia, và không để tâm giáo dục quần chúng người dân ư thức được hiểm họa của Việt Gian th́ thứ Việt này sẽ làm cho quốc gia tiêu điều.

“Việt Cộng” chỉ là cái bung xung mà thế lực đen dùng để gây thù hận và theo chủ trương của Hoàng Quỳnh: “Thà mất nước chẳng thà mất Chúa”. Trong quá khứ, “Việt Cộng” đă được sự ủng hộ của đa số người dân Việt Nam và đă thành công đánh đuổi được quân xâm lược của hai cường quốc Pháp và Mỹ, mang lại độc lập và thống nhất cho nước nhà. Nhưng thời gian qua, xă hội thay đổi, nên ngày nay không c̣n “Việt Cộng”. Hăy về trong nước xem có c̣n cái ǵ đích thực la “Cộng” không? Nếu là Cộng thật th́ làm ǵ có những Nguyễn Văn Lư, Ngô Quang Kiệt, Lê Quốc Quân, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu v…v… Và người Công Giáo chẳng vẫn rêu rao là “Đức Thánh Cha” của họ đă làm cho Cộng sản tiêu tùng từ năm 1989, vậy phải chăng Cộng sản đă chết rồi lại sống lại như anh Do Thái Giê-su ngày xưa? Cho nên “Việt Cộng” ngày nay chỉ là cái hồn ma ám ảnh những người Công giáo và những kẻ “ngu xuẩn và thiếu học vấn” mà thôi [Theo OCRegister: Stupid and uneducated]

C̣n “Việt Kiều”? Rất khó nói. V́ Việt kiều rất hỗn tạp. Một số có những hành động làm nhục lây đến đến cộng đồng người Việt hải ngoại. Một số có những thành quả ngoạn mục, từ học sinh Trung Học đến những thương gia, chuyên gia, đă vinh danh người Việt không ít. Đa số thầm lặng không màng đến chính trị, sống cuộc sống b́nh thường hàng ngày. Nhưng dù sao th́ “Việt Kiều”, bỏ các “Việt Gian” ra ngoài, cũng không làm ǵ để có thể nói là làm “tiêu điều nước Nam”, trái lại nhiều người c̣n mong ước cho Việt Nam càng ngày càng phát triển, tiến bộ để không thua kém ǵ các nước đă phát triển trên thế giới.. Và tôi hi vọng Nhà Nước sẽ có một chính sách cởi mở hơn, thoáng hơn, để “Việt kiều” có thể đóng góp nhiều hơn cho việc xây dựng, cải tiến quốc gia, mở mang dân trí. Tôi nghĩ trong cộng đồng “Việt kiều” có rất nhiều người yêu nước, muốn đóng góp công sức cho Quốc Gia Việt Nam. Điều mà những “Việt Kiều” này cần, không phải là vấn đề tiền bạc, lương cao, chức vụ lớn, mà là một khung cảnh làm việc thoải mái theo khả năng, một sự đăi ngộ b́nh đẳng, và một sự ghi nhận (appreciation) những đóng góp của họ. Cũng nên hiểu rằng, đối với các chuyên gia đă sống ở các nước Âu Mỹ, và đă làm việc cho các Công Ty lớn ở Tây phương, hay trong các trường đại học, th́ vấn đề phát biểu những ư kiến rất là tự nhiên, và những thái độ như phải khúm núm, quỵ lụy đối với cấp trên, hay ngay cả đối với những giới chức quyền cao chức trọng trong chính quyền, cũng không phải là cách ứng xử giữa con người với con người.

Grayslake, Illinois

Trước thềm Năm Mới, 2009

NDVN, ngày 3/1/09

 

 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend