NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

THỬ ĐÀO SÂU MỘT SỐ BÍ ẨN LỊCH SỬ CHƯA ĐƯỢC TIẾT LỘ


  

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được...   

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng

 

Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. Tuy nhiên, “tâm t́nh với ḷng thành”-những lời tâm sự của viên đại tướng quân đội Sài G̣n từng giữ trọng trách Tổng tham mưu trưởng lâu nhất đă thú nhận quân đội Sài G̣n là quân đội tay sai của Mỹ...đọc tiếp

 

"BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH  

    Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  

 Bush and Blair, cartoon
        Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:
 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

Tony Blair picture 1811810

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

  * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

    Những ư kiến “trái chiều” này thực ra chỉ làm phong phú thêm các thông tin về sự kiện đau ḷng xảy ra cách đây 8 năm về trước… 

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

* THƯ MỤC 2009: THÁNG 9 – 8 – 7 – 6

   

 

 

 

  

 

 

Thử Đào Sâu Một Số Bí Ẩn Lịch Sử Chưa Được Tiết Lộ

 

Tôi đọc báo Chánh Đạo từ số ra mắt cho đến ngày nay, nhưng tôi không có th́ giờ đọc loạt bài của Tâm Tràng. Nay nhờ đọc ông Giới Tử trên báo Phật giáo Việt Nam (số 86-87 tháng 2/1994) và Trần Chung Ngọc trên tạp chí Giao Điểm (số 16 ngày 15/5/1994), tôi cũng có thể hiểu biết được Tâm Tràng đă viết ǵ về thầy Nhất Hạnh trên báo Chánh Đạo mà Phật tử Nguyên Trung tức Ngô Văn Bằng là chủ bút.

Tôi nhận thấy hai ông Giới Tử và Trần Chung Ngọc đă có những nhận xét tương đối khá nghiêm khắc với hai ông Tâm Tràn và Nguyên Trung mặc dầu viết với văn phong kẻ sĩ của người trí thức Phật giáo hoà ái, khiêm cung, không kiêu mạn, nhưng tôi xin lỗi để thưa rằng lời phê phán của hai vị cư sĩ học giả đó vẫn chưa soi sáng vấn đề một cách trọn vẹn. (tr.227)

Theo ư kiến mộc mạc của tôi th́ phải khẳng định một cách nghiêm chỉnh rằng thầy Nhất Hạnh từng hô hào chấm dứt chiến tranh, vận động Ḥa B́nh v́ quyền lợi và hạnh phúc của dân tộc nhưng thầy chưa hề bao giờ là Cộng Sản hay tay sai của Cộng Sản cả. Và cũng phải khẳng định rằng cả tác giả Tâm Tràng lẫn chủ bút Nguyễn trung phải chịu trách nhiệm về loạt bài của Tâm Tràng trên báo Chánh Đạo mà theo Giới Tử là cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ [G.H.P.G.V.N.T.N.H.N.H.K].

Ông Nguyên Trung c̣n phải chịu trách nhiệm về việc đăng hai bài báo chống đối Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy của ông cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức (NVC) tác giả cuốn Việt Nam Chính Sử [VNCS], cuốn sách mà nội dung 99% là cốt để bóp méo sự thật lịch sử và đánh phá Phật giáo không nương tay, điều mà tôi sẽ nói rơ ở đoạn sau. Đó là vấn đề mà tôi cần đặt ra trong loạt bài này.

Như mọi người đă biết, cuộc chiến tranh Việt Nam 30 năm qua dù danh nghĩa ǵ th́ căn bản vẫn là chiến tranh ư thức hệ, ư thức Thiên chúa giáo và ư thức Mác-Lê mà một bên do Hoa Kỳ và Vatican và bên kia do Nga Sô và Trung cộng cầm chịch. Những nhà lănh đạo phe Quốc Gia và phe Cộng Sản tại Việt Nam chỉ làm nhiệm vụ người lính tiền đồn cho các quan thầy mà thôi. Rất nhiều tài liẹu sách vở đặc biệt là các cuốn Vietnam: Why Did We Go? của Avro Manhattan (Chick Publication, 1984) và cuốn The American Pope của John Cooney (Times Books, 1984) đă cho ta biết rơ sự thật đó. Ngoài việc tranh chấp ư thức hệ, tranh chấp ảnh hưởng và quyền lợi, hai phe đều dùng chiến trường Việt Nam, dân Việt Nam, đất Việt Nam để đọ sức, so tài về (tr.228) chiến lược, chiến thuật, vũ khí, t́nh báo, chuyển quân, tiếp vận, mọi thứ kỹ thuật chiến tranh du kích, chiến tranh cổ điển. Chiến tranh Việt Nam xảy ra từ năm 1945 cho đến 1965, 1966 đă không có dấu hiệu chấm dứt (trừ vài năm nghỉ xả hơi sau Hiệp định Genève) mà c̣n gia tăng ngày càng khủng khiếp do sự tham chiến ồ ạt của quân đội Hoa Kỳ và các Đồng minh của Hoa Kỳ, và sự chuyển quân không ngừng của Bắc Việt vào miền Nam qua ranh giới vĩ tuyến 17, qua biên giới Việt-Miên và qua đường ṃn Hồ Chí Minh.

Phật giáo Việt Nam gồm khối nhân dân đông đảo nhất không thể ngồi nh́n những vụ chém giết, tàn phá, huỷ diệt tiếp diễn hung bạo trên quê hương ḿnh, không thể cứ ngồi nh́n dân tộc đồng bào ḿnh làm những con vật hy sinh như trong vụ chôn sống tập thể Tết Mậu Thân ở Huế, vụ tán sátn man rợ tại Mỹ Lai...cho cuộc tranh chấp của ngoại bang, nên Thượng toạ Thích Nhất Hạnh đại diện cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, phải ra nước ngoài chu du Âu Mỹ để vận động chấm dứt chiến tranh, thực hiện Ḥa B́nh. Đồng thời ông cho ra đời cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa nói rơ lập trường chính trị của Phật Giáo Việt Nam. Cuốn sách này do Hội Phật Tử Việt Kiều Hải Ngoại xuất bản tại Paris năm 1966 và được dịch ra tiếng Anh mang tên là Vietnam, Lotus In A Sea of Fire, Abuddhist Proposal for Peace, do nhà xuất bản Hill and Wang (New York) phát hành năm 1967.

Cuốn sách đó tŕnh bày một cách hết sức vô tư những biến cố lịch sử, tiến tŕnh du nhập các tôn giáo vào Việt Nam, thực trạng chính trị và thực trạng chiến tranh đương thời mà bất kỳ ai tự nhận ḿnh là trí thức lương thiện, là (tr.229) nhà viết sử có công tâm đều phải công nhận Thượng tọa Nhất Hạnh đă viết với tâm bồ tát chỉ muốn nói lên toàn là sự thật. Gạt ra ngoài những nhận xét đầy tính chất thiên vị phe phái của những cuốn sách thuộc nhóm Cần Lao, của những người thuộc phe nuối tiếc chế độ Ngô Gia, hoặc cuae những người ngoại quốc viết với hậu ư riêng tư như trường hợp cựu Tổng Thống Richard Nixon, trường hợp bà Ellen Hammer, nữ kư giả Margueritte Higgins v.v...mà tôi đă lột trần sự dối trá trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi [VNMLQHT, sách tái bản năm 1993]...C̣n lại hàng ngàn tài liệu, hàng trăm cuốn sách khác đều có cùng một quan điểm về chiến tranh Việt Nam với cuốn Vietnam, Lotus In A Sea of Fire của thầy Nhất Hạnh, nghĩa là thứ chiến tranh tàn phá huỷ diệt, khốc liệt không tưởng tượng nổi. 33 cuốn sách nổi tiếng được Tiến sĩ Trần Chung Ngọc liệt kê sau loạt bài của ông trên tờ Giao Điểm số 16 có thể giúp độc giả có được một cái nh́n tương đối vô tư và chính xác về thực chất cuộc chiến Công Cộng tại Việt Nam. Đó là chưa kể những cuốn sách của Giáo sư Buttinger, của kư giả Robert Shaplen và Denis Warner v.v... từng sống lâu năm, từng đi sâu vào ḷng xă hội Việt Nam. Nếu ai c̣n nghi ngờ giá trị khả tín cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa của thầy Nhất Hạnh, tôi yêu cầu họ hăy tra cứu thêm tài liệu rất đầy đủ về chiến tranh Việt Nam, về hai chế độ Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu của tổ chức Rand Corporation tại Santa Monica, California.

Về phương diện tôn giáo nhà Xuất bản Phật Tử ở Paris có lời giới thiệu dưới đây như một xác định lập trường Dân Tộc của Thượng toạ: “Thượng toạ Nhất Hạnh, qua cuốn “Hoa Sen Trong Biển Lửa” đă nói lên tiếng nói của tôn giáo, đă khúc chiết tŕnh bày diễn tŕnh của Đạo Phật dọc con (tr.230) đường xây dựng sự nghiệp Việt Nam của dân tộc Việt. Trên con đường này đạo Phật không đi một ḿnh, đạo Phật đi chung với dân tộc, đi chung với các tôn giáo bạn, đi chung trong con người khi vinh quang cũng như lúc khốn khó. Không những sai lầm của tôn giáo bạn, những sai lầm của đạo Phật cũng được ông đề cập nghiêm chỉnh. Chúng tôi nghĩ đó mới thật là lương tâm tôn giáo”.

Suốt toàn bộ cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa, từ trang đầu đến trang cuốn không hề có một chữ, một gịng, một nhận xét hay lập luận nào sở dĩ có thể gán cho tác giả có đầu óc thiên tả hay là tay sai Cộng Sản được. Trái lại, thái độ trung lập của Thượng toạ giữa hai phe lâm chiến được thể hiện rất minh bạch, rất khách quan qua từng lời, từng đoạn, qua từng suy luận, từng phê phán của tác giả từ đầu đến cuối cuốn sách.

Theo Thượng toạ Nhất Hạnh th́:

“Dù những người Cộng Sản đang điều khiển bộ máy Trung ương của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, họ vẫn chỉ là thiểu số. Ảnh hưởng của Mặt Trận trong quần chúng nông dân không phải v́ họ chứng tỏ cho quần chúng thấy rằng họ là Cộng Sản, trái lại họ liên tục chứng minh rằng Mặt Trận đang tranh đấu quyết liệt chống Đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng ở miền Nam. Chín mươi phần trăm dân chúng Việt Nam là nông dân, họ có chung một ngôn ngữ Việt và họ không thấy ǵ khác hơn giữa những mưu ư của người Pháp trước kia và người Mỹ bây giờ”.

Thượng toạ Nhất Hạnh đă viết đúng với sự thật lịch sử v́ theo tài liệu Ngũ Giác Đài cho biết, cả tin tức t́nh báo Hoa Kỳ lẫn tù binh Việt Cộng đều cho rằng sự thành công (tr.231) mau chóng của Việt Cộng từ sau năm 1959 là do ở lỗi lầm của chế độ Ngô Đ́nh Diệm:

Trong bản phúc tŕnh do Rand Corporation of Santa Monica, Califonia, dựa trên lời khai của 23 cán binh Việt Cộng cho hay như sau về sự thành công của Cộng Sản: “Nguyên do sự thành công không phải v́ cán bộ (Mặt Trận) xuất chúng mà v́ dân chúng căm phẫn chính quyền nên sẵn sàng nổi loạn. Dân cũng như đống rạ chỉ chờ để được châm ng̣i lửa”.

Nếu như hồi đó mà chính quyền miền Nam hữu hiệu, không độc tài, th́ việc phát động phong trào nổi loạn không phải dễ dàng ǵ”. (Nguyên do nổi loạn tại Việt Nam, báo Sóng (Toronto, Canada) tháng 10 năm 1987, trích dịch theo The Pentagon Papers, mục “Origins of the Insurgency in South Vietnam” p.67-68).

Ngoài tài liệu của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, mới đây một nhân sĩ từng là cộng sự viên của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cũng đă lên tiếng, trong cuốn sách của ông nhan đề Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt Trận Giải Phóng nhận xét của ông cũng như quan điểm của Bộ Quốc Pḥng  Hoa Kỳ và Thượng Toạ Nhất Hạnh. Thế mà ông Nguyễn Văn Chức viết trong Việt Nam Chính Sử lại gán cho Thượng toạ Nhất Hạnh là xuyên tạc chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ông Hồ Sĩ Khuê  trong tác phẩm  Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm và Mặt Trận Giải Phóng (nhà Xuất bản Văn Nghệ, California, 1993) khai triển rành mạch lịch tŕnh h́nh thành của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng và những điều mà ông gọi là lỗi lầm to lớn của chế độ Diệm. (tr.232)

Cũng v́ trận chiến tranh dai dẳng và có tính cách diệt chủng, với số bom đạn sử dụng c̣n cao hơn số bom đạn của cả hai Mặt Trận Đông Á và Tây Âu thời Đệ Nhị Thế Chiến cộng lại cho nên nhiều nhân vật tên tuổi khắp thế giới lên tiếng kêu gọi hai phe hăy ngưng chiến để thực hiện Hoà B́nh tại Việt Nam.

Theo tờ nhật báo Tự Do của ông Phạm Việt Tuyền dựa vào tin của hăng Reuter th́ đă có tám nhân vật trên thế giới, từng đoạt giải Hoà B́nh Nobel đă lên tiếng kêu gọi các phe liên hệ trong vấn đề Việt Nam hăy gấp rút thực hiện đ́nh chiến và tiến tới thương thuyết. Tám nhân vật đó là Linus Pauling (giải Nobel 1962), Mục sư Bỉ Georges Pire (1958), Nghị sĩ Anh Noel Baker (1959), nhà văn Anh Norman Angell (1934), cựu giám đốc Năng lượng Quốc tế người Anh Bá tước Boyd Orr (1949), Bác sĩ Đức Schweitzer (1952), lănh tụ Nam Phi Albert Luchiel và lănh tụ da đen Mỹ Luther King (1964). Đó là chưa kể các lănh tụ tôn giáo, các học giả như Daniel Berrigan, Robert McAfee Brown (Tin lành), Abraham J. Haschel (Do Thái), Michael Novak (Công giáo) v.v... và những trí thức như Bertrand Russell, Jean Paul Sartre v.v... Cũng v́ thấy rơ bản chất phi nhân, phi luân, diệt chủng, diệt môi sinh của Mỹ dùng Việt Nam làm địa bàn chống Cộng, tiêu thụ bom đạn thặng dư, thí nghiệm những chiến thuật chống du kích và coi dân Việt Nam không phải là người qua những hành động diệt chủng...cho nên tất cả đă lên án Mỹ, kêu gọi chấm dứt chiến tranh.

Cũng theo nhật báo Tự Do, th́ “trước khi có những lời kêu gọi kể trên về việc tái lập Ḥa B́nh ở Việt Nam, người ta đă từng nhiều lần nghe tiếng kêu gọi Ḥa B́nh của Đức (tr.233) Giáo Hoàng [Paul VI], đă từng thấy những cố gắng vận động tái lập Ḥa B́nh ở Việt Nam của ông Tổng Thư kư Liên Hiệp Quốc [U Thant], của nhiều tổ chức Quốc tế”.

Cũng theo nhật báo Tự Do th́ “riêng về phía Trung Cộng và Việt Cộng, người ta hiện chưa biết Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh sẽ xứ trí ra sao? Liệu Mao Trạch Đông có chịu bỏ thái độ ngoan cố để chấp nhận một kỷ luật quốc tế tối thiểu hay không? Hay là y cứ tiếp tục liều lĩnh khuấy phá các nước láng giềng. Dù sai đi nữa chắc Mao Trạch Đông sẽ c̣n tiếp tục xô đẩy Việt Cộng vào chỗ khói lửa, chết chóc, càng lâu càng hay ḥng lợi dụng xương máu của dân Việt Nam để bảo vệ và xây dựng Đế quốc Trung Cộng?”

Ông Phạm Việt Tuyền (hiện ở Pháp), chủ nhiệm nhật báo Tự Do là cựu Giáo sư Đại học Văn Khoa Sài G̣n và cũng là Hiệu trưởng trường Trung học Tư thục Công giáo Lê Bảo tịnh, cho nên tiếng nói của tờ Tự Do có thể tiêu biểu cho tiếng nói của giới trí thức, giới chính trị Thiên chúa giáo Việt Nam. Bài tập trường trên đây của tờ Tự Do  phản ảnh đứng đắn lập trường mà những người chống Cộng quá khích có thể lên án là “thân Cộng”, “phản chiến nguỵ hoà” của Giáo Hoàng Paul VI và Vatican. Việc Giáo Hoàng Paul VI kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam không chỉ tờ báo Tự Do đề cập đến mà thôi mà c̣n rất nhiều tài liệu, sách vở khác của người Việt Nam và người ngoại quốc nêu lên, chẳng hạn như:

- Hồi kư Bên Gịng Lịch Sử Việt Nam 1940-1975 của Linh mục Cao Văn Luận (trang 346-350).

- Cuốn Hồ sơ Mật Dinh Độc Lập của cựu Bộ trưởng Nguyễn Tiến Hưng (ấn bản Việt ngữ, trang 293-294).

- Nguyệt san Công giáo Thời Luận do cựu Nghị sĩ Trương Tiến Đạt chủ trương (San José, California số 9 tháng Giêng năm 1987).

- Cuốn The Decline and Fall of the Roman Church của Giáo sĩ Malachi Martin (Bantan Books, New York, 1983, p.232).

- Cuốn Vietnam Why Did We Go? của Avro Manhattan (Chick Publication 1984, p. 180-186).

- Cuốn The American Pope: The Life and Time of Francis Cardinal Spellman của John Cooney. (The Times Books, 1984, p. 289-294)

Trong Nguyệt san Công Giáo Thời Luận có đoạn viết rằng:

“...Chúng [tức Cộng Sản] tiêu diệt đạo Chúa, coi đạo chúa như một tử thù không đội trời chung. Vậy mà hiểm hoạ Cộng Sản không được các cấp lănh đạo trong Giáo Hội rao giảng để cảnh giác nhân loại nữa. Kể từ thời Đức Thánh Gioan XXIII (1958-1963) triều đ́nh Vatican đă chủ trương một chính sách hoà hoăn với Cộng Sản. Dưới thời Đức Phao Lồ VI, giới quan sát chính trị trên thế giới đă phải hết sức ngạc nhiên về lập trường thân Cộng của triều đ́nh Vatican. Chẳng hạn trong số ra ngày 31/3/1973 tờ Fides (Đức Tin) của Toà thánh đă có những lời ca tụng Mao Trạch Đông, ca tụng chủ thuyết Mao Trạch Đông là “hoàn toàn phù hợp với học thuyết xă hội thời nay của giáo Hội Công Giáo v.v...”

Trong cuốn The Decline and Fall of the Roman Church, tác giả tu sĩ Malachi Martin cho biết Giáo Hoàng Paul VI đă đỡ đầu cho các phong trào khủng bố thiên tả, các đảng Cộng Sản tại Y-Pha-Nho, Nam Mỹ, Cuba, Đông Âu. Riêng tại Việt Nam, Giáo Hoàng đă để cho Cộng Sản Bắc (tr.235) việt lợi dụng chức trưởng của ḿnh trong việc tấn công Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968.

Trong cuốn The American Pope, kư giả John Cooney mô tả cuộc vận động chấm dứt chiến tranh của Giáo Hoàng La Mă theo tiến tŕnh sau đây:

- Ngày 11/2/1965, tại La Mă, Giáo Hoàng Paul VI lên tiếng kêu gọi ngưng chiến tại Việt Nam.

- Ngày 4/10/1965, Giáo Hoàng Paul VI đến Nữu Ước trước hết để gặp Tổng Thống Johnson “cầu khẩn” Tổng Thống hăy chấm dứt chiến tranh Việt Nam, Tổng Thống Johnson không ngờ giáo Hoàng quyết tâm chống lại “cuộc phiêu lưu quân sự” của ông ta.

- Giáo Hoàng cũng chống lại chủ trương diều hâu của Hồng Y Spellman. Hồng Y coi luận điệu phản chiến của Giáo Hoàng Paul VI là thái độ công kích Hoa Kỳ, tổ quốc của ông ta. Ông tin rằng từ cái chết của Pacalli (tức Giáo Hoàng Pio XII) giáo Hội lại một lần nữa rơi vào tay kẻ bất lực.

- Sau đó Giáo Hoàng Paul Vi đọc một thông điệp đ̣i chấm dứt chiến tranh Việt Nam tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trước Đại diệm 117 quốc gia. Đứng trên bệ cao ông hô lớn: “No more War, Never again War”

- Sau khi rời Nữu Ước, Giáo Hoàng Paul VI bước vào giai đoạn cuối của một chiến dịch khéo léo để vận động cho một nền Hoà B́nh bằng thương thuyết tại Việt Nam. Những văn pḥng thông tin, những đường giây liên lạc giữa Vatican và Đại diện Toà thánh tại các nước có liên hệ về chiến tranh Việt Nam được tổ chức lại, tăng phái thêm nhân viên ngoại giao, nhờ các quốc gia có ảnh hưởng với nhân viên ngoại giao, nhờ các quốc gia có ảnh hưởng với Nam-Bắc Việt như Pháp chẳng hạn làm áp lực với hai phe (tr.236) lâm chiến v.v...Từ khắp nơi trên thế giới tin tức t́nh báo đổ tràn về Vatican qua các nhà ngoại giao, các vị giáo phẩm, các nhà truyền giáo và ngay cả Giáo Hoàng cũng trao đổi công điện trực tiếp với chủ tịch Hồ Chí Minh...

Đến đây tôi cũng xin nhấn mạnh lại là v́ sai từ Giáo Hoàng Pio XII chống Cộng mănh liệt mà đến Giáo Hoàng John XXIII lại quay sang hoà hoăn với thế giới Cộng Sản. Khi Giáo Hoàng John XXIII đăng quang năm 1958  th́ t́nh h́nh thế giới đang chuyển động mănh liệt. Khắp nơi trên lục địa đang đổi sang màu đỏ, nhất là Giáo Hoàng thấy Fidel Castro đă chiếm trọn Cuba, trong khi các nước Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh đang trên đà tiến đến Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Giáo Hoàng phải thay đổi chiến lược để cứu văn Giáo Hội. Ông đă tổ chức Cộng đồng Vatican II để t́m đường thay đổi cho phù hợp với thời đại như nói chuyện, thảo luận với các tôn giáo khác, tha tội cho người Do Thái...Giáo Hoàng đă liên lạc mật với Hồ Chí Minh, công nhân một Việt Nam thống nhất dưới sự lănh đạo của Hồ Chí Minh. Ngược lại Hồ Chí Minh cho tự do tôn giáo, giúp đỡ sửa chữa tu bổ các nhà thờ, cho mở các trường học...Đến khi Giáo Hoàng Paul VI lên thây thế th́ ông ta c̣n đi xa hơn nữa, liên minh với Moscow (Vatican-Moscow alliance). Đó là yếu tố chính đă khiến cho Hoa Kỳ thật bại ở Việt Nam (This alliance became an important factor in the final defeat of the US in Vietnam; trong Vietnam Why Did We Go?)

Rồi đầu năm 1975, khi Cộng Sản tiến chiếm miền Nam th́ Tổng Giám Mục Hà Nội Trịnh Như Khuê đă được đề nghị phong lên chức Hồng Y, đứng đầu Giáo hội Thiên (tr.237) Chúa Giáo Việt Nam, mặc dầu số giáo dân ở ngoài Bắc ít hơn miền Nam rất nhiều.

Bởi thế cho nên, khi đầu con rắn đă chuyển động th́ thân h́nh con rắn cũng uốn lượn theo nhịp nhàng. Khi Giáo Hoàng La Mă đă mở tung cách cửa “phản chiến nguỵ hoà” th́ chức sắc, giáo dân Thiên chúa giáo tại Việt Nam dù là hậu thuẫn chống Cộng sắt thép của hai chế độ Cộng Ḥa cũng theo cánh cửa đă mở đó để tích cực hoạt động cho phong trào chống chiến tranh. Hung hăn và ồn ào nhất là nhóm các linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Trương Bá Cần, Trần Tam Tỉnh, Nguyễn Tử Lộc, Phan Khắc Từ, Vương Đ́nh Bích, Nguyễn Huy Lịch, Huỳnh Công Minh, Nguyễn Viết Khai. Nhóm này có thờ báo Đối Diện làm cơ quan tuyên truyền trải rộng vào các họ Đạo, các nhà thờ, các trường tư thục Thiên Chúa giáo và biếu không cho các đoàn thể chính trị, nghiệp đoàn, sinh viên, thanh niên và bí mật chuyển vào các đơn vị quân đội.

Hăy lấy vài đoạn trong tờ Đối Diện số 21 làm dẫn chứng cho lập trường “phản chiến, nguỵ ḥa” của nhóm Nguyễn Ngọc Lan. Linh mục Nguyễn Viết Khai viết rằng:

- “Xét về vấn đề tổ quốc th́ chúng ta phải thực tâm mà thú nhận rằng phía Bắc Việt họ chiến đấu v́ tổ quốc mà chúng ta chiến đấu v́ Đô-la, v́ địa vị.

- “Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối Giáo hội để có thể không cần thắng Cộng Sản bằng B.52 của Mỹ.

- “Giáo dân phải trở về Bắc để canh tân và hoà giải...Từ một thế kỷ nay Giáo hội thông qua chế độ tư bản...ít phù hợp với Luân lư của các Tiên Tri và Tin mừng. (tr.238)

- “Trong 3,319 triệu con người trên thế giới, Cộng sản chiếm 1,500 triệu c̣n Công giáo chúng ta là một Giáo hội do Đức chúa trời lập ra...mà tất cả vỏn vẹn được 613 triệu...Lạy chúa tha cho chúng con...tại sao lại muốn lấy trứng chọi đá?...”(Tù Binh và Hoà B́nh của Phan Nhật Nam, Sài G̣n, 1974, trang 410-411).

Linh mục Nguyễn Viết Khai là một linh mục di cư chống cộng, đă hô hào chống Cộng theo tinh thần Ngô Đ́nh Khôi, đă nhận rất nhiều tiền viện trợ Mỹ để đưa hàng vạn dân di cư Nghệ Tĩnh B́nh lên định cư ở vùng đất màu mỡ Cao nguyên. Nguyễn Viết Khai thường vào ra dinh Độc Lập làm lễ cho hai ông Diệm, Nhu và gia đ́nh. Nhưng vị tu sĩ chống cộng này đă trở cờ, xoay ngược lập trường 180 độ v́ lá cờ “phản chiến ngụy ḥa” của Giáo Hoàng Paul VI đă phất lên, phất lên ồn ào và công khai từ đầu năm 1965.

Bên cạnh nhóm linh mục chống chiến tranh nổi tiếng một thời trên đây, có nhóm “linh mục nằm vùng” khác. Một Linh mục Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sài G̣n đă nhờ linh mục Cao Văn Luận vận động với Dinh Độc Lập để trả tự do cho nhiều nam nữ sinh viên thân Cộng bị bắt, đặc biệt là trường hợp nhà văn Vũ Hạnh, một cán bộ Cộng Sản vào hạng nguy hiểm để y tiếp tục viết văn, viết báo và làm Giáo sư cho Đại học Cần Thơ. Vị linh mục này cũng thường liên lạc với Tướng Trần Bạch Đằng của Việt Cộng. C̣n linh mục Nguyễn Quang Lăm chủ nhiệm tờ nhật báo Xây Dựng mà mọi người tưởng lầm rằng ông là một “Cây chống Cộng” cho đến sau khi cộng Sản chiếm miền Nam rồi th́ mặt nạ “Việt Cộng nằm vùng” của vị tu sĩ này mới rơi xuống. Nói cho đúng ra ông là một trí thức cấp tiến, thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông bị anh em Tổng Thống Diệm nghi (tr.239) ngờ là thuộc nhóm linh mục Đường Sống, nhóm linh mục thiên tả, bị canh chừng. Thời Nguyễn Văn Thiệu ông chống đối quyết liệt, đă có lần ông theo linh mục Thanh Lăng cùng nhóm nhà báo “đi ăn mày” để chống chính sách đàn áp báo chí của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Chưa hết! Ngoài những linh mục tích cực hoạt động cho Cộng Sản vừa kể trên đây c̣n có nhiều linh mục khác nữa trực tiếp hay qua trung gian cac gián điệp Cộng Sản, cũng hoạt động cho chủ trương “phản chiến nguỵ ḥa” của giáo Hoàng Vatican. Nhóm linh mục này vốn là những linh mục chủ trương chống Cộng đến kỳ cùng nhưng có lẽ v́ bắt được mùi “phản chiến nguỵ ḥa” từ Vatican nên đă cuốn theo chiều gió mà trở thành tay sai của gián điệp Cộng Sản. Nhóm linh mục này gồm có Hoàng Quỳnh tức Tổng Quỳnh nguyên là Tổng chỉ huy Lực lượng Tự vệ Phát Diệm của Giám mục Lê Hữu Từ, Trần Du chủ nhiệm báo Ḥa B́nh, cha Nhuận cố vấn chính trị của tướng Đặng Văn Quang, các linh mục Trần Ngọc Thảo, Trần Ngọc Thụ, Phan Thu, Đinh Xuân Hải v.v...Họ hoạt động dưới sự hướng dẫn của đại diện Ṭa thánh La Mă tại Sài G̣n, của cán bộ Cộng Sản cao cấp như Vũ Ngọc Nhạ, thuộc cụm t́nh báo chiến lược A.22, như Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Thảo con nuôi của Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục, hay Trần Bửu Kiếm từng là Tổng thư kư Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Khi Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng và đồng bọn bị toà án Mặt Trận Sài G̣n đày ra Côn Đảo có nhiều linh mục đă ra tận nơi thăm viếng, liên lạc, tiếp tế, trao đổi tin tức. Khi nhóm Vũ Ngọc nhạ được đưa về đất liền, công tác ở khu Giải phóng sau khi Hiệp định (tr. 240) Paris 1973 ra đời, chính linh mục Hoàng Quỳnh, Linh mục Phạm gia Thuỵ, Linh mục Nguyễn Quang Lăm đă vào tận khu giải phóng Củ Chi và ngoại ô Sài G̣n để thăm viếng, liên lạc. Nhà báo Đặng Văn Nhâm “người biết quá nhiều” trước những hoạt động lộ liễu của nhóm linh mục phản chiến mà không bị chính quyền làm khó dễ - nay sống ở hải ngoại, viết hồi kư, đă phải la lớn lên rằng: quả thật “chiếc áo không làm nên thầy tu là vậy đó”. Rồi tự hỏi: “Phải chăng đă đến lúc Thiên chúa giáo ngầm bắt tay với cộng Sản để chia quyền cai trị đất nước giống như đă công khai chi phối hai thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Ḥa miền Nam Việt Nam” (Tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn, Garden Grove, California số 112, 113, 114, 115, 116).

Cũng cần nói sơ lai lịch về Vũ Ngọc Nhạ, tên gián điệp Cộng Sản khét tiếng thời đó. Bộ Nội Vụ, qua phúc tŕnh của Tổng Nha Cảnh Sát, ghi rằng:

“Cụm A.22 hoạt động và phát triển đều đặn, đă thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhận rằng là huyền diệu và xuất sắc.” Y là một tín đồ Thiên chúa giáo, tay không rời khỏi cuốn Thánh kinh, miệng không ngớt lời cầu chúa. Y tận tuỵ chăm sóc giúp đỡ giáo dân di cư khi c̣n ở Hải Pḥng nên được Giám mục Lê Hữu Từ và Tổng Quỳnh thương mến và tín nhiệm. Vào Nam, y để lộ sơ hở sao đó nên bị Công An bắt giam, được đưa ra Huế để ông Ngô Đ́nh Cẩn giáo dục. Tất nhiên, y đă thu phục được ḷng tin và sự cảm phục của Ngô Đ́nh Cẩn. Cẩn trử tự do cho y, giới thiệu y với Ngô Đ́nh Nhu.

Là một nhà chính trị thiếu thực tế và chỉ am hiểu cộng Sản qua sách vở mà thôi nên Ngô Đ́nh Nhu dễ dàng bị Vũ Ngọc Nhạ khuất phục. Nhu bèn giới thiệu Nhạ với Tổng (tr.241) Thống Diệm và kết nghĩa anh em với Nhạ, tôn Nhja là cố vấn, cho Nhạ đặt văn pḥng ngay trong Phủ Tổng Thống và có quyền ra vào Phủ Tổng Thống bất kỳ ngày giờ nào, không bị kiểm soát. Nhu chết, Nhạ được linh mục Hoàng Quỳnh mời về làm quân sư đóng đô tại nhà thờ B́nh An. Uy tín của Nhạ trong giới Thiên chúa giáo càng ngày càng cao nên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại rước Nhạ vào Dinh Độc Lập, được cả hai vợ chồng Tổng Thống “ FM dầu bạc” Nguyễn Văn Thiệu vô cùng kính nể, Thiệu cũng tôn Nhạ lên làm cố vấn với những đặc quyền như thời Ngô Đ́nh Nhu.

Vũ Ngọc Nhạ hoạt động t́nh báo là để Bắc Việt tiến chiếm miền Nam, nhưng y khôn khéo lấy chiêu bài “Thống nhất Ḥa B́nh” của Giáo Hoàng Paul VI để chiêu dụ các linh mục và trí thức Thiên chúa giáo nên các linh mục như cá mắc mồi đều tích cực hoạt động theo sự hướng dẫn của Vũ Ngọc Nhạ. Sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, Vũ Ngọc Nhạ được Giáo Hoàng ban thưởng cho huy chương có khắc chân dung của giáo Hoàng. Nhạ về Bắc được thăng Thiếu tướng và thường được bạn bè và thuộc cấp gọi là “Ông Cố Vấn” để vừa ca ngợi tài ba của Nhạ vừa mỉa mai cái ngu xuẩn của những nhà lănh đạo miền Nam. (tạp chí Trí Thức và Thời Đại, Hà Nội, số 41).

Ngoài Vũ Ngọc Nhạ ra, những đàn em của Nhạ như Huỳnh Văn Trọng chẳng hạn cũng là tín đồ Thiên chúa giáo. Cả Phạm Ngọc Thảo nữa, vừa là sĩ quan t́nh báo cao cấp của Cộng Sản vừa là con nuôi của Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục, nằm trong bộ năo lănh đạo chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Và Trần Bửu Kiếm đứng sau các tướng tá Thiên chúa giáo như Lâm Văn Phát, Bùi Dinh v.v...Họ tạo nên những cuộc biểu dương lực lượng gây rối loạn cho miền Nam, th́ miền Nam thua Cộng Sản, thua “Mặt Trận Giải Phóng” là đúng lắm rồi! Đó là chưa kể kư giả Phạm Xuân Ẩn cũng là giáo dân Thiên chúa giáo thường vào ra tiếp xúc với văn pḥng Bác sĩ Trần Kim Tuyến và tư dinh của Ngô Đ́nh Cẩn lănh chúa miền Trung. Người mà Nguyễn Văn Thiệu đă từng khen ngợi là kư giả chống Cộng xuất sắc, miền Nam mà có nhiều cỡ kư giả như ẩn th́ Cộng Sản khó mà tuyên truyền. Nhưng khi cờ Việt Cộng đă cắm trên Dinh Độc Lập th́ Phạm Xuân Ẩn hiện nguyên h́nh là Trung tá T́nh báo Cộng Sản. Điều đó khiến chúng ta không khỏi thắc mắc, và đặt nhiều câu hỏi về những kẻ chống Cộng điên cuồng như những loại người chống Cộng kiểu ông Nguyễn Văn Chức?

C̣n nữa! Ngoài hệ thống linh mục phản chiến, linh mục nằm vùng, linh mục cuốn theo chiều gió, khối Thiên chúa giáo c̣n có linh mục Nguyễn Đ́nh Thi hoạt động tại Paris nơi diễn tiến hội đàm Ḥa B́nh, và linh mục Joseph Mari Hồ Huệ Bá, uỷ viên trung ương “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”. Linh mục Trần Quang Nghiêm đại biểu Việt Nam thuộc Mặt Trận Giải Phóng ở Roma, cũng là những con cờ rất đắc dụng cho chủ trương “Phản chiến Nguỵ ḥa” của Giáo Hoàng Paul VI và Toà thánh La Mă.

Nói tóm lại khi phong trào chống chiến tranh Việt Nam do chính vị Giáo chủ cầm đầu giáo hội La Mă đích thân lănh đạo th́ Hồng Y Spellman, các Tổng Thống Johnson, Nixon c̣n sức đâu nữa để chống lại ư muốn của Giáo Hoàng. Khi Giáo Hoàng La Mă chỉ tiếp kiến Nguyễn Thị B́nh, Bộ trưởng Ngoại Giao chính phủ Cách mạng Lâm thời, và Xuân Thuỷ, Trưởng phái đoàn thương thuyết của (tr.243) Bắc Việt, nhưng lại coi thường người con chiên đạo theo là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu th́ số phận miền Nam Việt Nam coi như đă định đoạt rồi, chỉ c̣n là cái xác chết sắp chôn nữa mà thôi!000

Điều quái đản là hoạt động chống chiến tranh của khối Thiên chúa giáo bao trùm rộng lớn khắp quốc tế và Việt Nam như thế mà trong cuốn sách mang danh là Việt Nam Chính Sử, tác giả Nguyễn Văn Chức không hề nhắc đến một chữ, một câu, một gịng. Trái lại ông ta đă dành một số lớn trang sách chửi rủa Phật giáo Việt Nam, nhục mạ các nhà sư cao cấp lănh đạo giáo hội, gán cho họ là tay sai Cộng Sản, là “phản chiến nguỵ hoà”.

- Nguyễn Văn chức đă lợi dụng bức thư của Ḥa thượng Tâm châu đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong để gán cho Thượng toạ Trí Quang là “Kẻ đại nghịch tặc, đại vô đạo, đại vô luân, là Cộng Sản vô thần” (VNCS, trang 16).

Nội dung bức thứ của Hoà thượng Tâm Châu đă được cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (tái bản năm 1993) nói lên một phần. Nhưng, tôi sẽ có thư ngỏ gởi Ḥa thượng để mô tả phong độ và hành hoạt của vị tăng sĩ hiếm thấy trong Phật giáo Việt Nam. Một nhà chính trị hơn là một nhà tu hành đạo Phật.

- Nguyễn Văn Chức đă dựa vào tài liệu và tin tức nguỵ tạo của những người ngoại quốc thân với nhà Ngô như nữ kư giả Margueritte Higgins (chỉ mới đến Việt Nam từ tháng 8 năm 1963 và dời Việt Nam sau khi nhà Ngô vừa bị lật đổ), của cựu Bộ trưởng Bồ Đào Nha, ông Ivan Matéo Combando, một tín đồ Thiên chúa giáo (chỉ ở Sài G̣n vài ngày và không tiếp xúc với ai, ngoại trừ anh em Tổng Thống Diệm) để gán cho cuộc tự thiêu của Ḥa thượng (tr.244) Quảng Đức và mấy chục tăng ni, phật tử hy sinh cho Đạo pháp đều do nhóm đấu tranh của Thượng toạ Trí Quang “có cả một kế hoạch cực kỳ tinh vi và cực kỳ tàn ác để thực hiện những cuộc tự thiêu đúng như sách lược đă đề ra. Một tổ chức tự thiêu cũng gọi là một ban tuyển mộ tự thiêu được thành lập để tuyển mộ ứng viên tự thiêu. Những ứng viên này bị tuyên truyền, bị lừa bịp, bị tẩy năo, bị nhồi sọ, bị xô vào lửa” (VNCS, tr.136).

Chỉ cần lấy vụ tự thiêu của Hoà thượng Quảng Đức ra để đối chứng, ta cũng đủ thấy cái bản chất của ông Chức khi xuyên tạc các vụ tự thiêu của Phật giáo năm 1963-1966 như thế nào! Ông Chức viết rằng: “Không phải Ḥa thượng Quảng Đức đă tự quẹt diêm đốt mà do người khác quẹt diêm đốt Ḥa thượng”

Trong lúc đó th́ hầu hết sách sử người Việt cũng như ngoại quốc đều ca ngợi sự tự thiêu cao cả của Ḥa thượng Quảng Đức. Có nhiều nhà báo ngoại quốc chứng kiến, quay phim và chụp h́nh chẳng hạn như kư giả David Halberstam, kư giả Neil Sheehan, nhiếp ảnh gia Malcolm Brown v.v...

Sheehan sau khi mô tả chính sách kỳ thị tôn giáo và đàn áp Phật giáo của anh em ông Diệm viết về vụ tự thiêu như dưới đây:

“...Những nhà sư đă chống lại bằng phương thức của người Việt Nam. Buổi sáng ngày 11/6/1963, một nhà sư già 73 tuổi tên là Quảng Đức đă ngồi xuống gần một ngă tư đường Sài G̣n, nơi đó cách nhà ở của Đại sứ Mỹ Nolting có vài dăy phố. Nhà sư Quảng Đức ngồi theo thế kiết già trong khi một nhà sư khác với cái b́nh 5 gallons [20lít] bằng mủ đổ xăng lên từ cái đầu trọc trở xuống, xăng ướt đẫm cả (tr.245) áo cà sa màu vàng. Vị sư già chuyển động nhanh nhẹn, tay đưa ra khỏi vạt áo để quẹt diêm, đốt sáng cơ thể thành một biểu tượng của phẫn nộ và hy sinh, đă nhóm lên mồi lửa uất hận trong các trung tâm đô thị của miền Nam Việt Nam” (A Bright Shining Lie, 1988, trang 334)

Trong tạp chí Chấn Hưng số 9 tháng 11/1987 cũng có bài minh xác của Ḥa thượng Tâm Châu về vụ tự thiêu của Hoà thượng Quảng Đức mà ông là nhân chứng hiện diện khi đó và nơi Ḥa thượng Quảng Đức tự thiệu. Hoà thượng Tâm Châu kết luận rằng:

“Với sự hy sinh cao cả v́ đạo pháp của Ngài Quảng Đức cũng như của những vị tử đạo khác, chỉ tự bản thân chủ trương và sáng kiến của các ngài mới làm nên nổi sự nghiệp ấy, ngoài ra không có ai có thể cưỡng ép các Ngài làm được việc ấy! Thế mà ngay sau khi Ngài tự thiêu có kẻ có quyền lực đương thời cho rằng Ngài bị chích thuốc mê và nướng sống. Và sau 20 năm của ngày Phật giáo tranh đấu, có một số người đeo cặp kính mầu chính trị đối nghịch đă giàu óc tưởng tượng phóng ra những bài, những lời hay những quyển tiểu thuyết cho Hoà thượng Quảng Đức là cán bộ Cộng Sản nằm vùng bị cưỡng bức tự thiêu. Thực là một sự tráo ḷng không tượng tưởng được. Chứng nhân của lịch sử có nhiều người c̣n sống mà đă bị xuyên tạc, không hiểu tương lai xa nữa sự thực lịch sử Phật giáo cũng như Quốc gia Việt Nam sẽ như thế nào?”

Chưa hết! Dù sự hy sinh v́ đạo pháp của Ḥa thượng Quảng Đức bằng tự thiêu đă làm rúng động lương tâm thế giới, làm rớt nước mắt hàng triệu triệu người Việt Nam và đă làm cho Tổng Thống Diệm phải vô cùng bối rối đến nỗi (tr.246) phải tuyên bố: “Sau lưng Phật giáo trong nước, hăy c̣n Hiến pháp, nghĩa là có tôi”. Thế mà ông Chức vẫn chưa vừa ḷng, ông ta c̣n đ̣i phải có bằng chứng cụ thể. Bằng lời văn lắt léo ông ta viết rằng:

“Nếu quả thật Ḥa thượng Quảng Đức tự nguyện hy sinh nhục thể để hiến ḿnh cho đạo pháp, nghĩa là tự thiêu để phản đối chính quyền đàn áp Phật giáo th́ tại sao chúng ta (sic) những người ngưỡng mộ sự hy sinh của Ḥa thượng Quảng Đức lại không có một chứng tích? Chứng tích ấy có thể là một di chúc ngắn ngủi do chính tay Ḥa thượng viết hoặc những lời trối trăn của Ḥa thượng ghi trong băng cassette, hoặc một lời tuyên bố của Hoà thượng trước đám đông tăng ni và báo chí vây quanh, trước khi Ḥa thượng tự hiến”. (VNCS, trang 125)

Chắc nhiều người c̣n nhớ sau khi Hoà thượng Quảng Đức vừa tự thiêu, Phật giáo bèn phân phát cho báo chí Sài g̣n để nhờ đăng tải “Lời tâm nguyện” và h́nh ảnh Ḥa thượng đang ngồi viết di chúc. Nhờ đó, nhân kỷ niệm 24 năm Hoà thượng Quảng Đức “vị pháp vong thân”, tạp chí Chân Hưng của Phật giáo (Los Angeles), số 9 tháng 11/1987, mới có tài liệu đăng lên mặt báo cống hiến độc giả hải ngoại những sử liệu quư giá:

7, mới có tài liệu đăng lên mặt báo cống hiến độc giả hải ngoại những sử liệu quư giá:

“LỜI NGUYỆN TÂM HUYẾT”

“Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, trụ tŕ chùa Quan Âm, Phú Nhuận, Gia Định.

“Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho  Phật giáo tiêu vong, nên tôi (tr.247) vui ḷng phát nguyện  thiêu thân già tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo. Mong   ơn mười phương Phật chư Đại đức tăng ni chứng minh cho tôi đắc thành ư nguyện sau đây:

1. Mong ơn Phật tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm sáng suốt   chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.

2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.

3. Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại đức, tăng ni phật tử Việt Nam khỏi nạn khủng bố giam cầm của kẻ ác gian.

4. Cầu nguyện cho đất nước thanh b́nh, quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nên lấy ḷng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách b́nh đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở. Tôi thiết tha kêu gọi chư Đại đức, tăng ni Phật tử nên đoàn kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp”.

Tôi muốn viết rành mạch ra như thế để nói lên ác ư của Nguyễn Văn Chức khi ông ta cố t́nh xuyên tạc và bôi bẩn các vụ tự thiêu của tăng ni Phật tử. Tôi muốn hỏi ông Chức tại sao tạp chí Chấn Hưng là tờ báo mà ông có đọc, có theo dơi, đă đăng bài “Minh xác của Ḥa thượng Tâm Châu” về vụ tự thiêu của Ḥa thượng Quảng Đức, có đăng di ảnh và (tr.248) lời “Tâm nguyện tự thiêu” của Ḥa thượng Quảng Đức, mà ông vẫn gán cho Ḥa thượng là “bị đốt” chứ không phải “tự thiêu”, ông vẫn đ̣i phải có di chúc, phải có lời tuyên bố của Ḥa thượng trước khi tự thiêu? Tranh đấu với chính quyền Diệm hay với bất cứ chính quyền nào cũng phải tuyệt đối bảo mật cho đến khi hành sự mà vẫn gặp rất nhiều trở ngại, khó khắn với đám mật vụ. Cảnh sát Công an của chính quyền. Thế mà ông Chức đ̣i phải thế này, đ̣i phải thế kia, đ̣i phải công khai công bố lại cho Công an có đủ th́ giờ đến kịp đạp máy ảnh, máy quay phim của các kư giả ngoại quốc và bắt Ḥa thượng Thích Quảng Đức quẳng lên ce trước khi châm lửa à.

Tôi lại muốn hỏi ông Chức, tại sao ông biết dựa vào bài báo của Ḥa thượng Tâm Châu đăng trên Văn Nghệ tiền Phong để gán cho Thượng tọa Trí Quang là Cộng Sản vô thần mà ông lại không dựa vào bài minh xác của Thượng tọa Tâm Châu đăng trên tạp chí Chấn Hưng để viết cho đúng sự thật về tự thiêu của Ḥa thượng Quảng Đức?

Hỏi là hỏi vậy chứ tôi cũng biết ông Chức là “nhà giết sử” hơn “viết sử”, đời nào ông ta dám trả lời. Ông Chức đâu phải là kẻ sĩ như những nhà văn hoá Đoàn Thêm, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Vũ Hoàng Chương v.v...đă viết sự thật.

Đoàn Thêm đă viết:

“Trước vài trăm tăng ni, tại Ngă tư đường Lê Văn Duyệt- Phan Đ́nh Phùng Sài G̣n, Thượng toạ Quảng Đức tự thiêu bằng dầu xăng lấy ở một chiếc xe hơi chạy tới. Các nhà báo có chụp nhiều h́nh ảnh” (Việc Từng Ngày, trang 350).

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam viết lời trăn trối có đoạn: (tr.249)

“...v́ thế tôi tự huỷ ḿnh cũng như Ḥa thượng Quảng Đức đă tự thiêu để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do”

C̣n thi hào Vũ Hoàng Chương th́ làm bài thơ “Lửa Từ Bi” ca tụng sự tự thiêu vĩ đại của ḥa thượng Quảng Đức.

Ông cựu luật sư Nguyễn Văn Chức có thừa thông minh để biết rằng những kẻ sĩ vừa kể trên đây khó có ai dễ bị khuất phục để viết sai sự thật, nhưng v́ bản chất xảo quyệt và ngoan cố nên ông Chức bất cần sự thật, bất cần cái lương thiện trí thức miễn viết được những lời chửi rủa, xuyên tạc Phật giáo cho mục đích bênh vực nhà Ngô là ông ta măn nguyện lắm rồi. Cho nên tôi không ngạc nhiên đă có người phê b́nh ông chức là kẻ bất nhân, bạc ác:

“...Từ Hồi kư ăn yến đến Hồi kư bắt cá, tâm địa phản trắc nơi VIP Chức không thay đổi. Từ thế hệ cha sang thế hệ con, mầm vô ơn bạc ác vẫn c̣n nguyên.

Thế này th́ chắc lại phải đi hỏi mấy ông đốc tờ về di truyền bệnh học. Than ôi! Bản chất, độc ác bất nhân, phản trắc, ti tiện đâu phải ngày một, ngày hai mà có. Nó được truyền lại từ nhiều đời. (Diễn Đàn số tháng 3/1990, và Lột Mặt nạ Những Con Tḥ Ḷ Chính Trị, trang 200).”

Ông Chức không những chỉ lên án vụ đấu tranh Phật giáo năm 1963 là do Cộng Sản xúi dục mà đến cả vụ đấu tranh của Phật giáo năm 1966 đ̣i thực hịên tự do dân chủ cũng bị ông Chức nàh sư lănh đạo đấu tranh, Thượng toạ Trí Quang là một cán bộ Cộng Sản (tr.250)

Vụ đấu tranh chống Quân phiệt năm 1966 do Thượng toạ Trí Quang lănh đạo là để đ̣i có Hiến pháp, thiết lập Quốc hội và chính quyền dân cử như chính luật sư Vơ Văn Quan đă phân tách khúc chiết trước toà án Quân Sự xét xử vụ án Bác Sĩ Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng, một tín đồ Thiên chúa giáo nhưng lại theo Phật giáo mà đấu tranh cho chính nghĩa quốc gia. Không như Nguyễn Văn Chức, một luật sư chưa hề biện hộ cho các vụ án lớn, Luật sư Vơ Văn Quan, đă nhiều lần mang áo đen đứng trước Toà án Quân sự biện hộ cho những vụ án nổi tiếng nhất dưới hai chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa.

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, luật sư Quan đă có mặt trong vụ án 18 nhân sĩ trong Phong trào “Tự Do Tiến Bộ” thường gọi là vụ án Caravelle làm sôi nổi dư luận quốc nội và quốc tế v́ bị can toàn là những trí thức, những nhà chính trị và tôn giáo, những nhà cách mạng. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa ông đă biện hộ cho vụ án Ngô Đ́nh Cẩn, em ruột cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và là lănh chúa miền Trung đă có một thời “hét ra lửa, mửa ra tiền”, thiên hạ chỉ mới nghe tên đă khiếp vía, dẻ đă thiết lập nhà giam Chín Hầm mà ai đă vào đó là sẽ gặp tử thần là ra đi không có ngày về. Luật sư Quan cũng đă biện hộ cho Nguyễn Ngọc Giao, chủ tịch sinh viên Huế người đă cầm đầu xả một phong trào sinh viên, thanh niên đầy máu nóng và gan lỳ, hăng say hoạt động.

Về vụ án Bác sĩ Mẫn, trước toà với lư lẽ hết sức sắc bén, với phân tách vô cùng khúc chiết, với biện luận rất hùng hồn phát xuất từ ḷng yêu nước nhiệt thành, với tâm hồn kẻ sĩ, luật sư Quan khẳng định rằng cuộc đấu tranh 1966 do Thượng toạ Trí Quang lănh đạo là cuộc đấu tranh chính (tr.251) nghĩa sáng như mặt trời, là cuộc đấu tranh tối cần thiết để bảo vệ quốc gia sau gần ba năm xáo trộn làm lợi cho Cộng Sản, làm mất cảm t́nh của thế giới tự do, và làm mất niềm tin đối với quần chúng v.v...(Xem thêm Hồi kư VNMLQHT, phụ bản “Hồi kư: Luật sư nghề hay nghiệp)

Thế mà luật sư Nguyễn Văn Chức chỉ dựa vào một bức thư của Hoà thượng Tâm Châu trên báo Văn Nghệ Tiền Phong, rồi gán cho Thượng toạ Trí Quang “đă diễn lại tuồng tích cũ trong mưu đồ lật đổ nội các Nguyễn Cao Kỳ và chính quyền nền Đệ Nhị Cộng Ḥa. Thế giới không tin nữa. Thế giới coi đó là tṛ chính trị mọi rợ. Và người ta bắt buộc phải suy nghĩ lại cái thực chất của cuộc tự thiêu trong vụ đấu tranh mệnh danh là v́ đạo pháp năm 1963”.(VNCS, trang 137)

Tôi muốn hỏi ông Chức “Thế giới nào coi đó là tṛ mọi rợ?” Và “Người ta” bắt buộc phải suy nghĩ lại...đó là ai? Hay “Thế giới đó” và “Người ta đó” chỉ là Nguyễn Văn Chức và những kẻ cuồng tín như ông Nguyễn Văn Chức?

Cuộc tự thiêu của Hoà thượng quảng Đức và các tu sĩ, tín đồ Phật giáo xẩy ra cách đây 30 năm rồi mà sách báo ngoại quốc và Việt Nam mỗi khi nhắc đến là nhắc để vinh danh, để cảm phục, để nhắc nhở một giai đoạn đẫm máu của Phật giáo, một trang sử nhục nhă của Cần lao và nhà Ngô. Thế mà ông Chức tự bôi đen lương tâm để viết rằng “Thế giới...coi đó là tṛ mọi rợ. Và người ta không tin nữa”

Xin ông Chức hăy đọc vài cuốn sách như Vietnam: Why Did We Go? của một học giả người Anh, ông Avro Manhattan, cuốn Vietnam: A History của Stanley Karnow, cuốn A Bright Shining Lie của Neil Sheehan v.v...Đây là những cuốn sách viết hơn 20 năm sau các vụ tự thiêu của Phật giáo (tr.252), ông sẽ thấy họ gán cho Phật giáo là mọi rợ hay anh em Ngô Đ́nh Diệm là rừng rú, côn đồ. Tội nghiệp ông luật sư Nguyễn Văn Chức đă đứng ngược chiều gió mà phun đồ dơ vào người khác (hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu).

Bằng lối dùng thuật ngữ xảo quyệt, bằng thứ ngôn từ lắt léo của các thầy căi đầy dẫy trong cuốn Việt Nam Chính Sử, thứ ngôn ngữ của các mụ đàn bà lắm mồm lắm miệng được các nhà phú hộ thuê đi đ̣i nợ ở thôn quê ngày xưa, hễ gặp dịp là ông Chức vu khống, nhục mạ Thượng toạ Trí Quang.

Nhưng đáng thương cho ông Chức là v́ sự cầm quyền của nhóm quân phiệt Thiệu, Kỳ, Quang...những kẻ mà Thượng toạ Trí Quang chống đối đă làm cho ông luật sư, ngày 29/4/1975 phải chạy thục mạng t́m đường trốn khỏi Sài G̣n. Mời độc giả hăy t́m đọc Hồi kư Mây Tần Mười ba năm trước để nhận chân cái bản diện của ông Nguyễn Văn Chức: nó hào hùng, oai phong như thế nào,...? v.v...Cho đến khi Quân cảnh cho gia đ́nh ông ta lên tàu đào tẩu, “Kẻ sĩ Nguyễn Văn Chức” hú vía bèn thốt ra một câu để đời: “Định mệnh đă đưa tôi vào đất hứa”. Ra đi bỏ mẹ già ở lại trong tay Cộng Sản, không một lời than thở cho quê hương, chỉ mừng là đă về đất hứa. Con người nhát như cáy đó chỉ biết huênh hoang chống Cộng bằng mồm mà lại nhục mạ Thượng toạ Trí Quang, một lănh tụ muốn dùng ḷng dân, dùng chính nghĩa quốc gia mà chống Cộng.

Năm 1966, khối “Công dân Công giáo” khối “Lực lượng Đại Đoàn Kết”, nhóm linh mục Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê, Hồ Văn Vui...chống lại cuộc đấu tranh của Thượng tọa Trí Quang để Kỳ-Thiệu lên cầm quyền. Mất nước làm thân kẻ lưu vong, trí thức Nguyễn Văn Chức mới (tr.253) chịu khó viết sách viết báo chửi bới Thiệu-Kỳ. Ông Chức vô t́nh muốn nối gót Thượng toạ Trí Quang, nhưng than ôi! Đă chậm quá đi rồi.

Về cuộc vận động Ḥa B́nh cho Việt Nam và cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa của Thượng toạ Nhất hạnh, ông Chức viết rằng:

“Chúng ta thấy rơ: Thượng toạ Nhất Hạnh viết để lừa bịp dư luận, ông giống như những cái loa tuyên truyền trên các toa xe lửa tại những nước Xă hội Chủ nghĩa. Gian trá, một chiều, quay quắt và trân tráo. Bất chấp sự thật, bất chấp lịch sử. Đó cũng là những đặc tính của toàn bộ cuộc đấu tranh nguỵ ḥa của nhóm sư săi Ấn Quang tại miền Nam từ 1963-1975”. (VNCS, trang 153)

Không biết ông Chức đă dựa vào cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa nào mà gán cho Thầy Nhất Hạnh một bản án lịch sử nặng nề đến thế. Dưới đây tôi đưa ra vài ư chính trong cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa của thầy Nhất Hạnh để độc giả xem ai là “kẻ gian trá, một chiều, quay quắt và trân tráoai là kẻ vô liêm sỉ: “Nhất Hạnh hay Nguyễn Văn Chức?

“Mỹ càng ào ạt đổ quân th́ Bắc Việt liên tục gởi quân vào miền Nam. Chiến tranh sẽ kéo dài và càng ngày càng khốc liệt. Chiến tranh càng kéo dài th́ dân Việt chết chóc càng nhiều, số thương vong càng lớn, số cô nhi quả phụ càng gia tăng, dân tộc Việt cơ hồ bị tận diệt mà lănh thổ bị tàn phá, điêu tàn v́ thuốc khai quang, chất hoá học, phi cơ B.52 và đại bác hạng nặng của cả hai bên giáng xuống.

Ngưng chiến để thương thuyết giữa “Mặt trận Giải Phóng” và người Việt yêu nước tại miền Nam. Nếu cuộc ngưng chiến thực hiện được th́ sẽ tiến tới việc thiết lập một (tr.254) chính phủ gồm toàn người yêu nước nghĩa là người không Cộng Sản và cũng không tay sai ngoại bang. Thiết lập một quốc gia độc lập, trung lập không theo một ư thức hệ nào, không thân Mỹ cũng không thiên về Nga Sô, Trung Cộng.

Sau khi chánh phủ Quốc gia chân chính ra đời, sẽ tiến tới kế hoạch rút quân Mỹ về nước và thương thuyết với Hà Nội để thống nhất hai miền. Tuy nhiên, ngay sau khi chưa có ngưng chiến, Hoa Kỳ nên rút một ít quân tiêu biểu để tỏ thiện chí thành thực muốn Ḥa B́nh”.

Thượng toạ Nhất Hạnh cũng biết rằng một giải pháp Hoà B́nh như thế không phải dễ thực hiện, nên ông cầu nguyện cho t́nh thương được thể hiệm giữa những người anh em trong nước, nghĩa là những người Việt dân tộc thật sự bên Mặt Trận cũng như bên Việt Nam Cộng Ḥa v́ chỉ có t́nh thương đồng bào, đồng loại mới xoá được hận thù, mới ngồi lại với nhau để nói chuyện thương thuyết, v́ thế ông mới đưa ra lời cầu nguyện.

Điều cần nhớ là lập trường chính trị và giải pháp Ḥa b́nh của Phật giáo đă được Thượng toạ Nhất Hạnh viết thành sách từ năm 1966, nghĩa là khi mà bối cảnh đất nước và t́nh trạng chiến tranh c̣n cho phép có quyền hy vọng vào kết quả của một cuộc điều đ́nh có lợi cho Việt Nam Cộng Ḥa, trước khi có biến cố Tết Mậu Thân 1968.

Cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa c̣n đó, cuốn Vietnam, Lotus in A Sea of Fire c̣n đó, c̣n hiên ngang nằm trong các thư viện lớn của nhiều quốc gia Âu Mỹ. Mọi người có thể dễ dàng t́m đọc để nghiên cứu, để tham khảo, để đối chiếu với cuốn Việt Nam Chính Sử của Nguyễn Văn Chức, xem ai “viết lách gian trá, quay quắt, trân tráo, một chiều (tr.255) bất lương, vô liêm sỉ”. Và để t́m ra sự thật về chủ trương đ̣i hỏi chấm dứt chiến tranh thực hiện Ḥa b́nh của Thượng toạ Nhất Hạnh một bên, và bên kia của Giáo Hoàng Paul VI. Thượng toạ Nhất Hạnh kêu gọi Ḥa B́nh là để miền Nam Việt Nam độc lập và trung lập không theo một ư thức hệ nào, c̣n Giáo Hoàng Paul VI kêu gọi chấm dứt chiến tranh là kế hoạch giúp Bắc Việt tiến chiếm miền Nam như mọi người đă thấy và như tôi đă tŕnh bày trên kia.

Điều đáng buồn là trong lúc ông Chức đặt cho tên sách của ông là Việt Nam Chính Sử - mập nờ nói rằng “chính” là “chính trị” nhưng lại có ngụ ư rằng “chính” trái với “nguỵ” và dám so sánh với Kinh Xuân Thu của Đức Khổng Tử - mà ông Chức không nghiên cứu cho tới nơi tới chốn, cóp nhặt đó đây, cóp nhặt cả những chi tiết sai lầm của thiên hạ vào sách ḿnh, và ác tâm khiến chẳng thèm t́m ṭi xem cộng Sản đối với Thượng toạ Nhất Hạnh như thế nào?

Chẳng những đăc không có tài liệu, sách vở nào của Cộng Sản vinh danh Thượng toạ là Cộng Sản, mà ngược lại trong cuốn Văn hoá Văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ Nguỵ (nhà Xuất bản Văn Hoá, Hà Nội, 1977) đă dành 10 trang giấy để lên án Thượng toạ Nhất Hạnh và cả nhạc sĩ Phạm Duy nữa là phản động là tay sai của Mỹ v.v...Dưới đề mục “Cái gọi là Văn nghệ t́nh thương” mà tôi xin trích ra đây một đoạn để dẫn chứng:

“...Văn nghệ phản động ở giai đoạn này mang rất nhiều khuôn mặt khác nhau, nếu không tinh ư rất khó nhận ra được chúng:

Trước hết lad sự xuất hiện cái gọi là “Văn nghệ t́nh thương”. Lai lịch văn nghệ này dính liền với chính sách “cây gậy và củ cà rốt” (tr.256) của Gion son (Johson) với những luận điệu ve văn “hoà b́nh thương lượng”, “chiến dịch chống nghèo đói bệnh tật” được phát đi từ một bài diễn văn bên kia Thái B́nh dương mùa hè năm 1965 (ám chỉ bài diễn văn kêu gọi chấm dứt chiến tranh của Giáo Hoàng Paul VI như đă nói trên kia). Lối chào hàng này ra đời đúng lúc chiến tranh đang leo thang ác liệt. Cái t́nh thương của nhà Phật và chúa Kitô đă trở thành chiếc áo che đậy cho mọt mưu đồ bịp bợm. Những kẻ khởi xướng thứ văn nghệ này thương đưa ra rất nhiều nhân danh, “nhân danh t́nh thương xoá bỏ hận thù”, “nhân danh một dân tộc hiền ḥa”, “nhân danh Mẹ Việt Nam” để khuyên hai bên ngồi lại gần nhau trong cái cộng đồng huynh đệ, bởi v́ súng đạn theo họ không phải là tiếng nói. Họ c̣n nhân danh thứ ngôn ngữ “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi” để lên án cái gọi là “chiến tranh huynh đệ tương tàn” v.v...Kẻ chủ xướng tiêu biểu cho khuynh hướng văn nghệ này là Nhất Hạnh và Phạm Duy...”

Điểm đáng lưu ư ở đây là kẻ quá khíc giáo điều của cả Thiên chúa giáo lẫn phe Cộng Sản đều gặp nhau ở điểm: muốn kéo dài chiến tranh, bất chấp những đau thương cô bờ bến của dân tộc. Nhưng Cộng Sản muốn kéo dài chiến tranh là để đi đến chiến tranh cuối cùng mà họ đă nắm chắc trong tay. C̣n ông Nguyễn Văn Chức muốn kéo dài chiến tranh là để ḅn mót chút danh lợi cuối mùa, dù biết rằng miền Nam đang như trứng để đầu gậy. Thật thế, kể từ đầu năm 1975, thấy rơ chiếc ghế Tổng Thống của Nguyễn Văn Thiệu đang lung lay, ông Chức vội chạy theo Nguyễn Cao Kỳ tôn Kỳ làm minh chủ, hy vọng Kỳ sẽ thay Thiệu để tiếp tục kéo dài chiến tranh và để ông Chức bước lên thang danh vọng một lần nữa sau khi cái ghế Nghị sĩ bị đánh văng. Không ngờ chẳng làm được tṛ trống ǵ (tr.257) mà chỉ v́ cái vạ miệng, cái phách lối nên bị Công an của Thiệu bắt nhốt vào khám Chí Ḥa một tháng. Ngày 26 tháng 4/1975 được trả tự do về nhà, việc đầu tiên là ngồi ăn một lần 5 kư yên. Đó là kỷ niệm cuối cùng của ông Chức trên đất nước quê hương trước khi chạy thục mạng t́m đường bỏ nước ra đi. Kỷ niệm hiếm hoi đó, nhờ ra hải ngoại viết hồi kư Mây Tần kể lại đẻ khoe sang, khoe giàu, từ đó dân tỵ nạn khắp nơi trên thế giới mới nghe danh ông Chức, và có nhiều người từ đó, tặng ông Chức biệt hiệu là “Nghị yến” hay là “VIP KA KA”

Vấn đề cần đặt ra là tại sao phe Thiên chúa giáo mà Giáo Hoàng Paul VI cầm đầu trong việc tích cực hoạt động cho chủ trương “phản chiến nguỵ ḥa” ồn ào, rầm rộ như thế mà ông Nguyễn Văn Chức không viết vào sách được mệnh danh là Việt Nam Chính Sử? Tại sao ông Chức im lặng trước hàng tá tài liệu sách sử nói về chủ trương “phản chiến nguỵ ḥa” của Vatican trong lúc ông biết t́m ṭi, moi móc, bới lông t́m vết những cuốn sách những bài báo của phe Phật giáo để xuyên tạc, để vu khống?

Chỉ có thể có một trong hai giả thuyết:

- Một là ông Chức không đủ khả năng để viết sử. Nhà viết sử khác với nghề thầy căi thầy c̣, khác với nhà viết tiểu thuyết ba xu. Ngoài việc được huấn luyện chuyên môn, họ phải có liêm sỉ, nhân nghĩa.

- Hai là v́ ông thiếu lương thiện. Đă biết t́m cho ra cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa mà đọc, đă biết theo dơi tạp chí Chấn Hưng của Phật giáo mà tham khảo, tại sao lại không đọc báo Tự Do của người trí thức đồng đạo Phạm Việt Tuyền, sách của Cao Văn Luận, Nguyễn Tiến Hưng, (tr.258) những cuốn sách có đề cập đến chủ trương “phản chiến nguỵ ḥa” của Giáo Hoàng La Mă. Không lẽ lúc c̣n ở quê nhà ông chức chỉ thấy những hoạt động xuống đường của sinh viên và phật tử, mà không nghe không thấy hoạt động thân cộng của các linh mục, không đọc tờ báo Đối Diện, không biết đến vụ án Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng v.v...? Nếu theo dúng luận điệu “chính sử” của ông chức th́ phải kết luận như thế này: “Gian mạnh là ở đó, vô liêm sỉ là ở đó!” (chữ và ư của ông Chức vẫn thường dùng)

Nhưng sự gian trá của ông Chức không ngừng lại đó. Nguyễn Văn chức c̣n chỉ trích sai lầm thầy Nhất Hạnh “ca tụng Hồa Chí Minh là anh hùng dân tộc” trong lúc đó Thượng toạ viết trên giấy trắng mực đên rằng: “...Sự trở lại của người Pháp trước tiên ở Nam Bộ đă khiến cho toàn dân lo lắng. Ư thức chống Pháp đánh Pháp và ủng hộ “Nam Bộ Kháng Chiến” trở nên một sức mạnh yểm trợ cho chính quyền Hà Nội lúc đó. Trong tâm người Việt Nam lúc đó nhất là người dân quê, Hồ Chí Minh là vị lănh tụ anh hùng ái quốc chống Pháp và dành Độc lập cho Việt Nam...(HSTBL, trang 139).

Đó là lịch sử, đó là sự thật mà cả nước ai sống vào thời điểm đó đều phải công nhận Thượng toạ đă viết rất nghiêm chỉnh. Mà dù cho chính Thượng toạ viết, chính Thượng toạ ca tụng Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc cũng đâu có sai với sự thật. ai ở vào giai đoạn quê hương dân tộc trước hoạ xâm lăng mà có người phất cờ lănh đạo kháng chiến lại không tôn vinh nhà lănh đạo đó là anh hùng dân tộc. Ngoại trừ những Việt gian phản quốc như kiểu Lê Chiêu Thống, như Trần Ích Tắc, như Hoàng Cao Khải, như Nguyễn Thân, như Trần Lục, như Tạ Văn Phụng, như Ngô Đ́nh Khả v.v...(tr.259). Hoặc những kẻ mất gốc như chính ông Nguyễn Văn Chức. Nhưng với cái tuyệt kỹ của một thầy căi nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong, thêm trước bớt sau...để vu oan giá hoạ, để nhục mạ lẻ khác, Nguyễn Văn Chức viết:

“Thượng tọa lên án Ngô Đ́nh Diệm, đàn áp Phật giáo chửi Nguyễn Cao Kỳ độc tài quân phiệt và giết hại tăng ni phật tử v.v...Thượng toạ c̣n đi xa hơn nữa. Thượng toạ c̣n ca tụng Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc (VNCS, trang 152).

Nói cách khác th́ theo ông Chức: Ngô Đ́nh Diệm không kỳ thị đàn áp Phật giáo, Nguyễn Cao Kỳ không độc tài quân phiệt, và Hồ Chí Minh người đă kháng chiến 10 năm đánh đuổi được quân xâm lăng Pháp không phải là anh hùng dân tộc?

Điều buồn cười là trong lúc ông Chức hăng say chửi thầy Nhất Hạnh đă ca tụng Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc th́ ông ta quên đi rằng ngay những năm đầu phong trào Việt Minh mới cầm quyền, nhiều chức sắc cao cấp Thiên chúa giáo đă ca ngợi “Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa” và lănh tụ Hồ Chí Minh. Theo cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam, luận án Tiến sĩ của ông Cao Huy Thuần (Los Angeles, Califonia, 1988) th́ khi Việt Minh vừa cướp chính quyền, ngày 29 tháng 9 năm 1945 đă có bốn Giám mục Việt Nam viết thư cho Giáo Hoàng Pio XII nhân danh “Dân tộc Việt Nam” để yêu cầu “sự ban phước lành, ḷng đại lượng cùng các Giám mục cầu nguyện để ủng hộ nền độc lập mà nó vừa mới thu hồi được và bảo vệ bằng mọi giá”. (tr.547)

Và theo cuốn Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm của Linh mục Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, nơi trang 37, đă (tr.260) cho đăng nguyên văn bức thư của bốn Giám mục gửi cho Đức Giáo Hoàng Pio XII như sau:

“Dân tộc Việt Nam chúng con qua sự trung gian của bốn Giám mục xin đệ đến Đức Thánh cha ḷng thành kính sâu xa và xin Đức Thánh cha chúc phúc, cầu nguyện cho nền độc lập mà dân tộc chúng con mới thâu hồi được và sẵn sàng bảo vệ nó với bất cứ giá nào...Các Giám mục Việt Nam nài khản Đức Thánh cha, Ṭa thánh La Mă, các Đức Hồng Y, các Tổng Giám mục, các Đức Giám mục và toàn thể Ky tô hữu thế giới và nhất là nước Pháp, ủng hộ nền độc lập của tổ quốc yêu quí chúng tôi”.

Trong lúc đó th́ Linh mục Cao Văn Luận khi viết hồi kư Bên Gịng Lịch Sử, 1945-1975 tại hải ngoại năm 1983- dù đă làm kẻ lưu vong v́ Cộng Sản - vẫn không hết lời ca ngợi và bênh vực chủ tịch Hồ Chí Minh: “...Tôi vừa kính phục ông Hồ là một nhà Cách mạng, một vị lănh đạo quốc gia có tài”. Chẳng những ca tụng lănh tụ Cách mạng Hồ Chí Minh có tài mà c̣n “lo lắng cho Giáo hội Công giáo Việt Nam, cho tương lai xứ sở Việt Nam. Những quan niệm hẹp ḥi và sai lầm về việc đạo có thể gây ra những xung đột nguy hiểm giữa người Công giáo và phong trào Việt Minh cũng như có thể gây nên những phản ứng bất lợi trên quốc tế cho chính phủ Việt Nam”. (BGLS, trang 50-51).

Và Linh mục Trần Tam Tỉnh đă tuyên bố:

“Danh từ quốc gia hơi hàm hồ. Người Cộng Sản có thể và đă là những người quốc gia. Ai dám nói là Titô, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Dubcek không phải là những người quốc gia. (Thế Hệ số 15 tháng 2/1970, phát hành ở Canada; Đối Diện số 13 tháng 7/1970 đăng lại). (tr.261)

Cũng chưa hết! Ông chức c̣n đi xa hơn nữa. Ông ta lấy bài “Diễn văn chào mừng giải phóng” của Thượng toạ Mẫn Giác được tạo chí Chấn Hưng nhắc lại để khiển trách Thượng toạ, gán cho Thượng toạ là “đóng góp nhiều cho sứ mạng nguỵ ḥa đúng theo sách lược con dao nhọn và bản kinh ḥa b́nh của Việt Cộng” (VNCS, trang 155)

Nếu ông Chức chỉ đả kích hành động của cá nhân Thượng toạ Mẫn Giác- hành động mà chính Phật tử cũng bất măn, cũng đả đảo, bằng chứng là đă công khai, minh bạch khi cho công bố trên tờ Chấn Hưng của ông Bùi Ngọc đường việc làm của Thượng toạ Mẫn Giác- th́ may ra ông c̣n sót lại một chút lương tri. Trái lại ông ta lợi dụng hành động cá nhân của Thượng toạ để xuyên tạc toàn thể Phật giáo Việt Nam.

Trường hợp Thượng toạ Mẫn Giác trên đây là trường hợp hoàn toàn cá nhân, ông ta muốn tâng bốc kẻ chiến thắng, cũng như trường hợp bốn Giám mục tâng bốc phong trào Việt Minh vừa nói trên kia, nó không liên hệ ǵ đến Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam cả. Tuy nhiên, Thượng toạ đă biết sớm tỉnh ngộ v́ sau một thời gian ngắn ngủi thấy Giáo hội gặp nhiều khó khăn nguy hiểm ông vội vượt biển đi t́m tự do. Nhà “ziết sử” Nguyễn Văn Chức đă không chịu phân tích cho điều đó để cuốn “Chính Sử” khỏi bị hoen ố, ông chỉ biết nhắm mắt đẩy đưa ng̣i bút đến hố sâu của chia rẽ và hận thù. Thật đáng buồn!

Tội nghiệp ông Nguyễn Văn chức tronglúc đem tất cả tâm trí vào việc đi t́m sơ hở của các nhà sư, như trường họp Thượng toạ Mẫn Giác, để đánh phá Phật giáo và Thượng toạ Nhất Hạnh, ông lại giữcái thói quen cố hữu, quên cái “sơ hở” của phe ta. Đó là việc đầu hàng Cộng Sản (tr.262) của Giáo hội Công Giáo miền Nam sau khi Bắc Việt chiếm xong miền Nam. Theo linh mục Trần Tam Tỉnh, viện sĩ Viện Hàn Lâm Hoàng Gia Canada, Giáo sư Đại học Laval, trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm th́ ngày 5/5/1975, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh nói về thống nhất đất nước lời lẽ c̣n thuyêt phục hơn:

Sự thống nhất đất nước có thể là cơ hội cho Đức KiTô đến giữa chúng ta. Tin mừng của Chúa là một động lực tuyệt hảo thúc đẩy giáo dân sống theo tinh thần Xă Hội Chủ Nghĩa”.

Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền th́ nhấn mạnh rằng:

Chủ Nghĩa Xă Hội phù hợp với tin mừng

Trong dịp được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tiếp kiến, các Giám mục Nguyễn Văn B́nh, Nguyễn Kim Điền, Nguyễn Ngọc Quang (địa phận Cần Thơ) đă lần lượt xác định lại ḷng tin tưởng của ḿnh đối với chính phủ và hứa làm cho giáo dân cộng tác với toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Cũng theo Linh mục Trần Tam Tỉnh th́ từ đó các Giám mục, Linh mục, nữ tu với con số khá cao dấn thân giam gia cách mạng. Để nêu gương cho giáo dân, Đức cha B́nh và 195 linh mục, 136 nữ tu đă lấy ba tháng từ tháng 5 đến tháng 7/1976 để cùng nhau đi “lao động Xă hội Chủ nghĩa” đào mương đắp đê, làm thuỷ lợi và dựng nhà cho dân chúng v.v...

“Việc dấn thân tham gia hành động cách mạng là một luồng gió mới Thánh linh thổi. Cuối cùng rồi người KiTô khám phá ra cái giá trị “Cách mạng của Tin Mừng” (TG&LG, trang 232-240). (Tr.263)

Hành động cá nhân “đọc diễn văn chào mừng giải phóng” của Thượng tọa Mẫn Giác th́ bị ông Chức gán cho là hành động “đóng góp nhiều cho sứ mạng nguỵ ḥa đúng theo sách lược con dao nhọn và bản kinh ḥa b́nh của Việt Cộng”. C̣n việc ba ông Tổng Giám mục địa phận Huế, Sài G̣n và Cần Thơ cùng rất nhiều giám mục, linh mục, nữ tu dâng trọn Giáo hội Miền Nam cho Cộng Sản th́ ông Chức im thin thít.

V́ quá bận rộn suy nghĩ mọi mưu mô để đánh phá Phật giáo nên lương tâm đen tối, u mê v́ bị một màn vô minh bao phủ che mờ trí tuệ. Cái tâm làm mờ cái tuệ nên ông Chức không c̣n nhớ đến việc Cộng Sản Hà Nội vuốt ve cho các Giám mục, Hồng y Hà Nội, Sài G̣n và nhiều linh mục đi Âu Châu, đi La Mă, viếng thăm Giáo Hoàng để giải độc cho Hà Nội, rằng “Việt Nam Chủ Nghĩa Xă hội” có tự do tôn giáo. Trong lúc đó th́ mấy ông thầy tu Phật giáo chỉ biết t́m cách vượt biên để trốn ra nước ngoài.

Đó là cung cách viết “Chính Sử” của ông Chức, đó là tâm địa, bản chất của con người mang danh trí thức thường báo khoe khoang là một tín đồ của đạo chúa KiTô! Than ôi!

Cũng chưa hết! Ông Chức vẫn tiếp tục đánh phá Phật giáo bằng những luận điệu bịa đặt không ngượng ngập chút nào.

Trong mục Mây Tần trên tờ Lư Tưởng (số 10), tiếng nói của anh em Không Quân ở Texas, ông Chức viết về vụ ba thanh niên Mỹ dẫn đầu một số thanh niên Việt Nam theo sau, biểu t́nh phản chiến ngay giữa phố chính Thủ đô Sài G̣n. Biến cố này được ông Nghị sĩ Chức có mặt tại chỗ, (tr.264) chứng kiến, nhưng ông không có một phản ứng nào, cũng như tại diễn đàn Quốc Hội ông không chất vấn chính phủ, khiển trách ngành Cảnh Sát mặc dù ông tự xưng là kẻ chống Cộng đến chiều. Ra hải ngoại an toàn trên đất Mỹ ông mới viết bài đăng báo chửi rủa bọn thanh niên Mỹ và Việt phản chiến đó. Nhưng ta hăy tha cho ông cái tội nhát như thỏ mà hay nói khoác lác, huênh hoang mà chỉ nói đến cái gian manh của ông ta trong vụ này.

Trong hồi kư Mây Tần, ông Chức không hề viết cuộc biểu t́nh có anh em phật tử của Thượng toạ Thiện Minh tham dự, thế mà khi Việt Nam Chính Sử ông ta lại thêm thắt vào như sau đây:

“Ngày 11/7/1970, ba nhà báo Mỹ...khiêng một chiếc quan tài rỗng đi nhung nhăng trên đường Catinat Sài G̣n. Theo sau là mấy thanh niên Việt Nam tự nhận là sinh viên thuộc “Tổng hội thanh niên Phật tử” của Thượng toạ Thiện Minh. Bọn Mỹ hô Peace now th́ bọn Việt Nam nhẩy cẫng lên hô Peace now. Những con chó của Pavlov không phản ứng đều đặn và chính xác hơn. (VNCS, trang 150).

Về vụ này, trong Lột Mặt Nạ Những Con Tḥ Ḷ Chính Trị, ông Lê Trọng Văn trả lời như dưới đây:

“So sánh hai đoạn văn trên, thấy có nhiều thay đổi, có một đoạn thay đổi quan trọng nhất là: “tự nhận là sinh viên học sinh” thành ra là “tự nhận là sinh viên thuộc Tổng vụ Thanh niên Phật tử” của Thượng toạ Thích Thiện Minh”. Đổi như vậy để làm ǵ, tôi biết chủ đích của ông rồi. Ông Chức phải đổi để chụp cho Phật giáo cái mũ nguỵ hoà đâu có cần sự thật. Đó là tư cách, đó là bản chất của “Nghị yến Nguyễn Văn Chức” thường sử dụng để đoạt mục tiêu đâu có (tr.265) cần ǵ đến sĩ diện, đến liêm sĩ. Bao nhiêu người đă tham dự vào cuộc biểu t́nh đó hiện có mặt tại hải ngoại. Ông chức không chịu kiểm chứng trước khi viết, v́ thế đă viét tầm bậy và gian trá. Cuộc biểu t́nh đó là do một nhóm sinh viên Việt Nam tổ chức, có sự tham dự của mấy người Mỹ phản chiến. Cầm đầu tổ chức này là Giáo sư Trần Tuấn Nhậm hướng dẫn. Ông Nhậm là một giáo sư, một nhà văn, một b́nh luận gia chính trị có tiếng. Giáo sư Nhậm là một người theo đạo Thiên chúa đồng đạo với ông Nghị yến Nguyễn Văn Chức” (LMNNCTLCT của Lê Trọng Văn, trang 187-188)

Không biết khi bị lột mặt nạ như thế ông Nguyễn Văn Chức có cảm thấy nhức nhối hay không mà ông vẫn tiếp tục chửi rủa Phật giáo không tiếc lời.

Đoạn văn dưới đây tôi trích ra từ cuốn Việt Nam Chính Sử của ông Chức (trang 156-157). Tôi muốn để dành cho anh em Quân nhân, Bảo an, Dân vệ, Công chức cán bộ và những anh em đảng viên trong các đảng phái Quốc gia như Đại Việt, Việt Quốc, Duy Dân miền Trung, những anh em gốc Phật tử từng chiến đấu chống Cộng Sản từ 1945,1946 cho đến ngày nay, những anh em từng có bà con thân thích bị hạ sát trong vụ chôn sống tập thể Tết Mậu Thân cũng như trong vụ bị lính Mỹ giết oan tại Mỹ Lai để anh em suy gẫm cho thật thấm thía lời biện bạch của ông luật sư Chức. Tôi muốn nói ông Chức đă mượn chính máu xương của người Phật tử để chửi bới Phật giáo, mượn máu xương của những chiến sĩ, cán bộ người Phật tử chửi bới Phật giáo để tỏ ra ông là người luôn luôn bênh vực người lính Việt Nam Cộng Ḥa và tỏ ra là người có tinh thần chống Cộng cao độ. Nhưng  tiếc rằng chính ông ta nguyên cũng là một (tr.266) quân nhân đă sớm bỏ quân đội để về Sài G̣n theo học làm nghề luật sư để khỏi phải gian khổ, khỏi phải hy sinh. Nguyễn Văn Chức viết rằng:

“Lịch sử sẽ viết rằng trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù Cộng Sản, dân tộc Việt Nam đă bị những tay sai Cộng Sản đội lốt Phật giáo đâm sau lưng những dao trí mạng. bằng tự thiêu, bằng xuống đường và bằng những bản kinh Ḥa B́nh”

Tháng 3 năm 1969, Thượng toạ Thích Thiện Minh bị bắt và bị truy tố trước toà án Quân Sự Mặt Trận Vùng 3 Chiến Thuật về tội phản nghịch và một số tội khác. Cùng bị bắt với Thượng toạ là một số du đăng trốn quân dịch ẩn nấu trong trụ sở Tổng Vụ Thanh niên Phật giáo đường Công Lư. Tang vật gồm nhiều tài liệu Việt Cộng, một bức thư chúc Tết của Hồ Chí Minh và hai khẩu súng A.K” (Tất nhiên, đây là hồ sơ do Cảnh sát thiết lập để buộc tội Thượng toạ, để có lư do bắt Thượng toạ, nhưng đây không phải là sự thật: ghi nhận của người viết).

“Thượng toạ Trí Quang có mời ông đứng biện hộ cho bị can Thích Thiện Minh nhưng tôi từ chối. Tôi nói với Thượng toạ rằng: Tôi đă từng biện hộ cho những tên đặc công can tội mưu sát, cố sát, phản nghịch. Tôi đă từng mặc áo đen đứng nhận lời trối trăn của những tên tử tội Cộng Sản trước giờ hành quyết tại pháp trường cát. Nhưng tôi không thể biện hộ cho những kẻ núp sau tấm áo cà sa để tranh đấu gian lận, một chiều, phá hoại chính quyền quốc gia, đâm sau lưng người quốc gia, trói tay anh em Quân lực Việt Nam Cộng ḥa và tiếp tay cho Cộng Sản thôn tính miền Nam” (VNCS, trang 156-157). (tr.267)

Th́ ra đối với ông cựu luật sư, cự Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức là cứ để cho một chính phủ độc tài gia đ́nh trị, tham nhũng thối nát và cả nhớp nhúa, lộng hành, tội ác nữa (chữ của ông Chức trong VNCS) muôn năm trừng trị và đàn áp và khủng bố, kỳ thị tất cả các tôn giáo Cao Đài, Ḥa Hảo, Phật giáo, tất cả đảng phái quốc gia th́ khỏi cái tội phản nghịch; c̣n đứng lên đấu tranh đ̣i tự do, dân chủ, công bằng xă hội, b́nh đẳngtôn giáo là phản nghịch. Cứ để cho nhóm quân phiệt, vơ biền, tay sai ngoại bang, kẻ “trước sau nếm phân vẫn chỉ là nếm phân” (chữ của ông Chức dành cho ông Thiệu), hèn hạ tham nhũng, lộng hành, thao túng quốc gia, bầy tṛ độc diễn v.v...đè đầu bóp cổ nhân dân, tham quyền cố vị mà bất lực th́ khỏi cái tội phản nghịch, c̣n đấu tranh chống lại đ̣i tự do dân chủ, đ̣i kỷ cương cho quốc gia đều mang tội phản nghịch!

Phật giáo Việt Nam đấu tranh đ̣i b́nh đẳng tôn giáo, đ̣i tự do hành đạo (năm 1963), đ̣i dân chủ, đ̣i hiến pháp, chống quân phiệt (năm 1966), vụ đấu tranh mà luật sư Vơ Văn Quan, trước toà án xử những kẻ đấu tranh đă lớn tiếng gọi là cuộc “đấu tranh có chánh nghĩa và rất cần thiết” bị ông Chức gán cho là phản nghịch.

Ông Chức gán cho các cuộc đấu tranh của Phật giáo là núp sau tấm áo cà sa để tranh đấu gian lận, một chiều, phá hoại chính quyền quốc gia, đâm sau lưng người quốc gia v.v..., nhưng không thấy ông Chức lên án các vụ xuống đường bạo động, biểu dương lực lượng của phe Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê và các tướng tá Thiên chúa giáo như Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát, Bùi Dinh có cả sự cố vấn của cán bộ cao cấp Cộng Sản như Vũ Ngọc Nhạ, Trần Bửu Kiếm, những kẻ làm lạon đường phố, những kẻ (tr.268) đem dao mác gậy gộc đến đâm chém trước cổng tổng Tham Mưu, những kẻ hai lần vào làm loạn trong dinh Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, đ̣i truất phế chính phủ Phan Huy Quát để nhóm quân phiệt Thiệu Kỳ lên cầm quyền đưa đến việc làm mất miền Nam. Tất cả những biến cố này đều được ông Đoàn Thêm ghi vào Việc Từng Ngày, nhưng ông Chức viết Việt Nam Chính Sử lại dấu đi, ếm đi cũng như những cuộc xuống đường, bạo động của phong trào chống tham nhũng do linh mục Trần Hữu Thanh gần cả năm trời cũng không được Việt Nam Chính Sử kể lại, để lên án là phá hoại quốc gia, đâm sau lưng chiến sĩ VNCH.

Xin hỏi ông trí thức- đúng ra th́ cựu trí thức mới đúng, qua đây ông cũng ít nếu không phải vô học như đa số chúng ta- Nguyễn Văn chức nhóm các linh mục Hoàng Quỳnh, Hồ Văn Vui, Mai Ngọc Khuê, các tướng tá Thiên chúa giáo, hay lực lượng “Đại Đoàn Kết” xuống đường, bạo động, biểu dương lực lượng để đưa quân phiệt lên cầm q  uyền...có núp sau lưng áo ǵ để tranh đấu gian lận, một chiều...? Có là những kẻ phá hoại quốc gia, đâm sau lưng người quốc gia, trói tay anh em Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, và tiếp tay cho Cộng Sản thôn tính miền Nam hay không?

Lại xin hỏi ông Chức, người Thiên chúa giáo ở Bắc Ái Nhĩ Lan v́ bị chính phủ đa số Tin Lành ở Anh kỳ thị, áp bức nèn nổi lên chống đối suốt 20 năm bằng khủng bố, ám sát, phá hoại v.v... đó là hành động phản nghịch hay không hay là họ đấu tranh để đ̣i công bằng xă hội?

Ông Chức lại c̣n bảo rằng trong “vụ án Thích Thiện Minh” chính quyền có bắt được tại trụ sở Tổng Vụ Thanh (tr.269) niên đường Công Ly, tang vật gồm có nhiều tài liệu Việt Cộng, một bức thư chúc Tết của Hồ Chí Minh, và hai khẩu A.K. Đă làm luật sư, đă khoe khoang từng biện hộ cho những tên đặc công can tội mưu sát phản nghịch mà ông Chức không đủ thông minh để biết rằng một người khôn ngoan, đa mưu túc trí như Thượng toạ Thiện Minh, một nhà sư đă giữ một địa vị cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nếu quả là cán bộ Cộng Sản th́ không đời nào để tài liệu Cộng Sản trong chùa, huống chi nhà sư đó đang là một người đối lập chính trị với chánh phủ, là mục tiêu cho Công an đến bao vây, khám xét trụ sở bất kỳ lúc nào.

Dù sao lời tố cáo của ông Chức cũng nhắc nhở cho đồng bào và Phật giáo nhớ lại vụ Ngô Đ́nh Nhu và Cần Lao đă ném vài khẩu súng trường Garant và mấy cái quần lót và xu-chiêng đàn bà vào chùa Xá Lợi, đêm tấn công chùa chiền 20 rạng 21 tháng 8/1963. Là luật sư chắc ông Chức không quên tṛ hề ngu xuẩn đó của Ngô Đ́nh Nhu chẳng lừa bịp được ai.

Ông Chức c̣n dựng đứng lên việc Thượng toạ Trí Quang mời ông ta đứng biện hộ cho bị can Thích Thiện Minh nhưng bị ông ta từ chối với lời lẽ đanh thép, ngạo mạn, thiếu lễ độ và thiếu lịch sự tối thiểu của một người mang danh trí thức, nhất là người đó là Nghị sĩ. Nhưng ông Chức không lừa được ai. Bởi v́:

1. Ai cũng biết Thượng toạ Trí Quang là một người cao ngạo, cực đoan nên không bao giờ ông mời một luật sư có đạo Thiên chúa biện hộ cho Thượng toạ Thiện Minh, một cấp lănh đạo của Giáo hội Phật giáo. Huống chi ai cũng biết ông chức là rể ông lính giản Đ.X.K và em vợ của Bác sĩ Đinh Xuân Minh từng phục vụ trung thành cho nhà Ngô. (tr.270) Ông Chức cũng là Nghị sĩ trong liên danh Trần Văn Lắm, liên danh gồm toàn người của nhà Ngô và đang ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu.

2. Thời điểm chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cho bắt Thượng toạ Thiện Minh là thời điểm đang có sự bất ḥa căng thẳng giữa Phật giáo và Thiên chúa th́ Thượng toạ Trí Quang đời nào lại có thể mời một luật sư có đạo Thiên chúa giáo như ông Chức để biện hộ cho Thượng toạ Thiện Minh.

3. Tại sao Phật giáo lại mời ông luật sư Chức trong lúc Phật giáo có vô số luật sư tên tuổi chẳng hạn như Bùi Tường Chiểu, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Cao Hách, Lê Ngọc Chấn, Búi Chánh Thời, Vơ Văn Quan v.v...Toàn là bậc thầy của ông Chức. Ông Chức từng tập sự tại văn pḥng luật sư Bùi Tường Chiểu. Và tất cả những luật sư tên tuổi vừa kể trên đây đều là những trí thức từng chống đối chế độ Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu tất nhiên sẵn có cảm t́nh với Phật giáo.

4. Là một luật sư lại là một Nghị sĩ, ông Chức có thể lên án Phật giáo trước mặt một nhà sư cao cấp bằng lời lẽ thiếu lễ độ và thiếu chứng cớ như “những kẻ núp sau tấm áo cà sa để tranh đấu gian lận, một chiều, phá hoại chính quyền quốc gia, đâm sau lưng người quốc gia, trói tay anh em Quân lực VNCH và tiếp tay cho Cộng Sản thôn tính miền Nam”. Được hay không?

Tôi nghĩ ông Chức không thể có lời lẽ vụ khống trắng trợn như thế, trừ ra, ông ta đang mang bệnh tâm thần. Theo tôi khi viết Việt Nam Chính Sử, ông Chức đă lợi dụng sự vắng mặt của Thượng toạ Trí Quang tại hải ngoại, đă lợi dụng câu chuyện “vụ án Thiên Minh” quá xưa cũ để viết (tr.271) lách huênh hoang khoác lác mà thôi. Tôi dám quả quyết như vậy, v́ 99% nội dung cuốn Việt Nam Chính Sử đều là láo khoét, cũng như hầu hết những bài Mây Tần của ông Chức đều là láo khoét, viết để tự đề cao.Việc nhóm thanh niên Mỹ Việt biểu t́nh phản chiến giữa thủ đô Sài G̣n dưới sự lănh đạo của giáo sư Trần Tuấn Nhậm người Thiên chúa giáo mà ông Chức dám vu khống cho Thanh niên Phật tử Tổng vụ Thanh niên của Thượng toạ Thiện Minh, th́ ông Chức ngại ǵ mà không bày đặt ra cuộc đối thoại gay cấn giữa ông ta và Thượng toạ Trí Quang.

5. Vấn đề c̣n phải đặt ra là không thấy ông Chức cho biết ông ta đă đến chùa Ấn Quang nơi thầy Trí Quang trú ngụ để bàn chuyện biện hộ cho thầy Thiện Minh hay chính Thượng toạ Trí Quang đă đến văn pḥng ông ta. Và trong lúc Thượng toạ Trí Quang và ông Chức đối đáp có nhà sư nào chứng kiến hay không? Cũng không thấy ông Chức cho biết Thượng toạ Trí Quang đă có phản ứng như thế nào sau khi ông Chức đưa ra những lời lẽ thiếu lễ độ, thiếu tế nhị và mang tính chất vu khống Phật giáo là Cộng Sản trước mặt thầy Trí Quang.

6. Năm 1992, ông T.V.T. đă có dịp về Việt Nam thăm gia đ́nh, luôn tiện ông đă sao lại [photocopy] hai trang 156-157 trong Việt Nam Chính Sử của ông Nguyễn Văn Chức đem đến hỏi Thượng toạ Trí Quang. Sau khi đọc xong Thượng toạ Trí Quang mỉm cười và nói: “Chuyện này không có, tôi không có quen ông Nguyễn Văn Chức”. Quí vị nào muốn kiểm chứng xin viết thư về Thượng toạ Trí Quang, địa chỉ tại số 243 Sư Vạn Hạnh, Quận 10, Thanh phố Hồ Chí Minh-Việt Nam. Sự việc đă rơ, bây giờ ông (tr.272) Chức tính sao đây với độc giả về cái tôi ăn tục nói phét, khoác lác, huênh hoang kể trên?

Tôi viết bài này không phải để bênh vực hay ca tụng Thượng toạ Thích Nhất Hạnh. Tên tuổi, uy tín, sự nghiệp văn hoá và cuộc đời hành hoạt v́ đạo pháp của Thượng toạ bao trùm khắp trong nước và ở cả hải ngoại, cũng như con số thính giả tràn ngập Hội trường mỗi khi Thượng toạ thuyết pháp, con số đệ tử của Thượng toạ, người Việt Nam cũng như ngoại quốc có mặt khắp nơi, số tác phẩm giáo lư Thiền của Thượng toạ đối với người Mỹ vào hạng best seller...đă là những bảo đảm vinh sự tuyệt vời cho một bậc cao tăng th́ những lời tán tụng của một kẻ vơ biền như tôi sẽ được đặt vào cấp độ nào?

Tuy nhiên, tôi được hân hạnh đọc cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa của Thượng toạ hồi c̣n ở trong nước, khi đó tác phẩm này mới chỉ là bản đánh máy được một người thân từ Paris gởi về. Lúc bấy giờ Hội Phật tử Việt Kiều hải ngoại chưa in thành sách để xuất bản. Được gọi là nhân chứng thời cuộc, theo dơi sinh hoạt của các chế độ chính trị đương thoừi, cũng như sống giữa ḷng cuộc chiến Việt Nam nên tôi rất đồng ư với lập trường “Độc lập, Trung lập, Ḥa b́nh” của Thượng toạ Nhất Hạnh, một nền “Độc lập, Trung lập” đứng trong hàng ngũ các quốc gia không liên kết mà cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm v́ tham quyền cố vị, v́ quá sợ người Mỹ, đă nhiều lần bỏ dở cơ hội nắm bắt, điều mà tôi sẽ nói ở một loạt bài khác. Tôi cũng may mắn đọc được bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang (tức Thượng toạ Nhất Hạnh) do Lá Bối xuất bản lần thứ nhất tại Paris năm 1978 ngay khi sách vừa ra mắt độc giả. Thú (tr.273) thực, tôi cho đó là một cơ duyên đặc biệt v́ chính những tác phẩm này đă mở mang trí tuệ cho tôi trong việc nghiên cứu sự thăng trầm của Phật giáo Việt Nam.

Tôi viết loạt bài này cũng chưa phải để đối thoại với ông Nguyễn Văn Chức, cựu luật sư, cựu Nghị sĩ, cựu Tổng thư kư Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoà Kỳ. Nhưng tôi sẽ viết một loạt bài đầy đủ hơn về cuốn Việt Nam Chính Sử, về văn phong và nhân cách của tác giả. Tôi phải viết v́ cuốn sách của ông Chức chứa chấp tràn ngập những sai lầm và gian trá. Tôi phải viết để lột trần sự lừa dối của ông Chức đối với độc giả ngày nay cũng như ngày mai. Tôi phải viết về ông Chức đă bóp méo sự thật lịch sử và xuyên tạc nhục mạ những người lương thiện.

Thi hào Vũ Hoàng Chương một nhà thơ hiền hoà, phóng khoáng v́ làm bài thơ “Lửa Từ Bi” ca ngợi sự tự thiêu của Hoà Thượng Quảng Đức cũng bị ông Chức mỉa mai. Cựu Đại sứ Ba Lan tại Sài G̣n, ông Maneli một nhà ái quốc Ba lan, cũng bị ông chức chê bai “không phải là trí thức đúng theo nghĩa trí thức, không phải là người Công giáo đúng theo Công giáo” chỉ v́ ông Maneli đă trung thực phê b́nh “chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị cả thế giới khinh ghét” và “cấp lănh đạo của chế độ Diệm Nhu đă bị cận thị nặng nề mà tôi có thể so sánh với căn bệnh của giới lănh đạo Cộng Sản loại Stalinist. “Tôi phải viết về ông Chức để hỏi ông ta tại sao lại cố t́nh gán cho nghị sĩ Jacob Javits thuộc đảng Dân Chủ, trong lúc nghị sĩ nầy thuộc đảng Cộng Hoà?

Tôi phải viết về ông Chức để hỏi ông ta có phải là CIA hay tay sai toà Đại sứ Hoa Kỳ mà chỉ một ḿnh ông ta là nhân viên Việt Nam được mời ăn cơm riêng với ông Đại sứ để nghe ông Bunker nói xấu Nguyễn Văn Thiệu, dù sao (tr.274) cũng đang là nguyên thủ quốc gia và ông Chức đang là nghị sĩ dưới chế độ ông Thiệu.

Tôi sẽ hỏi ông Chức tại sao ông nhục mạ ông cựu Đại sứ Ba Lan Maneli tại Việt Nam là không phải trí thức công giáo và ăn phải bả của Hồ Chí Minh trong lúc cựu Đại sứ Maneli được mô tả là một trí thức Công giáo yêu nước, cách mạng chống cả Đức Quốc xă, chống Cộng sản rồi trốn qua Hoa Kỳ v.v...

Tôi sẽ viết về ông Chức để chất vấn ông ta suốt đời đă làm được ǵ cho đất nước quê nhà mà dám lớn lối gọi tướng lănh Việt Nam bằng “Thằng Tướng” gọi người quốc gia “những thằng quốc gia ăn c” (xin lỗi độc giả), gọi Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân biểu, Nghị Sĩ, Tối Cao Pháp Viện, trí thức, tướng lănh đều là “chó”, thứ chó hễ thấy phân th́ t́m đến”. (Xem Việt Nam Hải Ngoại, San Diego, số 33 ngày 1 tháng 10/1978)

Tôi phải viết v́ trong đời tôi, tôi chưa thấy một ai mang danh trí thưc lại có tư cách thiếu lương thiện như ông cựu luật sư, cựu nghị sĩ, cựu trí thức Nguyễn Văn Chức. Tôi đă đọc hơn mười mấy bài báo của đủ mọi giới phê b́nh ông Nguyễn Văn Chức trong đó có bài của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, của Đại tá Nguyễn Văn Tự, của giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, của cư sĩ Giới Tử, của ông Lê Xuân Khoa và của nhiều nhà văn, nhiều sĩ quan v.v...Và cả tờ Văn Nghệ Tiền Phong nữa, tờ báo đă một thời tô son điểm phấn cho ông Chức, nhưng đă không thể khoan dung tha thứ cho ông ta về cái tội phản phúc trắng trợn của ông ta.

Những bài báo đó đă phê phán việc ông Chức ăn một lần 5 kư yến trong giờ phút đất nước ngửa nghiêng, việc ông Chức chỉ biết cơng lấy vợ con bỏ nước đi t́m tự do, nhưng (tr.275) bỏ mẹ già ở lại một ḿnh sống chết trong tay Cộng Sản. Việc ông Chức phản bội ân nhân, những người gầy dựng cho ḿnh nên vai vế nhưng lại tự đề cao một cách quá lố bịch...Tuy nhiên, tôi vẫn thấy những bài báo ấy mô tả chưa đầy đủ nhân cách, tính t́nh, tâm địa của ông Chức. Cho nên tôi phải viết về cái hiện tượng kỳ quái ấy của thời đại cho người đời nay và người đời sau khỏi bị mắc lừa, khỏi bị mê hoặc bởi những luận điệu xuyên tạc người hiền lương. Tôi sẽ viết với lương tâm trong sáng, với thái độ tuyệt đối vô tư, trưng bằng cớ đầy đủ và nói có sách, mách có chứng về con người mà cựu Thượng nghị sĩ Thái Lăng Nghiêm đă mắc lầm để cuối cùng phải mắng vào mặt: “Chúng mày là những thằng hèn”.

Tôi phải viết về ông Nguyễn Văn Chức v́ một vấn đề hiến đạo quan trọng khác nữa. Tôi muốn nhắc cho ông Chức biết “Chim có tổ, người có tông, uống nước phải nhớ nguồn”. Dù ngày nay ông Chức coi Toà thánh La Mă như đền thờ quốc tổ của những người Việt Nam có đạo Thiên chúa, nhưng trước năm 1533 trước khi có cố đạo ngoại quốc vào vùng Nam Định, Bùi Chu, Phát Diệm để truyền giáo, ông bà tổ tiên của ông Chức đều là Phật tử cả, đều thờ cúng đạo ông bà.

Đời Lư Trần, nhất là đời Trần từ vua quan đến dân thứ, ai ai cũng thờ đạo Phật. Ông bà tổ tiên của Nguyễn Văn Chức cũng vậy. Nếu ngày nay v́ đầu óc mê mờ hay v́ không đủ tự chủ mà t́m về Văn hoá Đông Phương, t́m về đạo Phật như biết bao nhà khoa học, triết gia, nhà thông thái nổi tiếng nhất thế giới th́ ông Chức nên im lặng, nên giữ lấy giáo điều mà ông tin, chứ sao lại đang tâm viết sách, viết báo chửi bới nền đạo của cha ông tổ tiên ḿnh. Ít nhất (tr276) con người dù có ngu muội đến đâu, cũng có cái ǵ hơn súc vật chứ. Sao làm người cắp sách đi học luật lại viết sách chửi bới nền đạo của ông bà tổ tiên - nghĩa là chửi lại ông bà tổ tiên ḿnh.

Trong loạt bài này sở dĩ tôi đề cập đến ông Nguyễn Văn Chức v́ ông ta đă vu khống, xuyên tạc, nhục mạ Phật giáo quá nhiều và không nương tay, bất tận nhân tính lại gán cho các Thượng toạ Trí Quang, Thiện Minh, Nhất Hạnh là Cộng Sản, là kẻ đâm sau lưng quốc gia, mà lại được ông Tâm Tràng phụ hoạ trên báo Chánh Đạo, do ông Nguyên Trung Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông của Giáo Hội Phật giáo hải ngoại làm chủ bút.

Tôi tự hỏi một cư sĩ trí thức có vôn liếng Phật học khá vững vàng như ông Tâm Tràng tại sao lại không biết rằng một tăng sĩ chân chính của Phật giáo như thầy Nhất Hạnh th́ không bao giờ có thể có lập trường thiên tả hay Cộng Sản được.

“Chủ nghĩa Cộng Sản đă thành h́nh trên một ḍng tư tưởng thuân lư và kết hợp triết lư duy lư của Hegel và triết lư duy vật của Feuerbach. Tất cả các ư niệm của Cộng Sản đều cực đoan đến mức thiên lệch và độc ác. Đạo Phật, ngược lại tránh tất cả những sự cực đoan. Con đường Đức Phật là con đường Trung Đạo. Đức Phật là đấng Đại từ, Đại bi.

Sự trái ngược ở ngay trong ư thức hệ, ở trong căn bản triết lư của đạo Phật và học thuyết Cộng Sản. Qua địa bàn thực hành, ta thấy Cộng Sản chủ trương bạo động. Tinh thần Phật giáo là bất bạo động, phương châm của đạo Phật là tự giác, giác tha và tuỳ duyên, phương tiện không thúc đẩy, không bắt buộc, không bạo hành, không man trá (tr.277) không thiên lệch. “Do đó bất kỳ một tăng sĩ chân chính nào của đạo Phật cũng không bao giờ có thể thoả hiệp được với Cộng Sản, với các chế độ quốc gia độc tài, với các chế độ cực hữu vong bản được. Phật giáo nếu có đi chung với Cộng Sản là chỉ khi nào tổ chức đang bị xâm lăng, cùng đi chung để kháng chiến, dodọc lập, rồi ai đi đường nấy trừ ra Cộng Sản biến thể để trở về với dân tộc.

Phật giáo là đạo của t́nh thương. Tinh thần khoan dung thông cảm từ khởi thuỷ đă là một trong những lư tưởng được yêu chuộng nhất trong nền văn hoá và văn minh của đạo Phật. Chính v́ thế mà suốt gịng lịch sử trải dài trên 2600 năm truyền giáo, đạo Phật đă không để lại một vết tích đàn áp nào hay làm đổ một giọt máu nào để kết nạp người theo đạo Phật hay để truyền bá lư thuyết. Cho nên đạo Phật đă và đang lan rộng một cách thanh b́nh khắp nơi trong nhân loại cả tại Nga, tại nhiều nước ở Phi Châu và kể cả tại Ư Đại Lợi, một quốc gia Thiên chúa giáo, nơi có thủ đô của Giáo hội La Mă, nơi ngụ trị của Giáo Hoàng người cầm đầu Giáo hội, nhân vật mà con chiên được dạy thuộc ḷng câu: “Giáo Hoàng đại diện Thiên chúa ở dưới thế là không bao giờ sai lầm”.

Sự phát triển mau chóng và hấp dẫn c̣n có cơ đi xa hơn nữa trên vùng đất thiêng của Giáo hội La Mă đă làm cho những nhà lănh đạo Thiên chúa giáo La Mă phải lo ngại, phải lên tiếng cảnh giác. (Tuần báo Newsweek số ra ngày 22/8/1994).

Ta hăy nghe lời giải thích của giáo sư Y. Christopher Cleary trong bài “Tại sao Phật giáo phát triển mau chóng tại các nước Tây Phương”. Giáo sư Cleary tốt nghiệp Tiến sĩ về ngôn ngữ và văn minh Đông Phương tại Đại học (tr.278) Harvard với luận án về Giáo lư Thiền của Tử Bá, cũng là tác giả của rất nhiều khảo cứu giá trị về Thiền Tông Trung Hoa và Đại Hàn như: The Blue Clifford Records, Swampland Flowers, Zen Darwin, A Buddha From Korea, Zibo, The Last Great Zen Master of China, hiện sống ở Arlington, Massachussetts. Ông giải thích sự khác biệt về Phật giáo và Thiên chúa giáo như sau:

“Sự vật luôn luôn khác nhau khi chúng ta nh́n từ những quan điểm khác nhau. Đối với nhiều người Việt Nam hiện nay, Phật giáo có vẻ giống như một huyền thoại lỗi thời, những mê tín dị đoan và những nghi lễ vô nghĩa lư, những ǵ để an ủi mấy bà già trong những năm tháng suy tàn. Đối với họ, Thiên chúa giáo gắn liền với những ǵ hiện đại, mới mẻ tiến bộ khoa học. Người Việt Nam hẳn sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng đối với những người Tây Phương có đầu óc tiến bộ, chính Thiên chúa giáo mới là một sự huyền thoại lỗi thời, mê tín dị đoan và những nghi lễ vô nghĩa lư. Người Tây Phương thừa biết rằng chẳng có mấy người có đầu óc tiến bộ mà lại tin nơi Thiên chúa giáo. Những ai có kiến thức về lịch sử Âu Châu đều biết rằng Giáo hội Thiên chúa giáo đă làm đủ mọi cách trong quyền lực của họ để cố ngăn chận sự phát triển của khoa học cũng như những lối sống và suy nghĩ mới. Ở Mỹ hiện nay những tín đồ Thiên chúa giáo cực đoan là những kẻ đứng đầu trên giới tuyến chống lại cái tập quán mới và thế giới khoa học. Do đó trong tâm thức Tây Phương, Thiên chúa giáo được gắn liền với một thứ chủ nghĩa truyền thông lạc hậu, một thứ nuối tiếc những thời đă qua. Ở Tây phương phần đông các tín đồ Thiên chúa giáo sùng tín thường là những kẻ ít học nhất, những thành phần thấp kém (tr.279) kinh tế trong quần chúng, những kẻ chẳng có ǵ để trông ngóng nữa cả.

Dĩ nhiên, đa số người Tây phương c̣n hiểu biết rất ít về Phật giáo. Cho đến khi sự kỳ thị chủng tộc của người da trắng bắt đầu suy vi trong mấy thập niên vừa qua, và một số người Tây phương bắt ffầu công nhận rằng nền văn hoá của họ không nhất thiết có tất cả các giải pháp cho mọi vấn đề, có rất ít người Tây phương muốn t́m hiểu về Phật giáo hay bất cứ ǵ về văn hoá hay tôn giáo Á Châu. Giờ đây t́nh trạng đă đổi thay, thế giới quan của Phật giáo đă được hiểu biết nhiều ở Tây phương và đă có nhiều người Tây phương ưa chuộng Phật giáo.

Đối với người Tây phương hiểu biết, so với di sản Thiên chúa giáo của họ, Phật giáo lư thú hơn ở rất nhiều mặt. Khác với Thiên chúa giáo, Phật giáo không đ̣i hỏi Đức Tin mù quáng vào những giáo điều không thể chứng minh được. Phật giáo khuyến khích người ta chứng nghiệm các giáo lư theo kinh nghiệm của riêng ḿnh. Khác với Thiên chúa giáo, Phật giáo không dựa trên một huyền thoại về đời sau, với những đe doạ địa ngục và những hứa hẹn Thiên đàng. Giáo lư Phật giáo đối trị vấn đề mà người Tây phương gọi là tâm lư học với một ư hướng thực tiễn đưa đến hiểu biết và cải thiện các tác năng của tâm thức ở ngay đây và hiện giờ...(Tạp chí Văn Uyển số 2, San José, 1992, trang 56. 57. 58)”

Phật giáo không chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản, nên Tây Tạng một Quốc gia chỉ có 6 triệu dân toàn là tín đồ Phật giáo mà luôn luôn quật cường chống lại kẻ thực dân khổng lồ Trung Cộng. Phật giáo Mông Cổ đă hy sinh lớn lao, đóng góp xương máu cho công cuộc giải thoát Quốc gia khỏi chế độ Cộng Sản. Phật giáo Cao Mên đă là hậu (tr.280) thuẫn chính giúp Quốc Trưởng Sihanouk phục hồi tự do, dân chủ cho xứ Chùa Tháp. Phật giáo Miến Điện đă là hậu thuẫn cho hai cựu Thủ Tướng Unu và Newin chống lại Trung Cộng giữ vững nền độc lập quốc gia, và hiện đang cùng với các lực lượng thanh niên và sinh viên hoạt động chống chế độ độc tài quân phiệt đương quyền. Há lẽ Tâm Tràng và Nguyên Trung không biết rằng Giáo Hoàng Paul VI và nhiều nhà tôn giáo, trí thức nước ngoài c̣n biết vận động Ḥa B́nh cho Việt Nam mà Thượng toạ Nhất Hạnh đại diện cho 80% dân chúng theo đạo Phật và đạo ông bà lại điềm nhiên toạ thị, ngồi nh́n quê hương dân tộc ḿnh chết chóc, tàn phá huỷ diệt? Huống chi Giáo Hoàng Vatican hô hào chấm dứt chiến tranh là để thỏa măn tham vọng của khối Cộng Sản, c̣n Thượng toạ Nhất Hạnh vận động Ḥa B́nh là để Việt Nam được Độc Lập và Trung lập như cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa đă mô tả chi tiết rơ ràng.

Do đó tôi nghĩ rằng có lẽ Tâm Tràng v́ bị mấy năm cải tạo và Nguyên Trung v́ bị ở lại quá lâu trong nước sau 1975, nên tâm trí đâm ra hoang mang rồi nghi ngờ chủ trương Ḥa Binh, Trung lập của Thượng toạ Nhất Hạnh, chủ trương mà những kẻ thụ hưởng dưới hai chế độ Đệ I, Đệ II Cộng Ḥa rất thù ghét. Cũng có thể Tâm Tràng và Nguyên Trung bị đầu độc bởi luận điệu cả vú lấp miệng em của những kẻ thù ghét Phật giáo mà tiêu biểu nhất là cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức tác giả cuốn Việt Nam Chính Sử. Tôi nói vậy v́ Chánh Đạo c̣n trích đăng hai bài báo của ông Chức đả kích ông Nguyễn Đ́nh Huy và “Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc” và “Xây Dựng Dân Chủ” của ông Huy. Phải chăng trích đăng bài của ông Chức có nghĩa (tr.281) là Chánh Đạo đồng ư với quan điểm chính trị của ông Chức, coi ông Chức xứng đáng là lănh tụ chống Cộng, là thần tượng, là nhà chính trị số một tại hải ngoại? Những ǵ ông Chức viết ra từ cuốn Việt Nam Chính Sử đến những bài báo chống đối phong trào Nguyễn Đ́nh Huy đều là kinh điển bất khả xâm phạm? Tại sao có nhiều bài báo đả kích phong trào Nguyễn Đ́nh Huy như bài của ông Lê Phước Sang, Phạm Nam Sách, Nguyễn Văn Kim, của một nhóm Đại Việt, một nhóm Việt Quốc v.v...Chánh Đạo không trích đăng mà chỉ đăng bài của ông Chức, đăng đến hai bài? Huống chi ông Chức đă tỏ rơ lập trường coi Phật giáo, coi các phong trào Văn Thân, Cần Vương kháng Pháp là kẻ tử thù. Có thể nào Chánh Đạo, tiếng nói của Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam Hải Ngoại Hoa Kỳ, lại làm tay sai cho kẻ luôn luôn triệt hạ, đánh phá cho tan nát Phật giáo để bôi xoá mặc cảm của ḿnh khi có dịp?

Những kẻ chỉ trích mạ lỵ phong trào Nguyễn Đ́nh Huy là “c̣ mồi” là “con đĩ” của cộng Sản, nhưng ông Nguyễn Đ́nh Huy và đồng chí của ông ta là những người có thành tích đấu tranh chống thự dân Pháp, chống độc tài Ngô Đ́nh Diệm và chống Cộng Sản. Thành tích mà những Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Văn Kim chưa bao giờ có.

Sau mười mấy năm ở tù cải tạo, họ không ra nước ngoài để thụ hưởng cuộc sống vật chất, an b́nh mà nhất định ở lại giữa ḷng quê hương để tiếp tục đấu tranh. Ở trong nước, tất nhiên họ biết rơ nội t́nh chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa hơn người ở hải ngoại. Họ biết không thể chống Cộng bằng bạo động, cũng không ai có thể lật đổ nổi chế độ Cộng Sản, chế độ đương quyền. Chỉ có t́nh h́nh thế giới nói chung, và t́nh h́nh Đông Nam Á nói riêng là có (tr.282) thể làm cho chế độ Xă Hội chủ nghĩa biến thể. Họ lập phong trào “Thống Nhất Dân Tộc” và “Xây Dựng Dân Chủ” là để thúc đẩy cho cơn biến thể của “Chủ Nghĩa Xă Hội” đi mau hơn mà không có những cuộc tắm máu khi có thay đổi chính quyền. Nhờ giáo sư Stephen Young, một người bạn thân của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đàn anh và lănh tụ cũ của nhóm Nguyễn Đ́nh Huy đứng trong hàng ngũ lănh đạo của Phong trào để giao thiệp, về phía Mỹ đang muốn trở lại Việt Nam với tư cách là bạn. Đó là một chủ trương hợp lư, hợp thời và không ngoan.

Rất tiếc, những người bỏ nước ra đi gần 20 năm qua tại hải ngoại đă không làm nên tṛ trống ǵ, chỉ chống Cộngbằng mồm và chỉ chống đối lẫn nhau, chửi rủa lẫn nhau, làm nát cộng đồng, mua lấy sự khinh thường của người Mỹ và những cộng đồng di dân khác, nhưng lại vội vă lên tiếng đả kích Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy mà nhân vật ồn ào nhất lại vẫn là Nguyễn Văn Chức, một cái thùng rỗng kêu to.

Là một Phật tử, tôi thật buồn mà thấy báo Chánh Đạo đă trích đăng hai bài báo của ông Chức chống đối Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy mà không đếm xỉa đến những tiếng nói trung thực đang vang lên từ đáy ḷng của đại đa số những người yêu nước.

Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy vừa mới có tiếng vang ra hải ngoại liền bị chống đối, kư giả Vạn Hùng ở Santa Ana liền phỏng vấn cụ Trần Trung Dung, một thành viên trong ban lănh đạo của Phong trào, hỏi cụ có ngại sự bôi bẩn không? Cụ Dung trả lời: (tr.283)

“Không! Tôi già rồi sống nay chết mai, làm được ǵ cho đất nước th́ làm. Thấy những bạn bè cũ của ḿnh ở hải ngoại chửi rủa là làm tay sai cho Cộng Sản, là thế nọ thế kia, thú thực chỉ thấy tiếc thôi. Tại họ không hiểu. Cuộc đấu tranh này phức tạp lắm thành ra đôi khi tưởng ḿnh đang chống Cộng lại đâm ra giúp phe Cộng Sản bảo thủ đấy”.

Mười ba năm ngồi tù cải tạo, 80 tuổi chồng chất lên một đời người với một dĩ văng chống Cộng từ thời 1945, và chống thực dân Pháp khi Pháp âm mưu trở lại tái chiếm Việt Nam, con người đó có thể làm tay sai cho Cộng Sản nữa hay sao?

Cuộc Hội thảo của Phong trào dự định tổ chức ngày 27/11/1993 tại Sài G̣n, bị nhà cầm quyền Hà Nội cấm chỉ. Ông Nguyễn Đ́nh Huy và một số đồng chí của ông ta, kẻ bị bắt, kẻ bị quản thúc tại gia, kẻ trốn tránh. Sự t́nh này đủ bảo đảm cho uy tín và danh dự của Phong trào, đủ chứng minh Phong trào không thể là con đẻ hay tay sai của Cộng Sản.

Trước cơ nguy của Phong trào, giáo sư Young vẫn tiếp tục hoạt động, ông đến Paris để làm sáng tỏ lập trường sáu điểm của Phong trào. Hoạt động của ông tại Paris và lập trường chính trị của ông đă được một nhân vật khả kính là cư sĩ Đông Phương Mai Lư Cang thuật lại trên báo Người Việt tại Santa Ana mà tôi được đọc.

Theo Đông Phương Mai Lư Cang th́ giáo sư Young, sau khi trả lời bài phỏng vấn của đài truyền h́nh Pháp RF-1, liền được ủy ban Dân Chủ mời chủ toạ buổi mạn đàm thân hữu quy tụ đủ mọi thành phần trí thức, chuyên viên, các yếu nhân chiến lược gia chính trị, kinh tế, dưới thời Đệ I, Đệ II Cộng Ḥa Việt Nam, đại diện các đảng phải (tr.284), Hội đoàn và các tổ chức thanh niên, sinh viên của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. Theo dơi suốt thời gian mạn đàm th́ hầu hết các cử toạ đều có cảm tưởng chung rằng ông Young- một thành phần dâu rể của Việt Nam- quả thực là người khả dĩ đă nắm vững được t́nh h́nh chính trị, kinh tế và nội t́nh của đảng Cộng Sản Việt Nam đang ở vào thời buổi bây giờ. Cũng theo Đông Phương Mai Lư Cang th́ rơ ràng sự kiện này đă chứng minh thêm một lần nữa về tính cách ngây thơ, khi có dư luận cho rằng tổ chức của nhóm ông Nguyễn Đ́nh Huy và Phạm Thái đă rơi ngay vào trong cái bẫy đă chực sẵn.

Trong đoạn kết luận của bản tường tŕnh, ông Đông Phương Mai Lư Cang kêu gọi rằng:

“Trong lúc những ai đă từng ngộ nhận dán cho kẻ khác những nhăn hiệu mà họ không bao giờ dùng tới th́ người ta phải ước muốn thiết tha đ̣i hỏi tất cả mọi người nên đặt lại giá trị của cộng đồng để có những đánh giá đúng mức về khả năng, trọng nghĩa mến tài, tinh thần đoàn kết và tôn trọng mọi sự hợp tác lẫn nhau để gây sức mạnh có nhiều uy tín với kiều bào. Và cũng đừng coi thường tŕnh độ hiểu biết chính trị của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam (Người Việt, số 2946 ngày 31/12/1994).

Ngoài ra, trước khi có bài tường tŕnh của Đông Phương Mai Lư Cang, tờ Thời Báo một đồng nghiệp của Chánh Đạo tại San José đă đăng tải một bài khá dài bênh vực chủ trương của Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy của nhà báo Hải Triều, một cựu sĩ quan đă từng ở tù cải tạo rồi vượt biên. Trước khi đưa ra những phân tách rành mạch chứng minh Phong trào TNDT và XDDC là một phong trào yêu nước, chống Cộng, nhà báo Hải Triều vốn là đệ tử, là cán bộ của (tr.285) cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (mà ông Stephen Young là bạn tri kỷ của cố giáo sư Huy) đă có lời than trách đầy uất hận những kẻ chống đối phong trào Nguyễn Đ́nh Huy:

“Khi phải lội chả ai thích lội ngược gịng. Có phải tôi đă lội ngược gịng hay không khi một số không nhỏ hội đoàn và cá nhân ở hải ngoại” đổ bùn và đội nón cối” lên đầu những người yêu nước Phong trào TNDT và XDDC ở nội địa, th́ tôi lại viết bài bênh vực họ.

Tôi đă bị những thế lực, bè nhóm phản động ném bùn và chụp mũ, tôi bất chấp những điều đó trong lương tai. Tôi đă thấy nhiều nghịch lư mờ ám trong sinh hoạt đấu tranh ở hải ngoại và điều đó đă vô t́nh hay bị khai thác chuyển hoá đánh những nhân tố tiếp sức cho chế độ Cộng Sản bảo thủ tại Việt Nam để họ có điều kiện sống lâu hơn trên nỗi thống khổ của muôn dân” (Thời Báo, San José số ra ngày 18/12/1993).

Có lẽ cũng phải nói thêm rằng, sau khi đọc bài phỏng vấn ông Nguyễn Đ́nh Huy của nhà báo Chử Bá Anh và bài phỏng vấn cụ Trần Trung Dung của kư giả Vạn Hùng, tôi liền gọi điện thoại cho cựu Tướng Trần Văn Nhựt, người cầm đầu đoàn thể chính trị ủng hộ Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy tại hải ngoại, và gọi cả cho kư giả Vạn Hùng nữa để chia sẻ nỗi ưu tư với họ trước những phá phách, xuyên tạc của những con múa rối.

Nhà báo trẻ Nguyễn Anh Tùng từ San José tháp tùng Tướng Tôn Thất Đính đến Fresno cũng có hỏi ư kiến tôi về những bài báo đả kích Phong trào Nguyễn Đ́nh Huy. Tôi trả lời Anh Tùng rằng tác giả những bài báo đó chỉ là kẻ “múa gậy vườn hoang” làm tṛ “sơn đông măi vơ”. Nếu có dịp anh hăy hỏi họ xem gần 20 năm qua họ đă làm được ǵ cho đất nước quê hương? Riêng ông Nguyễn Văn Chức, (tr.286) anh hỏi ông ta khi chỉ trích ông Nguyễn Đ́nh Huy và ông Young, ông ta có nhớ ông ta và hai cựu luật sư, nghị sĩ nữa đă viết thư cho Tống Thống Bush nhờ chống Cộng dùm, khi Tổng Thống Bush mới vào toà Bạch ốc đầu năm 1989.

Từ đó, ngoại trừ một ḿnh ông Nguyễn Văn Chức c̣n viết bài chỉ trích Phong trào ông Nguyễn Đ́nh Huy và 6 điểm lập trường của Giáo sư Young, tiếng nói chống đối tại hải ngoại tắt lịm dần để tiếng nói chính nghĩa vang vọng lên mà bênh vực Phong trào ông Nguyễn Đ́nh Huy trong đó có tờ Người Dân Thầm Lặng ở Costa Mesa, tờ báo được tiếng đứng đắn, không phải là thứ báo lá cải, đă có những lời lẽ ca tụng các ông Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt...và Nguyễn Đ́nh Huy với Phong trào TNDT và XDDC là: “những bậc anh tài rất kiệt xuất gồm đủ các mưu trí, dũng cảm và khoan nhân...những anh tài này bằng lời nói, việc làm, phẩm cách của họ, chúng ta có thể tin tưởng cách vững chắc rằng họ là tinh hoa của dân tộc, là niềm hy vọng của quốc dân cho một quê hương Việt Nam có dân chủ, nhân quyền và t́nh người trong tương lai.

Người Dân Thầm Lặng cũng phiền trách “những quy chụp, bôi bẩn về họ như trường hợp ông Nguyễn Đ́nh Huy và chiến hữu trong Phong Trào “TNDT và XDDC” (bài của ông Nguyễn Hữu Đức, NDTl, Costa Mesa, số tháng 7/1994 trang 16).

Đang phấn khởi với những bài báo ca ngợi những chiến sĩ đấu tranh ở trong nước, những bài báo đầy khích lệ có thể hoá giải những hoang mang chán nản của thành phần quốc gia chân chính nhưng không nắm vững t́nh h́nh, những thành phần bị mê hoặc bởi những bài báo chống đối (tr.287) th́ tôi nhận được một bức thư đầy hỷ nộ ái ố của một đàn em ở Úc, anh ND, cựu Thiếu tá Không Quân F.5, một phật tử thuần thành suốt mấy năm trời một ḿnh hy sinh đóng góp cho một ngôi chùa tại Ninh Ḥa (Khánh Ḥa) được trùng tu lại (Báo Giao Điểm biết rơ vụ này). ND đă viết như sau:

“...Mới đây NDC có gởi cho cháu một số bài báo về vụ Thanh Lan, về việc Cộng Đồng Việt Nam ở Mỹ...chống Cộng! Cháu nghĩ có lẽ đúng như Bác Trần Văn Kha nói là thời buổi này họ chống nhau, hại nhau, giết nhau chớ c̣n Cộng Sản th́ có hề hấn ǵ đâu, mà tụi nó c̣n vỗ tay cười khoái trá nữa! Mấy hội mấy đoàn bên đó cũng không khác bên này là bao. Người ta lập Hội, lập Đoàn là để đi ăn nhậu  và thỉnh thoảng chống nhau lấy tiếng mà thôi! Rút rồi chuyện họ họ làm c̣n bà con ta th́ không màng để ư tới nữa. Ở đây cũng vậy, nội việc bầu bán Chủ tịch Cộng đồng thôi đă làm cho báo chí tốn không biết bao nhiêu giấy mực v́ những tṛ ma mănh, v́ gian lận...! Làm cho bà con ta nghĩ là thôi lo làm ăn cho rồi ai làm ǵ mặc ai. Cháu biết có người từ trước rất hăng hái hoạt động nhưng bây giờ th́ “ngồi nhà đọc báo sướng hơn” (Anh ta nói vậy)

Như vụ họ chống Stephen Young bị hố, bây giờ quay lại chống nhau, khia trừ nhau và chối bai bải là...tui nói vậy mà không phải vậy! C̣n một điều quan trọng này nữa, cháu cũng cần thưa với Bác. Là ở hải ngoại, dường như người ta chỉ muốn trong ṿng đôi ba ngày hay một tuần lễ th́ về nước nắm chính quyền ngay. Mà cháu nghĩ, nếu là vậy th́ đất nước dễ có cơ ră tan v́ nạn bè phái và nghi kỵ lẫn nhau. Ngay cả trong nội bộ một số đoàn thể kể cả Phật giáo chia (tr.288) phe chia phái th́ mong ǵ sự xuất hiện một tổ chức thống nhất!”

Điều này làm cho tôi nhớ lại vào khoảng cuối năm 1993, nhân chống lại chủ trương của tướng Trần Văn Đôn muốn tổ chức một buổi hội thảo cựu chiến binh cho cả các phe phái kể cả cựu chiến binh Cộng Sản. Tại Hoa Kỳ, một số độ 5,6 ông Tướng mà Huỳnh Văn Cao (lại Huỳnh Văn Cao) kư đầu, ra tuyên ngôn gắt gao lên án Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, đ̣i hỏi Hà Nội tức khắc phải trở về Hiệp định Genève 1954, tức khắc phải thả hết tù cải tạo, tức khắc phải thi hành chế độ đa quyền, đa đảng v.v...và v.v...Cái ǵ cũng tức khắc cả. Tôi c̣n nhớ cựu đại tá Trần Văn Kha có viết bài phê b́nh bản tuyên ngôn này. H́nh như ông Kha viết rằng: các ông Tướng đánh giặc thua để cho Việt Cộng thắng, rồi các ông bỏ quân, bỏ thành mà chạy th́ họ chiếm chứ sao lại bảo họ cưỡng chiếm. Các ông đ̣i Hà Nội cái ǵ cũng tức khắc thi hành như ư muốn của các ông tại sao các ông không ở lại trong nước hay trở về nước mà đ̣i. C̣n ngồi tại Mỹ th́ các ông đ̣i ai, các ông nói chỉ các ông nghe hay là chỉ có những kẻ chống Cộng đến chiều nghe chứ Cộng đâu có nghe. Các ông chỉ tuyên bố cho oai, cho sướng miệng, tuyên bố để lấy tiếng!

Xin hỏi ông Huỳnh Văn Cao và các ông Tướng kư tuyên ngôn chống chế độ Hà Nội, tại sao khi c̣n chế độ Diệm các ông không chống, khống đ̣i trả tự do tức khắc cho những người quốc gia yêu nước, không ra tuyên ngôn kết tội chế độ Diệm đă sát hại không biết bao nhiêu người yêu nước, chẳng hạn như các ông Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, Hồ Hán Sơn, Lê Quang Vinh, Vũ Tam Anh v.v...(tr.289)

Chế độ Diệm cũng là chế độ độc tài độc đảng, tại sao các ông cúi đầu phục vụ không ra tuyên ngôn đ̣i thực thi chế độ đa nguyen đa đảng? Có phải các ông chỉ chống Cộng bằng mồm, chống Cộng cho oai không? Đó là t́nh h́nh chống Cộng 19 năm qua tại Hải ngoại. Hậu quả của cung cách chống Cộng hài hước, hát tuồng đó v́ nhiều nguyên do, mà nguyên do chính vẫn là v́ giới trí thức không đủ khả năng, phẩm cách làm công việc giáo dân, hướng dẫn quần chúng về chính trị và tranh đấu. Đó là hậu quả tất nhiên của những bài báo, cuốn sách, bài tham luận, những lời tuyên bố vô trách nhiệm...của những ông lănh tụ, chính khách, tướng tá kiểu Nguyễn Văn Chức, Huỳnh Văn Cao v.v...chỉ biết chống Cộng bằng mồm, chống Cộng để lấy tiếng, chống Cộng để khoe khoang thành tích chính trị giả tạo, chống Cộng kiểu con tḥ ḷ chính trị, kiểu Nhạc Bất Quần. Dương Thu Hương ông Chức cũng chống, Bùi Tín ông Chức cũng chống, Nguyễn gia Kiểng ông Chức cũng chống, Trần Thanh Hiệp cũng chống, Phạm Duy, Đỗ Văn cũng chống, Nguyễn Đ́nh Huy v.v...ông Chức cũng chống, bất kỳ ai hơi có tên tuổi là ông Chức đều chống.

Nếu không chống th́ chê, chê cả những ân nhân. Cụ Trần Văn Lắm, cụ Trần Trung Dung...đưa ông Chức vào Thượng Viện để ông ta nên danh nên giá, nở mặt nở mày rồi cũng bị ông ta chê. Giáo sư Vũ Văn Mẫu người mà ông Chức mượn tên tuổi để loè đồn trưởng Cảnh sát cũng bị chê. Các ông Đinh Thạch Bích chủ nhiệm báo Việt Nam Hải Ngoại, Nguyễn Ngọc Linh chủ nhiệm báo Ngày Nay ông Chức cũng chê v́ không chi phối nổi chủ nhiệm hai tờ báo đó. Nguyễn Cao Lỳ được ông Chức tôn làm minh chủ để chống Nguyễn Văn Thiệu sau khi mất chân Nghị sĩ, ra hải ngoại ông Chức cũng viết hai ba bài báo để chê bai. (tr.290) Người cho ông Chức và gia đ́nh ông ta lên tàu thuỷ bỏ nước ra đi, ông Chức cũng chê.

Trong bài viết “Xoá bỏ ngộ nhân tôn giáo sáng tỏ chân tâm dân tộc để phục hưng dân tộc” trên bán nguyệt san Đẹp (số ra ngày 1/4/1994) nhân đầ cập đến sai lầm của ḿnh khi viết cuốn Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống v́ “Chưa thấm và chưa nhuần được sự bất tử của trái tim Bồ tát như trái tim Ḥa thượng Quảng Đức”, ông Cao Thế Dung có đề cập cái ảo ảnh của một “luật sư giáo dân” đă hăng hái kêu gọi “lấy phúc âm của Thiên chúa giáo để phục hồi dân tộc Việt”.

Thật là hết nói! Ông  “Luật sư giáo dân” nào đó đă đem râu cha nọ cắm cằm bà sơ kia.Viết như thế ông “Luật sư giáo dân” đă không hiểu biết ǵ về lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam, mà c̣n mù tịt ngay cả lịch sử đạo Thiên chúa của ông ta nữa.

Theo Kinh thánh th́ Chúa trời mới tạo ra vuc trụ và muôn loài muôn vật cách đây từ 6 đến 10 ngàn năm (tuỳ theo Kinh thánh) trong lúc đó th́ loài người đă xuất hiện trên trái đất cách đây đă 4,5 triệu năm. Đă có một thời kỳ con người sống trong chế độ Công xă không tên tuổi. Trong lịch sử Việt Nam những trang sử không tên tuổi như vậy cũng đă kéo dài hàng chục ngàn năm mở đầu với người vượn nay đă hoá thạch t́m thấy trong hang động Bắc Sơn, những di tích sơ khởi thời đại đá cũ ở núi Đọ (Thanh Hoá) ở lưu vực sông Đồng Nai cho đến những di tích mở đầu thời đại vàng thau. Những khảo cứu trên đây khẳng định rằng con người đă có mặt trên đất nước ta từ 30 ngàn năm trước. (tr.291)

Những năm gần đây nhiều cuộc khảo sát đă được tiến hành trong các hang núi đá vôi. Cùng với hàng ngàn mảnh xương răng động vật hoá thạch, người ta đă t́m thấy trong các cuộc khai quật này, những nhà khảo cổ phát hiện được 21 chiếc răng người hoá thạch trong 5 hang. Đây là tài liệu vô cùng quư giá để t́m hiểu quá tŕnh h́nh thành con người trên trái đất, trên nước ta.

Trong thời kỳ h́nh thành và phát triển của nền văn minh Việt Cổ, mà các vua Hùng là những người giữ vai tṛ lịch sử dân tộc Việt Nam đă có một loại di vật tiêu biểu tượng trưng xứng đáng của ḿnh, đó là Trống Đồng. Trống Đồng là sản phẩm của thời kỳ cực thịnh của nước Văn Lang, trống Đồng đă đi vào lịch sử kiên cường của dân tộc Việt Nam như là một kỳ công tuyệt diệu.

Theo tài liệu khảo cổ th́ những trống đồng phát hiện trong nước Việt Nam có đến 54 chiếc t́m được giữa khoảng sông Mă và sông Hồng. Tất cả có bốn thứ trống Đồng: Trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà t́m được ở Việt Nam, trống Khai Hoá t́m được ở Vân Nam (Trung Hoa).

Về Quốc tổ th́ chúng ta có 18 đời Hùng Vương mà trước kia trong Việt Nam Sử Lược cụ Trần Trọng Kim cho đó là huyền thoại, là giả sử, nghi ngờ không xác thực nhưng nay người ta đă t́m ra được chứng tích. Người ta không biết vua Hùng Dịch(1) vị vua đầu tiên ra đời năm nào, nhưng kể từ vị vua thứ hai đến vị vua thứ 18 người ta biết được niên kỷ của mỗi đời. Ví dụ vua thứ hai tức vua Hùng Nghệ ra đời 1077 năm trước Tây Lịch, đời vua thứ 17 tức vua Vũ Vương c̣n gọi là Hùng Thông ra đời năm 703 trước Tây Lịch, c̣n vua Hùng Vương thứ 18 trị v́ nước Văn Lang (tr.292) cho đến năm 257 trước Tây Lịch th́ bị Thục Phán cướp ngôi.

Năm 1977 nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh đă đến thăm đền Hùng tại làng Hy Cương, tỉnh phú Thọ có chụp h́nh và viết hồi kư cuộc viếng thăm lịch sử đó. Trong cuốn Nguồn gốc Mă Lai của Dân Tộc Việt của Binh Nguyên Lộc, ta có một chứng tích không thể chối căi được là cái bài vị ở đền Hùng. Trên bài vị có chữ đề: “Đột ngột Cao Sơn, Cổ Việt Hùng Thị”. Nói tóm lại con người đă xuất hiệm trên đất Việt Nam trên 30 ngàn năm, nghĩa là trước khi Chúa Jesus được “Mẹ Đồng Trinh” sinh ra, thế mà ông linh mục Phan Phát Hườn viết cuốn Việt Nam Giáo Sử, ông cựu trí thức Nguyễn Văn Chức viết cuốn Việt Nam Chính Sử hè nhau nặng lời chửi rủa các vua chúa nhà Nguyễn đă v́ chủ quyền quốc gia mà cấm đạo, nặng lời chửi bới các phong trào Văn Thân, Cần Vương đă v́ yêu nước mà phải phất cờ “B́nh Tây sát tả” (giết đạo trước giết Tây sau) chống thực dân Tây xâm lăng và bọn giáo dân Việt gian cầm súng theo Tây giết hại đồng bào (Xin xem thêm “Thập Giá và Lưỡi Gươm” của linh mục Trần Tam Tỉnh)

Năm 1940, Giám mục Nguyễn Bá Ṭng, trước mặt vợ chồng trùm thực dân, toàn quyền Decoux xin dâng nước Việt Nam cho Mẫu quốc Pháp (Xin xem Hội Hè Đ́nh Đám của Toan Ánh)

Rồi bầy giờ ông “luật sư giáo dân” lại hăng hái đ̣i lấy phúc âm của đạo Thiên chúa, một đạo ra đời  từ Trung Đông, có một cái Toà thánh tại La Mă, Ư Đại Lợi, có một nguồn gốc không rơ ràng, có một lịch sử chuyên dùng bạo (tr.293) lực hay thủ đoạn để đi xâm lăng nước người, một nền đạo không dính dáng ǵ đến 5,000 năm văn hiến Việt Nam mà lại hăng hái đ̣i lấy phúc âm nền đạo đó mà phục hồi dân tộc Việt Nam. Than ôi! Người “luật sư giáo dân” nào đó chỉ có thể là kẻ mang bệnh tâm thần, cuồng tín hạng nặng mới có ư nghĩ ngược đ̣i như vậy. V́ cuồng tín họ mới coi nước Chúa mới chính là quê hương của họ, coi bà Marie mới là tổ tiên của họ, Việt Nam đối với họ chỉ là tạm bợ, tiếc thay vẫn có người Việt phi Thiên chúa cứ muốn đoàn kết với họ để đấu tranh, để chống Cộng. Ngô Đ́nh Diệm nổi tiếng chống Cộng, nhưng có bao giờ chống Cộng v́ Việt Nam, mà chỉ chống Cộng v́ Vatican.

Thế mà những người tự xưng là Phật tử, viết báo mang tên tờ báo là Chánh Đạo, làm nhiệm vụ truyền thông cho “Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ” một nhiệm vụ truyền thông rất nặng nề v́ Phật giáo đang trong thời kỳ đấu tranh cho danh dự và sự sống c̣n của hàng triệu người con Phật - lại nỡ làm kẻ đồng loă, kẻ tay sai nối gót Nguyễn Văn Chức để tố khổ thầy Nhất Hạnh là Cộng Sản và chủ tịch Phong trào đấu tranh quốc nội của nhóm chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đ́nh Huy, Phạm Thái, Hoàng Xuân Tửu, Trần Trung Dung v.v...Xin đừng có ư nghi ngờ tôi có ác ư ǵ với ông Nguyễn Văn Chức, v́ đă có rất nhiều nhân vật nghiên khắc lên án phẩm cách và thái độ xử thế thiếu văn hoá của ông Chức. Chính hai học giả: Tiến sĩ Trần Chung Ngọc và cư sĩ Giới Tử cũng không thể khoan dung cho ông Nguyễn Văn Chức và quyển sách Việt Nam Chính Sử của ông ta.

Trong bài “Vài cảm nghĩ khi đọc bài” Thầy Nhất Hạnh, nạn nhân đầu tiên và cuối cùng” (Giao Điểm số 16), (tr.294) Tiến sĩ Trần Chung Ngọc viết rằng: “Theo như bản văn của Giới Tử th́ Tâm Tràng đă phê b́nh thầy Nhất Hạnh là “thiếu trí tuệ”. Tôi không biết trí tuệ của Tâm Tràng đến mức nào, nhưng nếu dựa trên ngôn từ đă dùng để viết trên Chánh Đạo của Tâm Tràng th́ Tâm Tràng chỉ nên viết trên Văn Nghệ Tiền Phong hoặc Xây Dựng, diễn đàn của loại ngôn từ tương tự như Nguyễn Văn Chức”.

C̣n Giới Tử, dưới nhan đề “Anh Gù nhà thời Đức Bà” (Đọc Việt Nam Chính Sử của Nguyễn Văn Chức) được đăng trên nguyệt san Phật giáo Việt Nam (Los Angeles số tháng 8/1991) sau khi nêu lên hàng loạt những sai lầm bằng những con số chính xác và hàng loạt những luận điệu nguỵ biện trong Việt Nam Chính Sử, cư sĩ Giới Tử đă có hai nhận xét cần phải được nêu lên đây:

1. Đỗ Mậu dùng Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi để bảo đó là những âm mưu hành động sai và giải thích tại sao. Nếu Nguyễn Văn Chức có ư định dùng Việt Nam Chính Sử để phản lại luận định đó th́ h́nh như Nguyễn Văn Chức đă không viên thành nguyện ước. Bởi về phẩm cũng như về lượng Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi có thể chôn ngập Việt Nam Chính Sử như sỏi đá chôn ngập cột đồng Mă Viện ngày nào.

2. Câu hỏi được đặt ra là những người Việt c̣n chưa quên ḿnh là người Việt phải tính thế nào đây với ḿnh với người cho thông? Đọc Việt Nam Chính Sử tôi hy vọng t́m thấy một Nguyễn Trường Tộ th́ chỉ gặp một Quasimodo. Đáng tiếc là một người muốn nối chí Khổng Tử như Nguyễn Văn Chức lại không chịu trả lời câu hỏi đó mà chỉ huênh hoang tự măn với những độc đoán, cuồng (tr.295) tín, hận thù để tự đầu độc tâm tư như con trăn đói nuốt cái đuôi của ḿnh mà cứ tưởng ngoạn đầu nạn nhân”.

Cho nên tôi thật buồn mà nói rằng tại Hải ngoại Phật giáo chỉ có một tờ báo chính trị - một tờ thôi - lại thiếu ư thức chính trị, một tờ báo mang tên Chánh Đạo mà lại viết những lời vô đạo đối với một bậc trưởng thượng trong hàng tăng già Phật giáo (nhận xét của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc trên báo Giao Điểm) cũng như trích đăng những lời lẽ vô đạo của Nguyễn Văn Chức, kẻ coi Dân tộc và Phật giáo như kẻ thù. (tr.296)

 

GHI CHÚ:

1. Vua Hùng Dịch theo Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn là vua nước Sở



(1) Vua Hùng Dịch theo Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn là vua nước Sở.

 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend