NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

VIỆT NAM TRÊN ĐÀ LỘT XÁC


 

  

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được...   

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng

 

Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. Tuy nhiên, “tâm t́nh với ḷng thành”-những lời tâm sự của viên đại tướng quân đội Sài G̣n từng giữ trọng trách Tổng tham mưu trưởng lâu nhất đă thú nhận quân đội Sài G̣n là quân đội tay sai của Mỹ...đọc tiếp

 

"BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH  

    Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  

 Bush and Blair, cartoon
        Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:
 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

Tony Blair picture 1811810

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

  * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

    Những ư kiến “trái chiều” này thực ra chỉ làm phong phú thêm các thông tin về sự kiện đau ḷng xảy ra cách đây 8 năm về trước… 

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

* THƯ MỤC 2009: THÁNG 9 – 8 – 7 – 6

 

 

 

  

 

VIỆT  NAM TRÊN ĐÀ LỘT XÁC

 

 

Từ 30/4/1975 đến nay, tại hải ngoại các tôn giáo, đảng phái, đoàn thể chính trị cũng như báo chí đua nhau kết tội Cộng sản, kết tội nhà nước Việt Nam đương quyền với những lời lẽ mạt sát, chửi bới vô cùng thậm tệ và đua nhau hô hào chống Cộng cho đến kỳ cùng, hô hào lật đổ chế độ Xă hội Chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.

Ba câu hỏi liền được đặt ra:

1. Tại sao người Việt Quốc gia chiếm 99% dân số lại để cho Cộng sản nắm được chính quyền?

2. Người Quốc gia ở hải ngoại hô hào chống cộng đến kỳ cùng để lật đổ chế độ Xă hội chủ nghĩa đương quyền, có chống được không, có lật đổ được không?

3. Phỏng thể sau 30 năm chiến tranh, sau ngày 30/4/1975, t́nh thế đổi ngược lại, miền Nam chiến thắng được miền Bắc th́ người Quốc gia có đối xử với người Cộng sản như người Cộng sản đă đối xử với người Quốc gia từ 1975 đến nay hay không? Có gây hận thù với người miền Bắc hay không?

Trả lời câu hỏi thứ nhất:

Muốn trả lời câu hỏi thứ nhất trước hết phải đặt ra những câu hỏi khác:

- Việt Nam bị phong kiến áp bức, thực dân đô hộ cả 100 năm trời, đă có rất nhiều phong trào, tổ chức cách mạng hoặc nổi lên ở trong nước hoặc xuất dương để tranh đấu và cầu ngoại viện hầu đánh đuổi Pháp, dành lại độc lập cho tổ quốc, tại sao các phong trào cách mạng Quốc gia đó lại để cho một ḿnh phong trào Cộng sản do ông Hồ Chí Minh lănh đạo cướp được chính quyền?

- Năm 1945, chính quyền đang nằm trong tay chính phủ Trần Trọng Kim, một chính phủ được ca tụng là gồm nhiều nhân tài, nhiều người yêu nước, nhưng tại sao lại để chính quyền lọt vào tay Việt Minh của ông Hồ Chí Minh?

- Tại sao ông Ngô Đ́nh Diệm, rồi ông Nguyễn Văn Thiệu không tham dự kháng chiến dành độc lập mà được cầm quyền một nữa quốc gia, có binh hùng tướng mạnh, có khối Thiên chúa giáo, có Vatican và Hoa Kỳ yểm trợ tối đa, lại để cho miền Nam rơi vào tay Cộng sản?

Hỏi như thế là đă trả lời rồi. Trả lời rằng: v́ người quốc gia bất tài, bất lực, lại chia rẽ cấu xé lẫn nhau không xứng đáng là đối thủ của Cộng sản nên Cộng sản mới cướp được chính quyền. Th́ c̣n trách ai?

Cứ xem việc những nhân vật tên tuổi lănh tụ của nhiều đoàn thể cách mạng như Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Bồ Xuân Luật, Nguyễn Tường Tam, v.v...Từ 1940 đến 1944, tại Liễu Châu và Côn Minh (Quảng Tây) đă để cho nhóm Cộng sản Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp v.v...lừa gạt và mặc dù (tr.136) Hồ Chí Minh đang bị Quốc Dân Đảng Tàu giam cầm mà Hồ Chí Minh vẫn được về nước trước để dành lấy công cuộc kháng chiến (xem Hồ Chí Minh, Con Người và Huyền Thoại, tập II: 1925-1945, của Chánh Đạo, Văn Hoá, 1993) cũng đủ biết cái yếu kém, cái tầm thường của phe Quốc gia.

Ngoài lư do Cộng sản có khả năng, có tài thao lược, lại phải nói thêm lư do Cộng sản nắm được chính nghĩa nữa. Cộng sản đă có công đoạt được chính quyền trong tay Phát-xít Nhật và phong kiến bù nh́n Bảo Đại, chứ Cộng sản có cướp chính quyền từ tay người Quốc gia đâu?

Sau này khi đất nước chia đôi, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, con cờ của Cộng sản ra đời, rồi quân Bắc Việt tiến chiếm miền Nam là cũng v́ phe Quốc gia do Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo đă không chịu thi hành tổng tuyển cử thống nhất hai miền, như Hiệp định Genève đă quy định. Vậy th́ c̣n trách ai?

Đă thế Vatican từ thời Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963) đến thời Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) thỏa hiệp với Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đă giúp Hà Nội thêm chính nghĩa và vững tin tiến chiếm miền Nam. Th́ c̣n trách ai?

Phe Quốc gia Ngô Đ́nh Diệm c̣n bày tṛ tố Cộng, c̣n mời quân Mỹ vào miền Nam, và sau này thời Nguyễn Văn Thiệu lại có đội quân hùng hậu Mỹ tham chiến mà miền Nam cũng không thắng nổi Cộng sản, thành phải kư Hiệp ước Paris (1973) giá trị không hơn thứ Hiệp ước đầu hàng. Th́ c̣n trách ai?

Vấn đề lại được đặt ra là nếu ông Diệm và Hoa Kỳ bằng ḷng thi hành tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp ước Genève năm 1954 th́ đất nước ta đă như thế nào rồi? Có (tr.137) phải đă tránh được cuộc chiến tranh 20 năm núi xương sông máu hay không? Có phải - dù Cộng sản có nắm chính quyền toàn quốc - phe Quốc gia vẫn có 15 triệu người Quốc gia miền Nam, mấy triệu người Quốc gia ở miền Bắc xây dựng khối độc lập để buộc Cộng sản phải thi hành chế độ Lưỡng Đảng hay đa đảng rồi hay không? Có phải hàng triệu người Việt đă khỏi bỏ nước ra đi làm dân lưu vong biệt xứ hay không?

Có người lư luận rằng v́ ông Diệm và người Mỹ không kư vào Hiệp ước Genève nên có quyền không chịu thi hành tổng tuyển cử hai miền. Nói vậy là sai. V́ không kư vào Hiệp ước Genève mà lại thi hành Hiệp ước Genève, như chấp nhận rút quân khỏi Bắc Việt theo quy định và kế hoạch của Hiệp ước Genève, chấp nhận sự hiện diện của Ủy Hội Quốc tế Đ́nh Chiến để kiểm soát hai miền về sự thi hành những điều kiện của Hiệp ước, chấp nhận việc không cho quân ngoại nhập vào hai miền. Thật ra ông Diệm không phải không biết như thế, nhưng v́ ông sợ nếu thực hiện tổng tuyển cử th́ miền Nam sẽ thua, ông diệm sẽ mất chính quyền. Vả lại đă có người Mỹ làm con ngáo ộp che chở ông, đứng sau lưng, nên ông mới dám từ chối tổng tuyển cử.

Đến đây tôi có thể khẳng định rằng, ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản của ông ta đă có công đánh đuổi được thực dân Pháp năm 1954 và thống nhất đất nước năm 1975, thu giang dơn về một mối. Không lẽ lịch sử dân tộc không ghi sự nghiệp này cho ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản của ông ta?

Nếu năm 1975 mà người Quốc gia nắm chính quyền th́ lịch sử Việt Nam sẽ gọi ông Hồ và đảng Cộng sản Việt (tr.138) Nam là giặc, là tội đồ của dân tộc cũng như khi Gia Long thống nhất sơn hà th́ Nguyễn Quang Trung trở thành giặc. Nhưng với thời gian, và lịch sử Việt Nam, Quang Trung vẫn là anh hùng vĩ đại của dân tộc.

Gươm chỉ trời xa ngựa phi nước đại,

Ta nhớ măi người anh hùng áo vải đất Qui Nhơn.

Chiến thắng được Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Gia Long mang tư cách chính thống vẫn cầm quyền trị nước, và lịch sử vẫn ghi công Gia Long đă thống nhất sơn hà. Không lẽ kháng chiến De Gaulle sát cánh với Cộng sản Pháp chiến đấu chống quân xâm lăng Đức Quốc xă mà kháng chiến De Gaulle mất danh nghĩa cứu quốc đi hay sao?

Có người Quốc gia bảo rằng phải chống Cộng sản v́ Cộng sản độc tài, vô gia đ́nh, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Vậy xin hỏi chế độ Ngô Đ́nh Diệm có độc tài, gia đ́nh trị, có đánh phá các tôn giáo hay không? Tại sao Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Cao Đài phải đào vong và chết thảm trên đất Cao Miên? Tại sao lănh tụ Ḥa Hảo Nguyễn Bảo Toàn lại bị bỏ bao bố ném xuống sông Nhà Bè? Tại sao lại kỳ thị, đàn áp Phật giáo, lại thi hành Dụ số 10, coi các tôn giáo chỉ là thứ hiệp hội, trong lúc coi Thiên chúa giáo là tôn giáo?

Người ta c̣n nhớ linh mục Hoàng Quỳnh từng công khai nêu khẩu hiệu “Thà mất nước không thà mất Chúa”. Tiến sĩ (?) Trần An Bài, Chủ tịch Cộng đồng Công giáo Việt NamSan José, cũng đă tuyên xưng các vị tử v́ đạo là:

“Người chết trong máu tử đạo coi nhẹ nghĩa phu thê, đă xem thường t́nh phụ tử. Họ khao khát một t́nh yêu vô biên, (tr.139) mỹ lệ như một giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Họ đă hoan hỷ chấp nhận cái chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút họa nào vẽ thành, và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn”.

“Người chết trong gông cùm ṃn mỏi đă đặt tổ quốc đằng sau những giá trị vĩnh cửu.” (xem “Thiên Hồ, Đế Hồ” của Phan Bội Châu, năm 1994 trích lại từ Thiên hùng sử, trang 2 của CĐCGVN).

Qua lời tuyên xưng các người tử v́ đạo, ông Trần An Bài dù ư thức hay không ư thức đă xác nhận đạo Thiên chúa cũng vô phu thê, vô phụ tử (tức là vô gia đ́nh) và vô tổ quốc. Vậy th́ tại sao người chống Cộng, nhất là tín đồ Thiên Chúa Giáo, c̣n chỉ trích người Cộng sản vô gia đ́nh vô tổ quốc, vô tôn giáo?

Chỉ trích Cộng sản Việt Nam là tay sai cho Tầu, phục vụ cho Tầu, người chống Cộng quên đi họ từng dựa vào Tàu (Tưởng Giới Thạch), Mỹ và ngay cả Pháp khi Pháp tái chiếm Việt Nam từ năm 1945, trong lúc Cộng Sản Việt Nam đánh lui quân Tầu vào năm 1979 khi Đặng Tử B́nh “muốn dạy cho Việt Nam một bài học”, và bảo vệ được chủ quyền và độc lập cho tổ quốc.

Nói thế không phải tôi bênh vực chủ nghĩa Cộng sản, hay ủng hộ chế độ Cộng sản. Cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của tôi ra đời năm 1986 là tác phẩm chống Cộng, lên án Cộng sản là phi và phản dân tộc. Nhưng từ năm 1988 đến nay Cộng sản ngày càng biến thể, càng đổi mới cho nên tôi không chủ trương chống Cộng kiểu thời Việt Nam Cộng Ḥa nữa, tôi chủ trương đối thoại với chế độ đương quyền chứ không đối đầu. Tôi sẽ nói rơ thêm ở đoạn sau.

Trả lời câu hỏi thứ hai:

Phỏng thể người Quốc gia ở hải ngoại cương quyết chống Cộng đến kỳ cùng, cương quyết lật đổ chế độ Xă hội Chủ nghĩa đương quyền, xin hỏi có làm nổi được việc đó hay không hay là chỉ ngoa ngôn, chỉ chống Cộng bằng mồm, chỉ chống Cộng kiểu “múa gậy vườn hoang”.

Lại phỏng thể chế độ Xă hội Chủ nghĩa đương quyền bị lật đổ th́ tôn giáo, đoàn thể nào, cá nhân nào sẽ lên thay? Hay một cuộc tắm máu v́ tranh dành quyền lực, cắn xé nhau sẽ xẩy ra? Hay là Trung Quốc sẽ lập tức tiến quân vào Việt Nam?

Trả lời câu hỏi thứ ba:

Phỏng thể năm 1975, miền Nam chiến thắng được miền Bắc th́ người Quốc gia có đối xử với người miền Bắc như người Cộng sản đă đối xử với người miền Nam hay không? Đặc biệt là có bắt “nguỵ quân, nguỵ quyền” đi cải tạo hay không?

Theo tôi th́ người Quốc gia hẳn đă trả thù người Cộng sản và người miền Bắc cũng mănh liệt, tàn ác, khủng bố, đâu có thua ǵ người Cộng sản. Tôi nói vậy v́ suốt 30 năm chiến tranh giữa người Quốc gia với nhau, giữa người cùng một chiến tuyến mà c̣n đàn áp, khủng bố, bốc lột lẫn nhau, c̣n những trại giam như trại Chín Hầm, trại giam P42 ở Sở Thú, c̣n trói người yêu nước ném xuống sông Nhà Bè, c̣n độc quyền buôn gạo, buôn gỗ, buôn phân, buôn quế, buôn cát, buôn yến sào, buôn thuốc Tây, buôn thuốc phiện. C̣n hàng ngàn trại giam khắp cả nước mà rất đông kẻ bị giam suốt mấy năm trời không được đưa ra toà án xét xử, (tr.141) nhiều kẻ bị thủ tiêu như cuốn Đảng Cần Lao của Chu Bằng Lĩnh mô tả, v.v...Do đó, chắc chắn nếu (tôi nhấn mạnh, nếu) miền Nam chiến thắng miền Bắc, người Quốc gia sẽ trả thù, sẽ gây ra biết bao tội ác cho người Cộng sản, cho dân chúng miền Bắc.

Nhân đọc bài: “Những chén trà uống cho con người” của ông Phạm Gia Ḥa từng là sĩ quan trong quân đội VNCH, trong tạp chí Người Dân Thầm Lặng (số 50, tháng 10/1994) bàn về “Biên giới thù hận”, hai trường hợp đă làm cho tôi chú ư.

Trường hợp thứ nhất là vụ một viên hạ sĩ quan kế toán biết chia phần số “tiền người chết” cho đến việc chia phần “ngủ với vợ” người chết để hoàn thành thủ tục giấy tờ sớm cho một quả phụ khốn nạn của một quân nhân.

Trường hợp thứ hai là việc các sĩ quan cao cấp của miền Nam đă lợi dụng chức vụ, thế lực để ép hay dụ vợ của sĩ quan thuộc cấp phải “hủ hoá” với ḿnh.

Sau đó ông Phạm Gia Ḥa kết luận:

“Giữa những nạn nhân và kẻ bốc lột, đàn áp họ chắc hẳn phải có một biến giới nào đó. Và cái biên giới này có dẫn đến thù hận th́ cũng chẳng phải là điều khó hiểu”

Giữa người cùng một hàng ngũ quân đội VNCH mà c̣n có biên giới thù hận như thế huống chi giữa người VNCH với người Cộng sản, giữa người miền Nam và miền Bắc.

Trước hết tôi xin khen ông Phạm Gia Ḥa đă có can đảm v́ trước một không khí chống Cộng “bằng mồm” rất ồn ào mà ông dám nêu lên những sự thực, nhưng tôi thấy ông Ḥa chỉ mới nói được một phần nhỏ sự thực mà thôi. Nếu ông Ḥa biết như dân Huế đă rơ việc Ngô Đ́nh Cẩn (tr.142) em ruột Tổng Thống Diệm bắt giam hàng trăm người nhà giầu, một số bị giết để làm tiền rồi bắt vợ họ đến tư dinh để hú hoá. Nếu ông Ḥa c̣n nhớ vụ một ông tướng Tư lệnh Sư đoàn cho binh lính đi bắt con gái nhà lành của dân về hăm hiếp và cũng chính ông tướng này đă bị tai tiếng về cái chết của ông tướng Tư lệnh Phó của ông ta, mà người ta cho rằng, ông ta là thủ phạm để phi tang vụ ông ta tham nhũng v.v...Nếu ông Ḥa c̣n nhớ vụ đạo quân của Tướng Đỗ Cao Trí qua Cao Miên giúp nước bạn chống Cộng, nhưng đă không giúp đỡ được ǵ mà binh lính chỉ lo đi phá chùa, cướp tượng vàng, chỉ lo cho thiết giáp đi vây bắt hàng ngàn con ḅ và cướp của dân chúng hàng trăm chiếc xe Mercedes đem về Tây Ninh chia chác nhau, đến độ một tờ báo Mỹ đă gọi lính Việt Nam Cộng Ḥa là... cọp đói. Và nếu ông Ḥa c̣n nhớ đội quân Cao nguyên triệt thoái từ Pleiku về khi ngang qua các thành phố Tuy Ḥa, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết cướp bóc đốt phá nhà dân chúng cho đến khi Đại tá Nghĩa, Tỉnh Trưởng B́nh Thuận (hiện ở Hoa Kỳ), cho xe tăng và phái binh chận lại, tước khí giới mới thôi, th́ ông Ḥa sẽ thấy biên giới thù hận giữa người Quốc gia và người Quốc gia c̣n chất ngất như núi cao. Thử hỏi đối với người cùng một chiến tuyến mà lính Việt Nam Cộng Ḥa c̣n gây ra biết bao tṛ như thế, thử hỏi đánh chiếm được miền Bắc, người Quốc gia c̣n đối xử ra sao với người Cộng sản và dân chúng miền Bắc.

Có người kết tội Cộng Sản bắt dân đi kinh tế mới là một chính sách bất nhân độc ác v́ đuổi dân ra khỏi thành phố về nông thôn. Tôi đồng ư chính sách đó là chính sách độc ác nhưng xin hỏi chính sách đó có độc ác hơn chương tŕnh Dinh điền, khu trù mật, ấp chiến lược của chế độ Ngô Đ́nh Diệm hay không? Dân chúng phải từ bỏ làng mạc cũ, từ (tr.143) bỏ nhà cửa, ruộng vườn, bàn thờ  ông bà để vào sống dưới cḥi tranh bao vây bởi hào hố, hàng rào giây thép gai dưới sự kiểm soát của Dân vệ Bảo an. Như thế, chương tŕnh khu trù mật, Ấp chiến  lược có tàn ác hơn không? Hăy đọc cuốn Công Và Tôi của cựu Tỉnh trưởng Nguyễn Trân để biết khu trù mật, Ấp chiến lược dưới chế độ Diệm nhân vị đến mức nào.

V́ hận thù người Cộng sản nên người Quốc gia hải ngoại mang bày lên mặt báo những xuyên tạc, thêu dệt quá lố mà không tự vấn lương tâm.  Họ gán cho Việt Nam ngày nay là quốc gia nghèo nhất thế giới, mà quên rằng Mexico, Phi Luật Tân c̣n nghèo hơn. Họ nói Việt Nam tội ác tràn ngập khắp cả nước, tham nhũng lan tràn không một quốc gia nào bằng, một quốc gia mà đi đến đâu cũng thấy toàn là chuyện xấu xa, dơ bẩn, nhưng họ quên rằng dưới hai chế độ Cộng Ḥa nào có thua ǵ. Vả lại hàng vạn người về thăm Việt Nam là chứng nhân, và ông Nguyễn Cao Kỳ có lần tuyên bố với báo Thanh Niên ở trong nước: “Báo trong nước càng ngày càng hay và nói trung thực, c̣n báo Việt ở hải ngoại th́ bậy bạ hết chỗ nói”.

Tôi đồng ư rằng hiện nay tại Việt Nam, c̣n nạn lộng quyền, nạn tham nhũng, xă hội c̣n trộm cướp, đĩ điếm. Nhưng nếu chịu khó so sánh th́ thấy rằng cấp lănh đạo Việt Nam Xă hội Chủ nghĩa không buôn thuốc phiện, không tham nhũng bằng các ông Nhu, Thục, Cẩn, Thiệu, Khiêm, Viên, Quang, Có, Ngô Du v.v...Không chuyển tiền ra ngoại quốc như các ông Nhu, Thục, Cẩn...Cũng không lộng quyền một cách trắng trợn bằng cách gạch tên những (tr.144) Dân biểu đắc cử vào hàng đầu v́ họ không chịu làm gia nô.

Hết lời mạt sát chế độ Xă hội Chủ nghĩa, báo chí hải ngoại quên đi tuyên ngôn Caravelle thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, quên đi Cáo trạng của Phong trào chống tham nhũng thời Đệ Nhị Cộng Hoà, quên đi việc ông Nghị sĩ Fulbright đă tuyên bố rằng Sài G̣n là thành phố đĩ điếm dơ bẩn nhất thế giới.

Ít ra th́ chế độ Xă hội ngày nay đă dám mang quân lên biên giới Bắc Việt đánh đuổi quân đội của Đặng Tiểu B́nh. Mang quân qua Cao Miên dẹp bọn khát máu Pol Pot để nước bạn láng giềng ngày nay có được chế độ tự do dân chủ, và đồng bào Việt Nam dọc biên giới Miên-Việt khỏi bị nạn tàn sát cướp bóc như thời VNCH. Ít ra th́ chế độ Hà Nội đương quyền cũng đă thẳng tay dẹp bọn gian thương Chợ Lớn từng thao túng kinh tế thị trường Việt Nam hơn 100 năm qua mà không chế độ Quốc gia nào làm nổi. Bảo vệ biên giới tổ quốc, chống lại quân “Thiên triều”, dành lại chủ quyền kinh tế. Những việc làm đó há không là những sự nghiệp của chế độ Xă hội Chủ nghĩa đương quyền hay sao?

C̣n chuyện này nữa, khi Việt Nam đánh chiếm Campuchia ở hải ngoại này nhiều người đă chê trách là Cộng sản Việt Nam ngu muội, hiếu chiến, ăn phải bả của kư giả Mỹ Joseph Alsop khi ông viết bài “Showdown over Southeast Asia?” vào tháng 12/1975 đăng trong tạp chí Reader’s Digest - đă được tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong dịch và đăng vào số 2 ngày 15/2/1976 - nhằm khích động và thúc đẩy VC vào con đường thống trị Đông Dương. Mới đầu tôi cũng chê trách sao họ hiếu chiến thế. Mới thống nhất đất (tr.145) nước sau bao năm chiến tranh, dân chúng mong muốn đất nước thanh b́nh để kiến thiết th́ nay lại lao vào cuộc chiến tranh khác.

Sau này, ở hải ngoại c̣n mạt sát Việt Cộng v́ ngu dốt nên đă bị sa lầy ở Campuchia. Đến lúc này th́ tôi lại có ư nghĩ khác v́ đă có đủ dữ kiện để nhận định. Sau khi Trung Cộng và Nixon kư thông báo chung ở Thượng Hải 1972, th́ Pol Pot đi theo đường lối của Trung Quốc nhưng chưa lộ ra v́ phải nhờ đến sự giúp đỡ của Cộng sản Việt Nam. Khi Pol Pot chiếm được Nam Vang th́ đi hẳn với Trung cộng, lại được sự xúi dục của Kissinger phản lại Việt Nam.

Ngày 13/5/1975, Campuchia đă đem quân chiếm quần đảo Tang (Thổ Châu) của Việt Nam, đến 10/6/1975 Việt Nam mới chiếm lại được. Sau đó Pol Pot đem quân đánh biên giới Việt Nam, khi th́ ở Hà Tiên, khi th́ ở Châu Đốc, khi th́ ở Tây Ninh, tàn sát, cướp bóc dân Việt. Chính quyền Việt Nam chỉ im lặng hoặc phản đối Campuchia bằng đường lối ngoại giao. Trong khi đó th́ Trung Cộng tung tin sẽ ngăn chặn sự bành trướng, sự thống trị của Cộng sản Việt Nam ở Đông Dương. Nên các nước thuộc khối ASEAN quay lưng lại với Việt Nam v́ sợ Trung Cộng và cũng muốn Trung cộng làm việc đó để ngăn ngừa tham vọng của Cộng sản Việt Nam. Vào thời điểm 1978, đối ngoại chỉ có Nga Sô và các nước Đông Âu, c̣n ở chung quanh Cộng sản Việt Nam bị cô lập hoàn toàn. Trong nước th́ kinh tế lụi bại, dân t́nh đói khổ chỉ muốn nổi loạn, Việt Nam ở vào thời thập tử nhất sinh. Các nhà lănh đạo Việt Nam phải tiến đánh Campuchia lật đổ Pol Pot để t́m đường sống, một việc chẳng đặng đừng.

Đối nội th́: (tr.146)

1. Xuất cảng người Việt và giải tán người Hoa ở Chợ Lớn, cho ra nước ngoài để thế giới nuôi dùm.

2. Bắt thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự để tránh nổi loạn.

Khi tiến đánh Campuchia, Việt Nam dùng 12Sư đoàn Bộ Binh. Đến 6/12/1978, 9 Sư đoàn đă đến bên ngoài Nam Vang đợi lệnh chính trị bộ. Sau đó, để hở mặt hướng về Thái Lan cho lực lượng Pol Pot rút ra. Phi trường, ga xe lửa không được pháo để dùng sau này. Tại sao Việt Nam không bao vây Nam Vang để bắt sống Pol Pot? Cũng giống như Tổng Thống Bush, tại sao không tiến lên Baghdad để bắt Saddam Hussein? C̣n lực lượng Khmer Đỏ, c̣n Pol Pot th́ Việt Nam có kư do ở lại để bảo vệ chính quyền Campuchia c̣n non yếu và được dịp thực hiện di chúc của tiền nhân. Việt Nam c̣n ở Campuchia th́ thế giới mới phải đàm phán với Việt Nam, nên mới có Road Map của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Trung Cộng, khối ASEAN mới đàm phán với Việt Nam, nhờ đó nền ngoại giao của Việt Nam mới được khai thông. Như vậy giới lănh đạo Việt Nam có ngu dốt, có bị sa lầy không?

Tài liệu c̣n đó, sự việc c̣n đó, tôi lấy công tâm và sự suy nghĩ của riêng tôi mà viết ra cho mọi người có dịp nghiên cứu lại một chiến công của ông Lê Đức AnhChu Huy Mân. Một chiến công lịch sử đă được các tướng lănh và Bộ Quốc Pḥng Nam Dương sang tận Việt Nam nghiên cứu.

Điều quái đản hơn nữa là người hải ngoại chống Cộng mà lại viết báo, viết sách chửi bới những người làm hại cho chế độ Cộng sản như Trương Như Tảng, như Dương Thu Hương, v.v...gán cho họ là c̣ mồi...Ít ra th́ những nhân (tr.147) vật này, bằng sách báo, bằng những luận điệu phản tuyên truyền, chống chế độ cũng đă làm cho chế độ sứt mẻ, làm cho nhân dân mất niềm tin nơi chế độ. Cũng như đă ồn ào chống Phong trào ông Nguyễn Đ́nh Huy. Thật không thể tưởng tượng nổi việc người Quốc gia chống Cộng hẹp ḥi, sai lầm, dại dột đến thế. Cho nên thật không lạ ǵ khi người Việt hải ngoại càng chống Cộng th́ các quốc gia nuôi dưỡng người tị nạn Cộng sản càng có cảm t́nh với chế độ Hà Nội, giao thương, viện trợ cho chế độ đương thời, càng chống Cộng th́ chế độ đương quyền càng được củng cố thêm.

Tôi muốn đưa ra một số những mâu thuẫn, ngược ngạo như thế để mọi người suy gẫm trong việc nhận định thời thế, trong việc xét ḿnh xét người, xét bạn xét thù, từ đó mới đề ra được sách lược chống Cộng thế nào cho hữu hiệu.

Sau 100 năm bị ngoại bang đô hộ, người Quốc gia đă để cho người Cộng sản lập đầu công với lịch sử dân tộc là dành độc lập và thống nhất đất nước. Người Quốc gia lại không có khả năng, có ư chí lật đổ được chế độ Cộng sản th́ người Quốc gia phải có thái độ nào?

Tất nhiên từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người làm được đại nghiệp là người biết thức thời, biết ta biết người, biết nh́n xa thấy rộng, biết hành động có cơ mưu, như Lưu Bang khi đến Hàm Dương trước mà vẫn nhường việc vào thành cho Hạng Vơ, nhờ thái độ nhẫn nhục đó mà Lưu Bang mới lấy được Trung Nguyên lên ngôi Hán Cao Tổ. Nhưng trước hết phải thấy rằng, người ở hải ngoại mà chống Cộng là không bao giờ chống nổi Cộng sản cả. Hai nữa là ta phải thấy rằng Cộng sản đang biến thể dần dần từ màu hồng hiện nay sẽ biến thành màu trắng (tr.148)

Thủ tướng Lư Quang Diệu, trước đây qua thăm Việt Nam nhận xét chế độ Cộng sản Việt Nam vẫn tồn tại trong ṿng 15-20 năm nữa. trong một cuộc gặp gỡ báo chí ngày 2/11/1994 mới đây, sau khi gặp gỡ các lănh tụ CNCS, cả Tổng Bí thư Đỗ Mười, ông Lư Quang Diệu nghĩ rằng:

“Các nhà cầm quyền tại Việt Nam dần dà sẽ trở thành không Cộng sản theo đà tiến triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, h́nh thức chính trị đa đảng sẽ không xảy ra trong tương lai gần.”

Cũng theo ông Lư Quang Diệu th́ đảng Cộng sản hiện nay dần dần trở thành không Mác-xít.

“Thế hệ lănh đạo già có thể vẫn c̣n Mác-xít trong lối suy nghĩ của họ. Nhưng tôi không thấy người trẻ nào trong lớp tuổi 30 hoặc 40 c̣n tin vào lư thuyết Mác-xít chứ đường nói là phương pháp hành động kiểu Lê-nin-nít nữa. Tôi nghĩ đối với người Việt Nam phương cách hay nhất là làm việc cùng với chính quyền hiện tại...và khi nền kinh tế thay đổi và trở nên đa dạng...th́ căn bản xă hội cũng sẽ thay đổi”. (Tin Reuter, ngày 2/11/1994)

Đó là nói về thời gian. C̣n nói về “phương cách chính trị” th́ hiện nay tuy chế độ Việt Nam mang tiếng là chế độ Cộng sản nhưng Việt Nam đă thiên hẳn về các quốc gia kỹ nghệ tư bản và đi cùng hướng với các quốc gia trong khối ASEAN rồi. Hầu hết các Quốc Trưởng, Thủ tướng trong khối ASEAN, kể cả Tổng thống Fidel Ramos của Phi Luật Tân, đều đă đến viếng thăm Việt Nam. Phải chăng các nước trong khối ASEAN và Hoa Kỳ đang muốn Việt Nam với 73 triệu dân, với một vị trí chiến lược độc đáo và với một đội quân đứng hàng thứ tư thế giới có thể trở thành nước đệm chắn làn nước lũ Cộng sản Trung Quốc? (tr.149)

Nói về sự biến thể của Việt Nam, tiến sĩ Chữ Tam Anh có một nhận định như sau:

... Tuy nhiên trên đường dài, th́ sự tiếp xúc với Tây phương và các tầng lớp người Việt hải ngoại sẽ chắc chắn tạo nên những thay đổi căn bản trong lối suy nghĩ của giai cấp lănh đạo Việt Nam. Chẳng những thế, sự có mặt của giới truyền thông ngoại quốc và Việt ngữ hải ngoại tại Việt Nam sẽ tạo nhiều cơ hội để đẩy mạnh những thay đổi tại Việt Nam. Điều chính yếu trong tiến tŕnh thay đổi trong ṿng 5, 10 năm đến là Việt Nam có đủ khả năng để gầy dựng một giai cấp trung lưu đủ lớn và đủ ảnh hưởng chánh trị để bắt đầy xây dựng một nền tảng thật sự cho nền dân chủ dựa trên tự do và thị trường. Ngay cả Đài Bắc cho đến ngày hôm nay vẫn chỉ là một nền “Dân chủ tập sự” cho dù đă trải qua hơn 20 năm theo đuổi các mô thức kinh tế thành công. Nhưng nền Dân chủ tại Đài Loan rồi chắc chắn sẽ thành công v́ một khối dân trung lưu thật sự đă bám vào xă hội này. Trong trường hợp Việt Nam, điều này có nghĩa là những hạ tầng cơ sở và những luật pháp giúp phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết. Sự có mặt của giới tư bản và xí nghiệp ngoại quốc tại Việt Nam ngày nay là một dấu hiệu cực kỳ tốt đẹp, v́ quyền lợi của tư bản ngoại quốc sẽ khiến họ đ̣i hỏi những thay đổi để Việt Nam sẽ trở thành một xă hội tư bản. (Phụ Nữ Diễn Đàn, số 125, tháng 6/1994)

Tôi hoàn toàn đồng ư với nhận định của tiến sĩ Chữ Tam Anh. Tôi c̣n muốn nói thêm rằng từ ngày bỏ luật cấm vận, Hoa Kỳ đă dần dần đặt nhiều cơ sở, nhiều xí nghiệp tại Việt Nam. Cuối tháng 10/1994, Mỹ đă đặt thêm ngân hàng Bank of America và khối ASEAN đă chấp nhận đơn xin gia nhập khối này của Việt Nam. Theo New York (tr.150) Times (Fresno Bee trích đăng số ra ngày 21/11/1994), th́ Đô Đốc Richard C.Macke, vị Tư lệnh quân đội Mỹ tại Thái B́nh Dương, nhân chuyến đi thăm Việt Nam về có tuyên bố rằng Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội có thể nói chuyện hợp tác quân sự một khi vấn đề tù binh được giải quyết và Việt Nam có thể mời quân đội Mỹ trở lại Quân cảng Cam Ranh.

Mặc dù vấn đề hợp tác quân sự và Quân cảng Cam Ranh mới đề cập đến lần đầu và đang bị Trung quốc chống đối nhưng sau khi Hoa Kỳ mất Hải cảng Subic Bay tại Phi Luật Tân và trước hiểm hoạ Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ trước sau cũng phải có một liên minh quân sự. Do đó, trong đường dài hai quốc gia phải có một kế hoạch bảo vệ Đông Nam Á. Hoa Kỳ phải có một căn cứ quân sự và một đầu cầu để ngăn chặn tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

Sự hợp tác quân sự và việc quân Mỹ có thể trở lại Cam Ranh c̣n thêm một yếu tố nữa để chế độ Xă hội Chủ nghĩa đương quyền phải biến thể, phải đi đến dân chủ hoá. Và cũng thêm một lư do nữa để người Việt Quốc gia xây dựng một thế đối lập, đối thoại như chủ trương của nhóm ông Nguyễn Đ́nh Huy mà không là đối đầu bằng thù hận. Phong trào ông Nguyễn Đ́nh Huy dù thất bại v́ ra đời không đúng thời điểm của nó, nhưng nó vẫn có giá trị chiến lược cho việc đấu tranh dành dân chủ, đa đảng. Có vào hang hùm mới bắt được cọp chứ. Ở hải ngoại ḥ hét 20 năm rồi đă làm được ǵ?

Hướng đi của đất nước cho tương lai như tôi vừa tŕnh bày trên đây, đă được các tôn giáo Tây phương nhận thấy (tr.151) rơ, rất tiếc chỉ có số các nhà sư trong nhóm tranh đấu ủng hộ thầy Huyền Quang là không thấy rơ. Cũng v́ thấy rơ tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu nên các tôn giáo như Thiên chúa giáo La Mă, Tin Lành,v.v...không đấu tranh chống đối nhà nước Việt Nam, trái lại c̣n chịu nhượng bộ chính quyền để âm thầm chiến đấu dành dân của Phật giáo cho việc phát triển tín đồ, bành trướng nước Chúa.

Đối với Thiên chúa giáo La Mă, kinh nghiệm 400 năm có mặt tại Việt Nam, bài học của hai chế độ Cộng Hoà miền Nam để lại, cho phép Vatican có những hoạt động thực tế, không chủ quan như trước nữa. Ví dụ, họ có thể băi bỏ một số giáo luật để khỏi làm mất ḷng người bên lương như để cho tín đồ thờ cúng ông bà như người bên lương, để cho trai gái tự do lấy người bên lương, không cần buộc trai gái bên lương phải đi nhà thờ rửa tội trước. Họ cũng không cần tranh dành chính quyền, hay kỳ thị, áp bức như thời Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu mà theo đường lối dân chủ. Mục đích ưu tiên của họ là phát triển tín đồ. Số tín đồ càng cao là coi như họ thắng, là ngày cầm chính quyền của họ càng gần. Tin Lành cũng chủ trương như Thiên chúa giáo La Mă

Người am hiểu thời cuộc phải nhận thấy rằng Giáo Hoàng John Paul II hiện nay là vị Giáo Hoàng khôn ngoan, nh́n xa thấy rộng. Biết rằng Giáo hội La Mă đang trên đà suy vi, xuống dốc một cách rất nguy ngập nên ông làm một cuộc cách mạng “Thiên hữu” để cứu văn Giáo hội. Đối nội, ông cương quyết bảo vệ Kinh thánh, giáo lư, tín lư, giáo luật. Không cho phép phá thai, ngừa thai, không cho phép nữ tu trở thành linh mục, giám mục v.v...Đối ngoại, ông nhún nhường với quốc tế: ông bắt tay với những kẻ khủng bố (tr.152) quốc tế chống đối như Yassir Arafat lănh tụ quân khủng bố Palestin, với cả Kurt Waldheim cựu sĩ quan SS của Quốc xă Đức hiện nay là Tổng Thống Áo, ông xin lỗi nhân loại về vụ ṭa thánh La Mă đàn áp nhà Bác học Gallileo, xin lỗi các dân tộc Trung Nam Mỹ v́ quân Thập tự đă xâm chiếm các nước này. Hơn thế nữa Giáo Hoàng gởi thông điệp 17 trang xin nhân loại tha thứ cho Thiên chúa giáo đă gây ra biết bao tội ác tày trời suốt 2,000 năm qua. Ông thiết lập bang giao với Do Thái, một kẻ thù thuyền kiếp.

Cũng như Giáo Hoàng John Paul II đă khôn ngoan sáng suốt biết ḥa giải với Quốc Trưởng Ba Lan, Tướng Wojilech Yaruzelski, Công đoàn Tự do của Lech Walesa mới tồn tại và sau này lên nắm chính quyền khi Nga Sô sụp đổ. Đối với các tôn giáo như Anh giáo, Thiên chúa giáo Orthodox, Tin Lành, Hồi Giáo, Do Thái, John Paul II đề nghị thành lập “Kết hợp tôn giáo”. Đối với Phật giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo và Tin Lành Việt Nam, ông đề nghị thành lập “Liên Tôn”. Nhưng tất cả tổ chức đó đều là cái bẫy sập mở dăng ra để làm lợi cho Giáo hội của ông, cho uy tín của Vatican mà thôi. Giáo Hoàng John Paul II biết tiến, biết thoái, biết liệu gió phất cờ, không như một số lănh đạo Phật Giáo Việt Nam bắt chước con ngựa vằn gặp cọp dữ chỉ đâm đầu vào bụi, hai chân sau đá lung tung mà không biết chết khi nào. Chắc chắn rằng chính sách của Giáo Hoàng John Paul II sẽ được các nhà lănh đạo Vatican tiếp nối dù có ông hay không có ông.

Với những người Việt Nam am hiểu chính trị, có nghiên cứu lịch sử đạo Thiên chúa th́ Giáo Hoàng John Paul II và sách lược của ông cao thâm bao nhiêu là chuy cơ cho Việt Nam bấy nhiêu. Làm sao những nhà sư ham thích bề (tr.153) ngoài có thể hiểu nổi chính sách cơ trí của Vatican. Tại Thái Lan mà Phật giáo là Quốc giáo, Vatican khó có thể dùng lợi lộc để mua chuộc Tăng sĩ, Phật tử, họ bèn dùng kế hoạch “Đối thoại” để thuyết phục và mê hoặc người Phật tử Thái Lan. Giáo hội Thái Lan biết âm mưu và thủ đoạn của Ṭa thánh La Mă bèn tương kế tựu kế liền ra sách báo, một mặt báo động âm mưu của La Mă, một mặt dùng “đối thoại” để hoá giải độc. Sự ra đời tác phẩm The Catholic Plot Against Buddhism của Hội Bảo vệ Phật giáo Thái Lan là v́ thế. (Phật tử nào muốn biết âm mưu phá ngầm Phật giáo có thể đặt mua sách Gia Tô Thực dân Chính sử và Âm mưu phá ngầm Phật giáo nơi nhà phát hành Nguyên Nhân, P.O. Box 598, Mt Dora. Florida 32757; hay liên lạc với ông Chu Văn Tŕnh ở Florida, USA)

Từ sau 1975 đến nay, mặc dù Thiên chúa giáo La Mă tại Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trước chính sách Tôn giáo của nhà nước Việt Nam nhưng nhờ sự “đầu hàng” ngay từ năm 1975 của các giám mục như tôi sẽ nói ở một loạt bài khác, lại nhờ chính sách mềm dẻo của La Mă mà ngày nay Giáo hội Việt Nam đă có cơ phát triển trở lại.

Cùng với Thiên chúa giáo La Mă, hai đạo Tin Lành và Mormon cũng hoạt động rất mạnh, họ không đấu tranh chống chính quyền mặc dù họ (Tin Lành) cũng bị khó khăn bởi nhiều biện pháp gắt gao của nhà nước.

Lợi dụng sự nghèo đói của dân Việt Nam, lợi dụng việc người Việt Nam muốn xuất ngoại nhất là muốn đi Mỹ, đi Canada, đi Úc, các ông mục sư tha hồ mua chuộc người Việt Nam theo đạo Tin Lành. Một người được ra đi nước ngoài là hàng chục người trong gia đ́nh ở nhà theo đạo Tin Lành. Mấy ông mục sư tuyên truyền rằng: (tr.154)

1. Muốn được sang Mỹ sớm th́ nên theo đạo Tin Lành sẽ được Mỹ ưu tiên cứu xét, v́ Hoa Kỳ là nước theo đạo Tin Lành và người cứu xét thường là người theo đạo Tin Lành.

2. Các nước theo đạo Ki-tô đều hùng mạnh.

Để trả lời các câu hỏi kể trên chúng ta nên dùng đến những dữ kiện để nhận biết và có khả năng thuyết phục người nghe như sau:

1. Ban đại diện của Mỹ cứu xét đơn xin sang Mỹ của người Việt thường theo thứ tự của chính quyền Việt Nam đưa cho họ. Có ông Thiếu tá theo đạo Tin Lành để được sang Mỹ sớm, hồ sơ H.O.6 của ông không hiểu sao lại được để xuống thành H.O.13 (ông Thiếu tá này hiện đang ở California).

2. Các nước hầu hết theo đạo Ki-tô như Phi Luật Tân, Mễ Tây Cơ, Honduras, El Salvador, Tây Ban Nha, Perou, Nicaragua, Guatemala, Haiti...có hùng mạnh và giàu có hơn Việt Nam không?

Nhờ có sự xuất hiện con người vĩ đại Martin Luther nên Âu Châu mới có đạo Tin Lành làm điểm tựa cho các nhà khoa học kỹ thuật Âu Châu được dịp phát triển. Nhờ có tàu chiến và vũ khí các nước Âu Châu đă xâm chiến các nước Nam và Trung Mỹ, Phi Châu và Á Châu làm thuộc địa, bắt nô lệ, thu vét tài nguyên các thuộc địa đem về làm giàu cho xứ sở của họ. Đến nay các nước Anh, Pháp, Mỹ...đang trên đà khánh kiệt và phá sản, thời huy hoàng không c̣n nữa. C̣n nước Nhật không theo đạo Ki-tô mà vẫn là cường quốc đừng hàng đầu về kinh tế và ít tội ác được cả thế giới kính nể. Vậy đâu có phải cứ theo đạo Ki-tô th́ đất nước mới hùng mạnh. (tr155)

Và nếu các nền đạo Tây phương bành trướng mạnh, tín đồ phát triển nhiều th́ tất nhiên văn hoá, truyền thống Việt Nam bị thu hẹp lại, đạo Phật và nền Tam giáo sẽ mất tín đồ. Và đây là trách nhiệm, hay nói cách khác là tội lớn của các nhà sư và hàng trí thức Việt Nam, mà hai người nổi bật là các ông Trần Quang Thuận và Vơ Văn Ái đang là quân sư của một số “quư thầy”. Đây cũng là trách nhiệm của Nhà nước nếu Nhà nước không chủ trương chính trách ḥa giải với Phật giáo và các đạo Dân tộc.

Viết đến đây, tôi nghĩ đến một ông Linh Mục mà trước đây tôi được nghe nói đến. Trong một buổi họp mặt có nhiều người thuộc các tôn giáo nhưng đa số là Ki-tô giáo, vị Linh mục ở Sacramento đă nói đại ư rằng: Hiện nay đảng Cộng sản đang nắm giữ chính quyền ở Việt Nam nhưng điều đó chỉ có tính cách tạm thời v́:

1. Lư thuyết Cộng sản ngay chính đảng Cộng sản Việt Nam cũng không nhắc đến nó nữa.

2. Những ǵ dựa vào chính trị thường không được lâu dài, chỉ đoản kỳ, trái lại tôn giáo th́ tồn tại lâu dài và liên tục. Hiện nay giáo hội Công giáo Việt Nam có tổ chức chặt chẽ nhất, mạnh mẽ nhất hơn cả đảng Cộng sản Việt Nam, lại có sự chỉ đạo của Toà thánh Vatican và thời gian th́ lại ở về phía chúng ta. Chúng ta không hề phải chống Đảng Cộng sản làm ǵ, chúng ta cứ chiều theo ư họ, chúng ta cứ làm vừa ư các nhà lănh đạo nhà nước như các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Vơ Văn Kiệt, Phan Văn Khải...để tránh những thiệt hại cho giáo dân ta, đồng thời củng cố lực lượng, phát triển tín đồ và kiện toàn tổ chức. Th́ một mai trào lưu Tự do Dân chủ nẩy nở mạnh mẽ, đảng Cộng sản (tr.156) dù mạnh đến đâu cũng chỉ giữ được chính quyền thêm một thời gian độ 10 đến 20 năm là cùng. Đến lúc đó lực lượng nào sẽ nắm giữ chính quyền ở Việt Nam? Hỏi như thế vị Linh mục đă tự trả lời rồi vậy.

Được nghe nói lại như thế, tôi biết vị Linh mục cũng chỉ theo chủ trương “diễn biến Ḥa b́nh” của Giáo Hoàng đă được nhà báo Kenneth L.Woodward viết trên tờ tuần báo Newsweek số ra ngày 13/5/1991:

Sự thật về chủ trương không dùng bạo lực, Giáo Hoàng chứng minh rằng không cần dùng đến chiến tranh mà người cầm quyền vẫn bị lật đổ như thường.

Và sau đây là chủ trương của Ṭa thánh mà vị Linh mục đă nói ở trên, theo như bản tin của báo Người Việt số ra ngày 25/3/1994:

Đoàn đại diện Vatican do Thứ trưởng bộ Ngoại Giao Vatican Claudio Celli cầm đầu đă đồng ư với đoàn đại diện Việt Nam là tất cả mọi vấn đề liên quan đến Giáo hội Công giáo Việt Nam, Ṭa thánh sẽ thông báo cho chính phủ Việt Nam và có sự thỏa thuận của chính phủ Việt Nam th́ Toà thánh mới ra quyết định.

Viết ra lời kể trên tôi thật sự lo ngại cho tương lai của dân tộc Việt Nam. Rồi độc tài đỏ ra đi th́ lại đến độc tài đen c̣n khủng khiếp hơn như sự tiên liệu của nhà văn T.U. Ông T.U thường tâm sự với bạn bè là không biết đến bao giờ dân tộc Việt Nam mới được hít thở không khí Tự do Dân chủ sau bao nhiêu thế hệ đă phải tranh đấu, hy sinh chịu đựng gian khổ...Càng biết, càng viết, càng âu lo cho đất nước, càng ái ngại cho các ông thầy tu, các chính khách, đảng phái mang cặp kính mầu. Biết bao bài học lịch sử...rồi mà cứ vẫn tin rằng đạo Công giáo là đạo chống Cộng (tr.157). Vẫn cứ chạy theo Vatican. Xin các ông hăy đọc thêm bài “Đạo chống Cộng và đạo không chống Cộng” của Trần Văn Kha trong tác phẩm Tranh Đấu.

 

CHẾ ĐỘ ĐƯƠNG QUYỀN ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO

 

 Năm 1979, mang quân lên biên giới phía Bắc đương đầu với quân đội của Đặng Tiểu B́nh, đánh cho đội quân đàn anh tan tành phải rút về nước. Trước đó mang quân qua Cam Bốt trừng trị bọn đồng khí Khờ-me Đỏ khát máu. Hai hành động đó của chế độ Xă hội Chủ nghĩa làm cho tôi có những suy nghĩ khác trước về chế độ này. Tuy nhiêu qua chính sách vẫn tiếp tục coi miền Nam như kẻ thù, tôi thấy Hà Nội c̣n say men chiến thắng, c̣n mang máu Mác Lê nên tôi không tin họ có thể có chính sách ḥa giải Dân tộc được.

Nhưng từ 1988-1989 - phần thấy Nga Sô sụp đổ không c̣n là thành tŕ cách mạng của Cộng sản Việt Nam nữa, phần thấy chế độ Hà Nội có ư đồ theo con đường đổi mới, nh́n thấy Hà Nội cương quyết không chấp nhận lễ Phong thánh của Vatican, lại thấy cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của tôi, một cuốn sách mang nội dung chống Cộng sâu sắc, gán cho Cộng sản là phi và phản dân tộc mà vẫn được chế độ cho tái bản tại Việt Nam để cán bộ học tập - tôi thấy ánh sáng bắt đầu ló dạng đầu kia đường hầm, tôi thấy Hà Nội đang muốn biến thể để trở về với Dân tộc.(tr.158)

Tuy nhiên, muốn nắm vững t́nh h́nh ở quê nhà nhân Tết Quư Dậu (đầu năm 1993) một số bạn trẻ của tôi về thăm quê hương, những người bạn vong niên có ư thức chính trị, biến quan sát, biết phân tách và nghiên cứu t́nh h́nh, tôi bảo họ sau khi về lại Hoa Kỳ cho tôi biết bộ mặt thật của Việt Nam ngày nay ra sao.

Một cách tổng quát, họ cho tôi biết rằng dân t́nh ngày nay bớt cưo cực hơ những năm trước nhiều, hậu quả của những chiến dịch “đi kinh tế mới” hay “chương tŕnh thuỷ lợi” không c̣n nữa, ăn mày ăn xin cũng bớt làm hoen ố các thành phố. Nhưng về kinh tế th́ có hai khuôn mặt, một khuôn mặt hiền từ, hợp pháp, một khuôn mặt th́ đểu cáng, gian manh. Những tay đầu tư quốc tế thuộc các quốc gia kỹ nghệ Tây phương như Pháp, Úc mong làm ăn lương thiện nhưng những cán bộ kinh tài của Hà Nội và những cán bộ hành chánh ở các địa phương lại bày ra những thủ đoạn “quốc tế” nên dễ bị lung lạc, mua chuộc. Thanh ra v́ cán bộ nhà nước tham nhũng mà các tay đầu tư quốc tế làm mưa làm gió ǵ cũng được tạo nên những thị trường đen về Đô-la, vàng, hột xoàn, kim cương v.v...

Những người ngoại quốc thao túng thị trường và kinh tế Việt Nam là những người Á Đông. Người Nhật đến Sài G̣n không phải chỉ buôn bán thuần tuư mà c̣n để tiến hành chiến lược “Đại Đông Á thị trường”. Người Đại Hàn, Tầu Đài Loan, Trung Cộng, Hồng Kông, Singapore không phải đến để đầu tư, kinh doanh thuần tuư mà chính là đến vơ vét tài nguyên Việt Nam: cà phê, quế, yến sào, lúa gạo, cao su, ngà voi, sừng và móng chân trâu ḅ...Lại c̣n cái nạn người Tầu tung ra thị trường Đô-la giả nữa.(tr.159)

Quả thật chính phủ trung ương có cố gắng chận đứng tham nhũng, lộng hành những v́ chính phủ th́ ở xa mà người nhà nước tham nhũng th́ ở gần nên sự thất thoát thuế má, tiền thu nhập vẫn c̣n rất nặng.

Dù sao th́ vẫn có phát triển kinh tế, vẫn có kiến thiết quốc gia. Nhờ đó dân chúng có công ăn việc làm, đất nước phồn thịnh hơn cách đây 5,6 năm về trước. Việc nhà nước mới cho mở cửa 5 trường Đại học Dân Lập tại miền Trung mới đây là một tiến bộ rơ rệt.

Về phương diện chính trị và an ninh th́ mặc dù Việt Nam đang ở trong tay một chế độ Cộng sản nhưng ít nhất về bề ngoài người ta không thấy là Cộng sản nữa cả. Tên “Thành phố Hồ Chí Minh” chỉ c̣n có trên giấy tờ và trên một vài tấm bảng đó đây, dân chúng và cả cán bộ nữa vẫn gọi Sài G̣n là Sài G̣n. Vào các tiệm ăn, tiệm nhậu đấu láo, người ta vẫn chửi Cộng sản, vẫn công khai chỉ trích chính quyền. Sách báo vẫn cho thấy có tự do ngôn luận, tất nhiên một thứ tự do c̣n vương vấn ít nhiều dè dặt.

Nhưng đừng tưởng bở!

Chính phủ nắm rất vững t́nh h́nh an ninh nhờ nắm vững quân đội và Công an và nhờ hệ thống cán bộ ch́m nằm vùng khắp nơi: trong chùa, trong nhà thờ, nhà thờ Cao Đài, các cơ xưởng, trường học v.v...Cứ chửi chính phủ, chửi đảng đi...nhưng đừng đụng đến “Cụ Hồ”, đừng có ḥng âm mưu tổ chức “phá hoại”. Qua t́nh trạng này, người bạn vong niên của tôi có một nhận xét rất tinh tế về t́nh báo, đó là việc Trung Quốc vẫn luôn luôn là nguy cơ số một của Việt Nam, nhưng nhờ tổ chức an ninh chặt chẽ nên Trung quốc không thể đặt được đội quân thứ 5 trong nội địa Việt Nam. Và chỉ có chế độ Xă hội Chủ nghĩa (tr.160) đương thời mới triệt hạ được đội quân thứ 5 của Trung Quốc, c̣n để cho người Việt Quốc gia cầm quyền th́ Trung Quốc không cần đem quân đội xâm lăng mà chỉ với Đạo quân thứ 5 thôi, Trung Quốc cũng có thể thôn tính được Việt Nam dễ dàng.

Việc các Quốc Trưởng, Thủ Tướng ngoại quốc đến thăm Việt Nam, phê phán đường lối chính trị, lề lối quản lư và t́nh trạng tham nhũng, lộng quyền cũng giúp cho Việt Nam những sự cải tiến và trong sách hoá chính quyền phần nào. Công bằng mà xét th́ tuy Việt Nam đang ở trong “t́nh trạng khó khăn”, nhưng tín hiệu lạc quan về một Việt Nam cải tiến, văn minh không xa vời lắm. Lời tiên đoán của Thủ Tướng Lư Quang Diệu “15,20 năm nữa, Việt Nam sẽ không c̣n Cộng sản” chắc không sai lầm bao nhiêu.

Khi tôi đang viết những gịng này th́ Thủ Tướng Jean Chretian xứ Canada vừa đi thăm bốn quốc gia Á Đông về tuyên bố cương quyết phải giao thương với Việt Nam. Ông nhân mạnh:

“Lúc này Việt Nam đă mở cửa vào thế giới. Canada mở cửa vào Đông Nam Á, và chúng ta có thể cùng nhau xây dựng được nhiều tiến bộ về kinh tế, về chính trị và về xă hội”.

(At the moment Vietnam is opening to thes World, Canada is opening to the Pacific, and together we can make a lot of progress in economic, political, and social relations; The Gazette Montreal, Thursday Nov 17,1994)

Thủ Tướng Canada đă chứng kiến việc kư kết một hợp đồng giao thương với Việt Nam 110 triệu Đô-la. Khi đi Việt Nam về, Thủ Tướng c̣n tuyên bố thêm trên đài truyền h́nh: (tr.161)

“Giao thương với Việt Nam để Việt Nam phát triển mọi phương diện. Về tiến tŕnh dân chủ sẽ tuần tự đến trong tương lai”.

Lời tuyên bố của Thủ Tướng Jean Chretian cũng là lời tuyên bố đầy khích lệ.

Mặc dù qua tường tŕnh của các bạn trẻ như tôi nói trên kia và qua tin tức quốc tế, biết được ở quê nhà đă có nhiều tiến bộ, nhưng cuối năm 1993 tôi cũng quyết định cho một người con của tôi về Việt Nam, trước để thăm viếng nơi chôn nhau cắt rốn, sau để quan sát tận mắt dân t́nh và xứ sở xem ngày nay đă có những thay đổi tốt đẹp ǵ chưa?

Làng tôi vốn đă nghèo như tôi mô tả trong Hồi kư của tôi, suốt thời kỳ Mỹ ném bom Bắc Việt làng tôi lại là nơi hứng chịu nhiều nhất về bom đạn v́ làng tôi ở trên bờ Sông Gianh, gần rừng già Tuyên Hoá, một vùng chiến lược.

Thời Pháp đô hộ, làng tôi chỉ có 20% nhà ngói, 80% là nhà tranh, nhưng nay th́ ngược lại đă có đến 80% nhà ngói, có cả nhà lầu, 20% nhà tranh. Ở thôn quê Việt Nam nơi nào nhiều nhà ngói là biểu hiệu cho sự giàu có, ăn nên làm ra. đường sá không c̣n bùn lầy nước đọngnữa mà xe ô tô có thể chạy khắp làng. Trường học làng tôi trước chỉ có hai lớp lụp xụp nay có đến năm lớp khang trang. Qua cuộn Video tôi thấy các em bé học sinh ăn mặc lành lặn, sạch sẽ, trời lạnh mà em nào cũng có áo ấm và đi giép cao su khác với Việt Nam thời tôi c̣n trẻ đi học phải mang tơi đội nón, đi chân không. Điểm làm cho tôi không ngờ là điện chạy từ Đồng Hới về làng cách 42 cây số, nhà khá giả có thể bắt được điện và gắn Tivi như nhà cháu tôi. Làng được một Hội đồng Quản trị làm việc trong tinh thần dân chủ, kỷ (tr.162) luật cởi mở không c̣n cảnh tượng Lư Toét, Xă Xệ, cường hào ác bá như xưa kia.

Nhưng điều đặc biệt mà tôi chú ư nhất là vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng và các phong tục cổ truyền. Trước hết dân Việt Nam được nhà nước khuyến khích việc thờ cúng tổ tiên ông bà, coi như là quốc đạo, các lễ nghi cổ tục đều được phục hồi. Ai có theo dơi thêm chương tŕnh “Asia Now” của Hoa Kỳ trên băng tần PBS trưa thứ Bảy mỗi tuần sẽ thấy thỉnh thoảng có chiếu những lễ nghi, cổ tục, đang được phục hồi tại Việt Nam kể cả lễ rước thần, các hội hè mùa Xuân.

Ngôi nhà thờ Tổ của họ tôi bị bom Mỹ san bằng nay được con cháu họ tôi đóng góp tiền bạc xây cất mới lại hoàn toàn, cũng có mái cong cong, cũng có lưỡng long triều nguyệt, cũng có trạm trổ quy, phượng, long, lân, voi chầu, ngựa phục, cũng có cờ vuông, cờ đuôi nheo, chiêng, trống, hộ bộ, bát bửu...đầy đủ khí cụ thờ cúng của thời xa xưa mà Hà Nội là nơi có kỹ nghệ sản xuất đang phát tài, chứng tỏ tín ngưỡng đang được phục hồi mạnh mẽ.

Ngôi nhà cha mẹ tôi ở xưa kia, nới tôi ra đời vốn bằng tranh nay bằng gạch ngói lại có ao sen hồ cạn, cây kiểng bốn mùa. Một người cháu nội của cha tôi nay là gia trưởng coi việc cúng kỵ hàng năm, chủ nhân ngôi nhà đầy kỷ niệm của tôi thời thưo ấu.

Cầu Sông Gianh đang được một công ty Pháp xây cất theo kiểu cầu xa lộ, v́ nhà nước đương quyền đă có chủ trương thiết lập đường xa lộ chạy dài từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào đếieät nam Cà Mâu, Tây Ninh.

Thành phố Đồng Hới, tỉnh lỵ Quảng B́nh, cũng đă được tái thiết như một thành phố nghỉ mát trên cửa sông (tr.163) Nhật Lệ, không c̣n quên mùa lụp xụp như trước nữa mà có nhà lầu 4,5 tầng, có sân vận động, có hoa viên đàng hoàng. Đây quả thật là một cố gắng vượt bực của nhà nước đương quyền v́ năm 1945, 1946 Đồng Hới bị triệt hạ theo chủ trương “Vườn không, nhà trống”, thế mà từ sau 1975 ḥa b́nh trở lại, thành phố được xây cất tân tiến theo kiểu Tây phương.

Sau 50 năm chiến chinh xa cách nay nhờ quê hương thống nhất, đất nước thành b́nh, con tôi đại diện cho gia đ́nh trở về làng xưa, xóm cũ thăm viếng bà con họ hàng và dâng một nén hương lên bàn thờ ông bà cha mẹ, được mọi người già trẻ niềm nở đón chào, mừng mừng tủi tủi, tiếng khóc chen lẫn tiếng cười, tôi thật không ngờ có ngày đẹp trời đến thế. Cứ tưởng Chủ nghĩa và ư thức hệ măi măi phân cách đôi bờ. Những h́nh ảnh quê mùa nhưng đầy t́nh bà con thắm thiết nơi chôn nhau cắt rốn, hiện ra trên máy Tivi làm cho tôi không cầm được nước mắt tự hỏi biết bao giờ tôi có thể trở lại cố hương?

Trên đường vào Nam, con tôi cũng có ở lại mấy ngày để thăm cố đô Huế. Gặp được những Phật tử và sư cô mà gia đ́nh chúng tôi đă bảo trợ trong chương tŕnh Giao Điểm Foundation, họ cho biết từ sau cuộc biểu t́nh ngày 24/5/1993 cuộc đấu tranh do thầy Huyền Quang lănh đạo coi như chấm dứt. Dân chúng Huế nhớ đến cuộc đấu tranh 1963, và nhớ đến cái chết của Đại lăo Ḥa thượng Đôn Hậu mới đây nhiều hơn cuộc đấu tranh của thầy Huyền Quang.

Một sự bất ngờ để hôm nay tôi có thêm tài liệu để viết về Phật giáo ở quê nhà. Đó là trong lúc tôi cho con tôi về quê cốt để nh́n tận mắt nghe tận tai cảnh “lột xác” của quê (tr.164) hương đặc biệt về phương diện tôn giáo và tín ngưỡng, phong tục th́ người bạn trẻ của gia đ́nh tôi, Tiến sĩ Lư Khôi Việt cũng về thăm quê hương. H́nh tŕnh về thăm quâ hương đă được Lư Khôi Việt viết thành hồi kư nhỏ trên tờ Bông Sen do chính anh chủ trương mà tôi là độc giả thường trực nên đă được đọc.

Thật là thích thú và may mắn, đọc được phóng sự tường tŕnh sinh hoạt Phật sự tại ba thành phố chính của Việt Nam: Huế, Hà Nội và Sài G̣n. Nhưng ở đây tôi chỉ mô tả cuộc thăm viếng “Viện Bảo tàng lịch sử” tại Hà Nội mà thôi.

Lư Khôi Việt sau khi thăm viếng chùa chiền tại Huế, anh đi tầu lửa ra Hà Nội. Không ngờ sau khi lên tầu anh gặp được bậc cao tăng, Ḥa thượng Thích Thiện Siêu, cũng đi Hà Nội để họp Quốc hội. Được nghe danh thầy và nay được trực tiếp nói chuyện với thầy, anh nẩy ra ư kiến hy vọng thầy sẽ đóng được vai tṛ dung hợp khuynh hướng Phật giáo trong một Giáo hội duy nhất. Đây là ư kiến của một Phật tử trí thức muốn Phật giáo được phục hồi trong tinh thần đại đoàn kết giữa một bối cảnh một chế độ chính trị thiên tả nhưng vẫn dân tộc, khác với tư tưởng hẹp ḥi, cục bộ của các trí thức Phật giáo Trần Quang Thuận, Vơ Văn Ái chỉ muốn triệt hạ Phật giáo mà họ gán cho là quốc doanh, thứ Phật giáo vẫn kiên tŕ ở lại trong nước để bảo tồn và phát triển đạo Phật.

Lư Khôi Việt trước khi đi Hà Nội c̣n đề cập đến một niềm vui lớn, là khắp các chùa lớn ở Huế đă có những pḥng phát hành kinh sách Phật giáo, với cả trăm cuốn sách mới được Giáo hội mới in ra một cách rất nghiêm túc và quan trọng, hay được Phật tử in lại một cách bán chính (tr.165) thức. Các tác phẩm của thầy Thích Nhất hạnh, của Nguyên Phong đều được in “chui” có bán công khai ở một số nơi và được t́m đọc rất nhiều.

Qua đoạn văn của Lư Khôi Việt, người ta thấy dưới chế độ Chủ nghĩa Xă hội, tuy Phật giáo có bị ít nhiều kiểm soát những sinh hoạt Phật tử vẫn sinh động có cả sự ḥa hài giữa kinh sách trong nước và kinh sách từ nước ngoài về. Nhà nước chắc chắn có kiểm soát Phật giáo, cũng như các tôn giáo khác v́ lư do an ninh và xây dựng, nhưng chắc chắn sự kiểm soát của nhà nước đương quyền vẫn không quê kệch và gây gắt như nhà nước chống cộng Ngô Đ́nh Diệm. Chế độ Ngô Đ́nh Diệm buộc các tôn giáo không phải là Thiên chúa giáo với dụ số 10, đạo Phật là đạo đa số, lâu đời mà lại bị coi như một Hiệp hội trong lúc Thiên chúa giáo vừa thiểu số, vừa mới du nhập lại được coi là một tôn giáo. Đạo Phật bị kiểm soát gắt gao về mọi mặt: kinh sách, sinh hoạt, tài sản v.v...Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm chỉ cho giảng dạy những tài liệu nhục mạ đạo Phật, th́ chế độ đương quyền vẫn cho phổ biến rộng răi các bộ sách quư Phật Giáo Việt Nam Sử Luận của Nguyễn Lang tức Thượng toạ Nhất Hạnh, phổ biến Thơ văn Lư Trần. Những bộ sách của thầy Nhất Hạnh được nhà nước đương quyền xử dụng, tức là thầy Nhất Hạnh không cần đấu tranh như thầy Huyền Quang mà “bất chiến tự nhiên thành”.

Như thế là thầy Nhất Hạnh ở nước ngoài và thầy Thanh Từ ở trong nước, hai thiền sư không hẹn mà cùng nhau hoạt động chung cho sự phục hồi Phật giáo Việt Nam, cho Thiền Việt Nam.

Mô tả chuyến đi xe lửa ra Hà Nội, Lư Khôi Việt cho biết mấy năm trước đi xe lửa là một cực h́nh v́ hôi hám,(tr.166) v́ chen lấn, v́ thiếu an ninh. Nhưng ngày nay đi các chuyến xe lửa là một thú vui lớn, được băng ḿnh qua các miền đất nước trên một chiếc xe lửa tiện nghi và sạch sẽ. Sự phục vụ trên các toa xe lửa đă đạt đến mức độ tiện nghi gần bằng trên máy bay. Ăn uống ngon lành, đầy đủ sáng, trưa, chiều và tối c̣n có cháo gà. Ai ngồi ghế nấy rất trật tự, ngăn nắp và an ninh. Có cả Video chiếu những phim ngoại quốc thật hay có dịch ra tiếng Việt. Có các pḥng có gường nằm riêng tư và kín đáo. Các sự loan báo rằng micro trên tầu đều mở đầu bằng câu: Kính chúc quư vị khách...thật êm ái, ngọt ngào. Ngoại trừ những lúc băo lụt, cầu sập, đường hư, tầu đi và đến rất đúng giờ...

Quả là sự thay đổi một trời một vực nếu so sánh với t́nh trạng xe lửa cách đây 3 năm. Đây cũng là sự thay đổi trên nhiều lănh vực khác của Việt Nam ngày nay. Chỉ cần trở về sau một vài năm, bạn sẽ ngạc nhiên v́ những tiến bộ đáng kể ở khắp nơi và trong mọi ngành. Quả thật, Việt Nam đang diễn ra một cuộc cách mạng trong từng ngày từng giờ...

Chính sách đổi mới của nhà nước và nền kinh tế thị trường là phép lạ đưa Việt Nam tiến đến một quốc gia cường thịnh trong ṿng 10,15 năm. Nếu không có sự phá phách của Trung Quốc và các nhà mại bản quốc tế, nếu không phải chịu nhẫn nhục v́ c̣n kém thế, chắc chắn Việt Nam sẽ rất mau trở thành một con Rồng Á Châu.

Trong một đoạn trên tôi có nói: “Nhà nước cứ độc tài đi”. Độc tài và chuyên chế vẫn có thể như Tưởng Giới Thạch, Phác Chính Hy, phát triển quốc gia, nếu đó là loại chuyên chế v́ dân v́ nước, v́ cần kỷ luật mạnh, để tạo sức mạnh chung. Độc tài nhưng trước hết phải đại phục hưng (tr.167) truyền thống dân tộc để làm nền tảng vững chắc trước khi làn sóng văn hoá kinh tế ngoại quốc đổ vào.

Tôi mừng v́ nhà nước đương quyền đă và đang làm việc đại phục hưng đó mấy năm trong đó có việc xây dựng “Viện Bảo Tàng Lịch Sử” được Tiến sĩ Lư Khôi Việt mô tả dưới đây:

Là người say mê lịch sử nên sau một ṿng đi nh́n Hà Nội dưới cơn mưa phùn qua những con đường lớn, tôi đến “Viện Bảo Tàng Lịch Sử”. Thành phố với kiến trúc thuần tuư Á Đông. Viện Bảo Tàng được chia làm nhiều khu, mỗi khu là một trung tâm triển lăm một triều đại hay một thời đại của đất nước như thời đại Hùng Vương, triều đại nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Lê, triều đại nhà Lư, nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn và các phong trào cách mạng cận và hiện đại. Đi lặng lẽ trong Viện Bảo Tàng Lịch Sử mà ḷng tôi như nổi sóng, như bay bổng v́ niềm tự hào cuồn cuộn và nỗi sung sướng ngất trời. Những h́nh ảnh nổi bật nhất của lịch sử Việt Nam được tŕnh bày một cách tuyệt hảo và hài ḥa: đó là những chiến công thần kỳ, hiểm hách và đó là sự ngự trị cao vút, bao trùm của Phật giáo Việt Nam trên gịng lịch sử vinh quang của Dân tộc. Bên cạnh những chiêng trống tinh xảo, kỳ diệu, những tranh vẽ và mô h́nh của những chiến công chống ngoại xâm hào hùng, hàng hàng lớp lớp là những tượng Phật vĩ đại tuyệt đẹp, là bia đá khổng lồ đúc trên lưng một con rùa đá thật lớn, đặc biệt trong  khu triễn lăm thời đại nhà Lư và nhà Trần, những câu nói lịch sử, thấm nhuần tinh thần từ bi, nhân bản Phật giáo, của các vị Quân Vương Phật tử đă được khắc và treo một cách uy nghi, trang trọng. Năm ngàn năm Việt Nam lịch sử là đây và hai ngàn năm Việt Nam và Phật giáo cũng là đây, sống động, linh thiêng, (tr.168) và vô cùng mầu nhiệm. Hồn thiêng sông núi, trí tuệ và máu xương của tổ tiên cha ông cô động, kết tinh nơi đây và dường như có thể nắm bắt trong ḷng bàn tay. Và chỉ có một đất nước độc lập thật sự, và chỉ có những người yêu nước chân thành mới xây dựng nổi một viện bảo tàng lịch sử tuyệt vời như thế này.

Có những người “Công giáo Việt Nam” nghĩ rằng lịch sử Việt Nam chỉ bắt đầu một cách “văn minh” kể từ khi thực dân Pháp đến “khai hoá” và đạo Thiên chúa được ưu đăi, c̣n nước đó chỉ là một lịch sử “man rợ bán khai”, và họ dám nói nguyên văn “Quang Trung, Lê Lợi chỉ là bọn vơ biền, đám đá” hay “thời đại Lư Trần là thời đại bệ rạc của Việt Nam”. Những kẻ này nên đến nh́n Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam và nên để tất cả thời giờ c̣n lại của cuộc đời họ để nghiên cứu t́m hiều thêm về văn hoá và lịch sử dân tộc nếu họ c̣n tự nhận ḿnh là người Việt Nam. Và thú thật trong t́nh đồng bào ruột thịt tôi cảm thấy gần gũi những người Mác-xít có tinh thần dân tộc hơn là gần gủi những người Thiên chúa giáo thiếu hiểu biết về văn hoá lịch sử dân tộc này. Một số hạng người này v́ không sống trong bầu trời văn hoá dân tộc nên rất dễ phản bội và dám làm những việc phi nhân chống lại tổ quốc và đồng bào của chính họ. V́ họ đă bị đầu độc từ thời thực dân Pháp “tổ tiên chúng ta là người Gaulois và bọn An-na-mít là bọn dă man” hay bị đầu độc bởi các khẩu hiệu “thà mất nước hơn mất Chúa, thà phản quốc hơn phản Vatican”...Nhưng trong thời đại ngày nay khi đế quốc Vatican đang bị khủng hoảng toàn diện và trên đường tự huỷ th́ họ c̣n chỗ đứng nào trên trái đất này nếu không hồi tâm trở về với Dân tộc?” (tr.169)

Cũng như nhận xét của Lư Khôi Việt trên kia, tôi cũng có cảm t́nh với người Mác-Lê có tinh thần dân tộc hơn với người Thiên chúa giáo. Bởi v́ Cộng sản đến đâu dù tàn bạo mấy chỉ như một trận cháy rừng, c̣n Thiên chúa giáo (dù La Mă hay Tin Lành) đến đâu th́ như đám ruộng bị nước phèn tràn vào. Lửa rừng dù cháy mấy trăm triệu mẫu, mưa xuống một trận là chồi non sẽ trồi lên, vài ba năm sau cây rừng xanh tươi trở lại. C̣n nước phèn khi đă tràn vào một đám ruộng vườn nào rồi th́ vườn ruộng đó không bao giờ c̣n có thể trồng trọt được nữa. Bạn ơi! Hăy nhớ kỹ cho tôi điều so sánh đó.

Thử hỏi nếu người Thiên chúa giáo cầm quyền th́ Việt Nam có “Viện Bảo Tàng Lịch Sử” tại Hà Nội như ngày nay để ta tự hào hay không? C̣n nhớ dưới chế độ hai ông Tổng Thống Thiên chúa giáo Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu mà ngày lễ Quốc tổ Hùng Vương họ c̣n dẹp bỏ không ngó ngàng tới, nói ǵ đến việc xây dựng “Viện Bảo Tàng Lịch Sử!” Không lẽ họ xây dựng “Viện Bảo Tàng Lịch Sử” để trưng bày tượng các ông Alexandre de Rhodes, Pigneau de Behaine, Puginier, Pellerin, Trần Lục, Nguyễn Bá Ṭng, Ngô Đ́nh Khả, trưng bày tàu chiến, súng đồng của Tây...với các ông Toàn quyền thực dân.

Nhà nước đương quyền hiện nay không chỉ xây dựng “Viện Bảo Tàng Lịch Sử”
, không chỉ tu bổ chùa chiền danh tiếng, kể cả ngôi chùa Một Cột từng bị một nhóm quân nhân tín đồ Thiên chúa giáo đặt ḿn triệt hạ trước khi di cư vào Nam năm 1954. Nhà nước đối với Phật giáo c̣n có rất nhiều thiện cảm, nếu không muốn nói rằng nhà nước muốn (tr.170) trùng hưng đạo Phật sau bao lớp phế hưng, tang tóc. Dưới đây là một vài chứng minh tiêu biểu:

1. Cho phép Ḥa thượng Thanh Từ và một phái đoàn Phật tử miền Nam đi tham quan tất cả chùa chiền danh tiếng kể cả ngôi chùa nơi sơn lâm cùng cốc, mà đường vào vất vả cheo leo. Đến đâu Ḥa thượng cũng được chính quyền và dân chúng địa phương đón tiếp niềm nở. Ḥa thượng hỏi han dân t́nh, tặng quà và khuyến khích họ phục hồi Đạo Phật mà suốt 30 năm chiến tranh khủng khiếp đă làm cho nhiều ngôi chùa đổ nát, khói lạnh hương tàn, đă làm cho dân chúng lơ là với gia tài tâm linh cha ông để lại.

Trên đường về Nam, nhiều nơi Ḥa thượng Thanh Từ dừng chân thuyết pháp, Ḥa thượng có ghé chùa Linh Mụ bái yết Đại lăo Ḥa thượng Thích Đôn Hậu. Quả thật là một cuộc gặp gỡ lịch sử v́ trải qua mấy chục năm trời tang thương, biến đổi, thầy tṛ không ngờ có ngày gặp gỡ lại nhau, Ḥa thượng tặng kinh sách, vải vóc và bạc tiền. Hàng trăm Phật tử vây quanh như một ngày hội lớn, xin Ḥa thượng ban cho một buổi thuyết pháp, nhiều khúc mắc trong giáo lư đă được Ḥa thượng giải toả một cách dễ dàng.

Tôi đă được xem Video chiếu cuộc hành tŕnh Bắc du của Ḥa thượng, tôi lại được nghe những cuốn băng Hoà thượng đến nói chuyện nơi các vùng nông thôn xa vắng của miền Nam để thuyết pháp. Lời nói đầu trong mọi buổi thuyết pháp của Ḥa thượng Thanh Từ thường là: “Được chánh quyền cho phép thầy tṛ chúng tôi đến đây nói chuyện với đồng bào mà đă từ lâu lắm rồi tôi không được gặp gỡ”. Câu nói đó chứng tỏ đă đi vào hang cùng ngơ hẹp để truyền Phật Pháp cho nhân dân với những bài thuyết (tr.171) giảng hợp căn cơ, hợp tŕnh độ đại chúng và thời đại. Tôi nghĩ quả thật Ḥa thượng Thanh Từ, không cần phải có tổ chức, không cần phải có Phật giáo Thống Nhất mà đang thật sự đấu tranh với chíng quyền. Đấu tranh ôn hoà ngay giữa ḷng chế độ, hợp pháp, hợp thời đại và hợp môi trường.

2. Cho phép chiếu phim Tam Tạng Thỉnh Kinh dân chúng cả nước được xem. Nhà văn Vũ Thế Ngọc may mắn về nước gặp lúc phim này đang chiếu tại Sài G̣n. Anh mô tả lại trên tạp chí Bông Sen cảnh dân chúng Sài G̣n đêm đêm trông mau cho đến 8 giờ tối để được xem phim ba thầy tṛ Huyền Tôn vượt núi trèo đèo đi Tây Trúc. Mỗi lần vị cao tăng bị yêu quái bắt cóc, mọi người nín thở, lo sợ, bồn chồn như cha già ḿnh đang lâm nạn cho đến khi Huyền Tôn được Tôn Ngộ Không giải thoát mọi người vùng lên vỗ tay reo mừng. Vũ Thế Ngọc kết luận rằng quả thật không có h́nh thức tuyên truyền đại chúng nào cho Đạo Phật bằng cách cho chiếu phim Tam Tạng đi thỉnh Kinh.

Chế độ Xă hội Chủ nghĩa mà lại cho chiếu phim tuyên truyền cho Đạo Phật, trong lúc chế độ chống cộng Ngô Đ́nh diệm đầu năm 1963 cho chiếu phim Sakya để phản tuyên truyền Phật giáo. Lúc bấy giờ Thượng tọa Thích Tâm Châu vận động thành lập Ủy ban Liên Phái chống phim Sakya. Cho nên Lư Khôi Việt đă nói đúng: thà gần với người Mác-xít mà dân tộc hơn là gần gũi với người Thiên chúa giáo mà mất gốc.

3. Nhà Xuất bản Khoa học Hà Nội cho ra đời cuốn Việt Nam danh lam cổ tự, ghi lại h́nh ảnh và tiểu sử 171 ngôi chùa danh tiếng của Việt Nam. Sách in mầu rất công phu, (tr.172) và tường thuật cả lời chỉ dẫn lịch sử của mỗi ngôi chùa. Đây là một đóng góp lớn vào việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc mà từ trước đến nay mới có nhà xuất bản Khoa Học Hà Nội thực hiện được. Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng bởi trước hết Phật giáo và những vấn đề của Phật học đă trở thành đề tài để được người nghiên cứu và biên soạn sách trong chế độ Xă hội Chủ nghĩa quan tâm.

4. Năm 1993 nhà nước lại cho ra đời cuốn Tuệ Trung Thượng Sĩ với Thiền Tông Việt Nam.

Đây là kỷ yếu cuộc hội thảo khoa học của Viện Khoa học Xă hội thành phố Hồ Chí Minh và việc nghiên cứu Phật học Việt Nam về một hiện tượng độc đáo của lịch sử Việt Nam: Tuệ Trung Thượng Sĩ - Trần Tung (1230-1291). Sau hai ngày hội thảo, giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét: “chúng ta đáng tự hào v́ Việt Nam chúng ta cũng có tư tưởng triết học hẳn hoi”. Câu nói của nhà Mác-xít Trần Văn Giàu không bao giờ có được nơi miệng anh em nhà họ Ngô Đ́nh và những người đồng đạo của họ. Cộng sản và Thiên chúa giáo c̣n khác nhau ở đó.

Cũng cần ghi nhận thêm lời khai mạc cuộc Hội thảo của bà Nguyễn Thị Thanh Xuân, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm thuộc viện Khoa Học Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh, để thấy nhà nước Xă hội Chủ nghĩa đang đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu Phật học như thế nào:

Đây là Hội thảo không chỉ có tầm quan trọng về mặt khoa học mà c̣n có ư nghĩa về nhiều mặt. Bởi v́ với chủ đề này, chúng tôi muốn mời các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu Phật học suy ngẫm về Thiền - hành động của Việt Nam và đem những tinh hoa tư tưởng của tổ tiên (tr.173) phục vụ cho cuộc sống mới hôm nay...Chúng tôi hy vọng rằng với gần 40 bản tham luận của các nhà nghiên cứu, các vị tăng ni Phật tử của mọi miền đất nước cùng với sự đóng góp ư kiến của đông đảo quư vị quan tâm đến việc phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, hội thảo này sẽ thúc đẩy sự nghiên cứu tư tưởng Phật giáo Việt Nam nói riêng và tư tưởng Việt Nam nói chung, đồng thời bồi dưỡng ḷng tự hào về danh nhân văn hoá Tuệ Trung Thượng Sĩ - Trần Tung một trong những người tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách sống Việt Nam thế kỷ XIII”.

5. Cuối năm 1994, nhà nước lại cho Ḥa thượng Thanh Từ xuất ngoại đẻ chữa bệnh, nhưng Ḥa thượng lợi dụng cơ hội này đi thăm Phật tử của ông. Ḥa thượng đi thuyết pháp nhiều nơi, đâu đâu ông cũng được hàng ngàn Phật tử đón rước hết sức niềm nở như đă nói ở một đoạn trên khi ông đến HoustonSanta Ana. Nhưng khi đến San José, Hoa Kỳ, thuyết pháp tại chùa Đức Viên, ông bị một đám người trong đó có cả người tín đồ Thiên chúa giáo và Chủ nhiệm báo Chánh Đạo của Phật giáo là Nguyên Trung Ngô Văn Bằng. Cũng cần phải nói thêm rằng Nguyên Trung Ngô Văn Bằng là đàn em của ông Lê Tuyên (hiện cư ngụ tại Mỹ) mà Lê Tuyên năm 1963-1967 ở trong chi bộ Thuận Hoá của Lê Khắc Quyến. Lê Tuyên đă từng lên đài phát thanh Sài G̣n mạt sát Ḥa thượng Trí Quang, cũng như trên báo Chánh Đạo Ngô Văn Bằng đă có bài hồi kư nhỏ có luận điệu bất măn Thượng toạ Trí Quang.

Nhưng dù bị phá hoại một cách ngang ngược, sai trái và nhờ sự hiện diện của 10 xe Cảnh sát, nên sáng hôm đó trong chánh điện chùa Đức Viên đă có 500 Phật tử làm lễ (tr.174) quy y ngũ giới, và chiều hôm đó trong buổi thuyết pháp quy tụ hơn 1,000 Phật tử kính cẩn ngồi nghe.

Theo tờ tường tŕnh của Phan Quốc Độ, th́ gần 20 năm tại hải ngoại chưa bao giờ sức mạnh của Đạo Phật dạt dào, tuyệt vời, đáng yêu và đáng tự hào như hôm Hoà thượng Thanh Từ thuyết pháp tại San José mà bị nhóm người mất gốc chống đối.

Cũng cần phải nói thêm rằng hôm thầy Thanh Từ thuyết pháp tại chùa San José Thầy không chịu cho chùa treo cờ vàng ba sọc đỏ. Những kẻ chống đối Thầy, những kẻ chống cộng rẻ tiền cho như thế tức Thầy là tay sai Cộng sản. Họ không biết rằng nếu Thầy là tay sai Cộng sản lại đang hoạt động tại Hải ngoại nơi có nhiều người c̣n to mồn chống Cộng Thầy cần phải cho treo nhiều cờ vàng ba sọc đỏ để làm b́nh phong che đậy hành tích Cộng sản của Thầy. Họ cũng không biết rằng thuyết giảng đạo Phật tức là làm công việc chống lại chủ nghĩa Cộng sản v́ triết lư của hai bên, hành hoạt của hai bên hoàn toàn đối nghịch nhau.

Ngoài ra, nếu thầy Thanh Từ ra hải ngoại hoạt động núp dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, khi về nước chính quyền sẽ gắn cho Thầy là đă đầu hàng phe Quốc gia chống cộng, rồi cấm không cho Thầy hoạt động Phật sự nữa. Như thế lợi cho ai và hại cho ai hỡi các sư, hỡi các ông Phật tử chống Cộng bằng mồm?

C̣n một điều khác nữa là gần 20 năm qua từ sau tháng 4/1975, hàng chục ông Hồng Y, Giám Mục, chức sắc cao cấp bên đạo Thiên chúa hàng năm ra vào Việt Nam, có ông như Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh nhiều lần ra hải ngoại tuyên truyền cho chế độ Xă hội Chủ nghĩa, không (tr.175) thấy ai chống đối cả, không thấy một tín đồ Thiên chúa giáo nào đả kích hay lên án cả mà lại chỉ chống đối, nhà sư Thích Thanh Từ mà thôi. Không biết các Phật tử chống đối chuyến Mỹ du của Thầy Thanh Từ có biết xấu hổ không, có biết ḿnh bị ai đó “xúi trẻ con” để họ vỗ tay cười không? Ông Ḥa thượng đi ra ngoại không hề nói một tiếng chính trị th́ làm lợi cho cộng sản ở chỗ nào, c̣n các Hồng Y, Giám mục đi bàn bạc với Vatican cung cách bắt tay thỏa hiệp với Hà Nội th́ không làm lợi cho Cộng sản hay sao; được Cộng sản chi đi Rome để nhận chức Hồng Y là không tuyên truyền cho Cộng sản hay sao?

Qua 5 hành động của chính phủ đương quyền trên đây, và sự hiện diện của Viện Bảo Tàng lịch sử hùng vĩ giữa thủ đô Hà Nội, tôi có cảm tưởng nhà nước Xă hội Chủ nghĩa quả thật có cảm t́nh với Phật giáo, nếu không muốn nói nhà nước đang chủ trương lấy giáo lư nhà Phật làm tư tưởng chỉ đạo chính trị và hướng dẫn nếp sống quốc gia sau này.(tr.176)

 

LỜI KẾU GỌI THỐNG THIẾT GỞI LÊN CÁC THẦY TRANH ĐẤU

 

Qua tác phẩm Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, nhà Sử học Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu, với trí tuệ và lương tâm trong sáng dựa vào những tài liệu trong Văn khố Pháp và Hoa Kỳ, đă cho chúng ta biết sự thất bại của Thượng tọa Trí Quang trong các cuộc đấu tranh từ 1963-1967 như tôi tóm lược lại dưới đây:

Số tài liệu Văn khố Mỹ được mở ra cho những người nghiên cứu cũng đă đủ để khẳng định rằng Trí Quang và các Tăng lữ lănh đạo Phật giáo không hề là Cộng sản. Chủ trương của Trí Quang là muốn một nước Việt Nam Trung lập, Dân chủ thật sự, tránh khỏi sự kiểm soát của các siêu cường. Lập trường này đứng đắn và phù hợp với quyền lợi quốc dân Việt giữa lúc các siêu cường đă dùng những cuộc chiến tranh nho nhỏ tại các địa phương để duy tŕ trật tự hoàn cầu và mưu đồ vẽ lại biên cương thế giới.

Một trong những sai lầm chiến lược của Trí Quang là thời điểm. Những năm 1963-1967 là giai đoạn Mỹ đang muốn leo thang chiến tranh, hy vọng bẻ gẫy tham vọng thống nhất đất nước bằng vơ lực của Cộng sản. Tha thiết kêu gọi Trung lập ngay trong nội địa Việt Nam và trên diễn đàn quốc (tr.177) tế mà không tham khảo với Đại sứ Mỹ mang ư nghĩa sự thách thức chính sách và mục tiêu chiến lược của Mỹ. Nói cách khác tự biến ḿnh thành người thù của chính phủ Johnson...

Sai lầm chiến lược thứ hai của Trí Quang là nhận định chủ quan về đường lối và chính sách của Cộng sản Hà Nội: Trí Quang nghĩ rằng Ki-tô giáo nguy hiểm hơn cộng sản và Phật giáo đủ khả năng đương đầu với Cộng sản sau khi ngoại cường triệt thoái...

Sai lầm thứ ba là Trí Quang đă bỏ thực bắt bóng. Nhu cầu của Phật giáo trong thập niên 1960 là phải khai thác tối đa ảnh hưởng của “Chiến thắng 1963” để củng cố và phát triển tổ chức Giáo hội cũng như hệ thống nam và nữ Phật tử. Nhưng bị vây bọc bởi những người tham vọng, Trí Quang quên đi nhu cầu trước mắt, phiêu lưu vào những cuộc tranh chấp quyền lực, sử dụng khí thế Quảng Đức để hành sử quyền uy thế tục một cách lộ liễu...

Lỗi lầm thứ ta và cực kỳ nghiêm trọng thuộc về tổ chức. Hiển nhiên, Trí Quang không kiểm soát được những người chung quanh. Thông minh, tài năng, nhưng Trí Quang chỉ là một vị sư mà theo định nghĩa của những người dưới phố, không cóư quyền hành sử quyền lực thế tục. Bởi thế, Trí Quang phải trông cậy vào những “Phật tử” như Bùi Tường Huân, Trần Quang Thuận, Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên v.v...Những nhà làm chính trị tài tử, hoặc pḥng trà này, th́ phải tuỳ thuộc vào những cán bộ khác như Bảu Tôn, HoàngPhủ Ngọc Tường, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi. Kết quả là Trí Quang không làm chủ được con quái vật bạo lực do chính ḿnh đánh thức và mở cũi...(Tôn giáo &Chính Trị: Phật Giáo 1963-1967, Chính Đạo, Houston, Texas, 1994, trang 309-323)(tr.178)

Những sai lầm của Thượng toạ Trí Quang, những tội lỗi của một số chính khách pḥng trà chung quanh quư thầy và ở Huế năm xưa và hậu quả tai hại của nó đă được tôi tŕnh bày trên VNMLQHT gần đúng tất cả những ǵ ông Chính Đạo đă tŕnh bày trong tác phẩm của ông ta.

Những sai lầm của Thượng toạ Trí Quang cũng đă được tôi tŕnh bày trong một bữa cơm trưa tại Trung tâm Quảng Đức đường Công Lư Sài G̣n h́nh như vào thời gian sau Hiệp định Paris 1973 ra đời.

Nguyên thầy Trí Quang và thầy Thiện Minh không có mấy cảm t́nh với tôi v́ tính tôi hay nói thẳng, nhưng tôi thường đi chùa Già Lam của Ḥa thượng Trí Thủ, ngôi chùa mà bà chị ruột tôi, mẹ của Thiếu Tá Trương Văn Cảnh, tu hành như một ni cô già, hâu hạ Ḥa thượng cho đến lúc Ngài lâm chung về cơi Phật. Tôi thường tŕnh bày cho Ḥa thượng, và một đôi khi có cả Thượng tọa Thiện Siêu từ Huế vào rằng chủ trương Độc lập và Trung lập của Phật giáo và của Thượng toạ Trí Quang là một chủ trương đúng, v́ hợp ḷng dân và hợp xu thế thời đại mà các nước Đệ tam đang theo đuổi. Nhưng một số nhận định thời cuộc của Thượng toạ có nhiều sai lầm, chẳng hạnh như Hoa Kỳ đă thu xếp để ra đi mà hai Thượng toạ c̣n tin tưởng Hoa Kỳ không thể bở rơi Việt Nam một cách dễ dàng nên lợi dụng sự có mặt của họ để buộc hai phe thực hiện Trung lập và Độc lập cho Việt Nam.

Bỗng một hôm Thượng tọa Thiên Minh đích thân đến nhà đàm đạo, rồi mời tôi đến ăn cơm trưa tại Trung tâm Quảng Đức với Ḥa thượng Trí Thủ, Thượng tọa Huyền Quang và Thượng toạ Hộ Giác để tôi có dịp thuyết tŕnh t́nh h́nh cho quư thầy nghe. Có lẽ v́ tôi tŕnh bày một cách (tr.179) hơi mạnh bạo nên thầy Hộ Giác, lúc bấy giờ rất thân với thầy Trí Quang, có vẻ bất măn bỏ ra về. Đi theo thầy Hộ Giác có cả một nhà sự trẻ h́nh như là thầy Bửu Phương.

Nhắc lại chuyện cũ đó, tôi muốn thưa với quư thấy rằng trong chính trị và đấu tranh, hễ sai một ly là đi một dặm, như sự sai lầm của thầy Trí Quang đưa đến hậu quả cho Phật giáo từ 1967 đến nay. Sai lầm của quư thầy ngày nay lại càng trầm trọng hơn:

- Bị mê hoặc bởi luận điệu chống Cộng rẻ tiền, cho rằng “chế độ Xă hội chủ nghĩa” tại Việt Nam sớm bị sụp đổ. Tin tưởng rằng cuộc đấu tranh của Phật giáo sẽ thúc đẩy sự sụp đổ sớm hơn.

- Tin tưởng mù quáng vào Hoa Kỳ và các quốc gia tư bản kỹ nghệ có thể áp lực Việt Nam sớm dân chủ hoá, do đó cuộc đấu tranh của Phật giáo sẽ thắng lợi!

- Tin tưởng mạnh mẽ vào các tổ chức nhân quyền quốc tế mà không biết rằng, những vụ vi phạm nhân quyền ghê gớm ở Bosnia, Rwandha, Nam Dương c̣n bị bỏ rơi huống chi Việt Nam không nằm trong danh sách các quốc gia vi phạm nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

- Tin tưởng một cách thiếu khôn ngoan vào thái độ chống Cộng của Vatican. Tin tưởng Vatican có thể đứng chung một chiến tuyến với Phật giáo trong công cuộc chống Cộng. Quư thầy đă không thấy từ thời Giáo Hoàng Gioan (John) XXIII đến nay, Vatican không chống Cộng nữa mà chỉ t́m cách thỏa hiệp với Cộng sản, với mọi quốc gia, mọi tôn giáo, mọi tổ chức chính trị kể cả các tổ chức khủng bố quốc tế. Quư thầy đă không biết rằng những tổ chức như “kết hợp tôn giáo” như “Liên Tôn” do Vatican đề nghị thành lập chỉ có mục đích tăng cường uy tín quốc tế (tr.180) cho Vatican v́ Giáo hội La Mă đang trên đà suy thoái và để dùng trả giá với chính phủ Việt Nam. Quư thầy không thấy rằng Phật giáo càng đấu tranh th́ nhà nước càng bắt tay nhiều hơn với Vatican và xa rời Phật giáo.

Như tôi đă viết ở trên, phải công nhận rằng Giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam biết nh́n xa trông rộng, họ lại có cả thế quốc tế, thế mà họ đă cộng tác với chính quyền Cộng sản ngay từ khi Sài G̣n sụp đổ. Trong khi đó, hành động của quư Thầy thật là kém khôn ngoan, lại quá bảo thủ làm cho đa số Phật tử và cả chính quyền mới buồn chán t́m đường xa lánh, kính nhi viễn chi.

Mới đây tôi đọc tờ Bông Sen số 20, tác giả Trần Nguyên Tâm đă phải lên tiếng phiền trách quư Thầy như sau:

“Trong không khí đầy thiền vị và bên bếp lửa nồng nàn, tôi cùng Thầy trụ tŕ nói chuyện về Phật Giáo, những năm nghiệt ngă và bi hùng. Thầy cho biết trong đại hội kỳ VII của Giáo hội, tổ chức năm 1977, chính quyền cử những nhân vật quan trọng nhất của họ đến thuyết phục quư Thầy lănh đạo Giáo hội chấp nhận ghi vào trong quyết nghị của đại hội một câu thôi, và họ sẽ sẵn sàng thỏa măn tất cả yêu cầu của Phật Giáo, đó là câu “xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Xă Hội Chủ Nghĩa”. Quư Thầy đă bác bỏ và đại hội đă không đưa ra một lời tuyên bố như vậy. Và không những thế Phật giáo c̣n công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Kết quả là Phật Giáo phải chịu một sự đàn áp tàn khốc và Giáo Hội bị bức tử, những người lănh đạo bị thảm sát, bị tù đày...

Nghe chuyện này tôi đau đớn quá và thấy thương cho Phật giáo vô cùng, Một câu nói, thời 77, người nào cũng (tr.181) phải học thuộc ḷng và chính quyền kẻ đầy biểu ngữ, giăng khắp nơi “Xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Xă Hội Chủ Nghĩa”, trong hoàn cảnh một Giáo hội sống trong chế độ Cộng sản, th́ Giáo hội ghi lại câu nói này trong quyết nghị Đại hội VII của ḿnh hay ghi ở bất cứ đâu, cũng chẳng thiệt hại ǵ cho Phật giáo và chính quyền cũng chẳng có lợi bao nhiêu, thế mà quư Thầy lănh đạo Giáo hội và cả Đại hội cũng nhất quyết bác bỏ đề nghị này, bác bỏ lời hứa hẹn “Phật giáo muốn ǵ chúng tôi cũng đều đáp ứng” của Mai Chí Thọ, và để rồi phản gánh chịu những sự trả thù và trả đũa khốc liệt nhất, và cả Giáo hội bị bóp nghẹt, cả Phật giáo bị đàn áp.

Thời điểm 77 là thời điểm Việt Nam đang bị đe doạ bởi nhiều kẻ thù hùng mạnh. Sau 75, mao Trạch Đông tuyên bố cách mạng Việt Nam phải được làm lại và bắt đầu những mưu đồ khuynh đảo tại Việt Nam. Pol Pot, theo lịnh Bắc Kinh, gây chiến dọc biên giới các tỉnh miền Tây và thảm sát hàng ngàn thường dân Việt Nam. Mỹ và cả thế giới bao vậy, cô lập, những cán bộ di Trung Cộng huấn luyện cả triệu người, trong đó nhiều người đang nắm binh quyền, có thể đảo chánh bất cứ lúc nào, mâu thuẫn Bắc Nam giữa Mặt Trận Giải Phóng và triều đ́nh Hà Nội chỉ chờ cơ hội là bùng nổ, hơn một triệu quân nhân VNCH và nhiều thế lực khác của chế độ miền Nam vẫn c̣n nguyên vẹn trong nước, số người ra đi trong tháng 4/1975 không đáng kể là bao. Và guồng máy Cộng sản tại miền Nam rất yếu, và chiến thắng 30/4/1975 c̣n quá bất ngờ, Hà Nội không chuẩn bị kịp và chưa sẵn sàng để nuốt miền Nam. Tuy nhiên, trong các nguy cơ, nguy cơ mất nước về tay đế quốc Trung Hoa là nguy cơ lớn nhất. Nếu chuyện này xẩy ra th́ số phận của chúng ta ngày nay sẽ ra sao? Tương lai (tr.182) của dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu? Và chúng ta c̣n có quê hương nào để b́nh an trở về?”

Để quư Thầy có cái nh́n mới, tôi xin trích thêm một đoạn dưới đây:

“Tôi thông cảm và hănh diện v́ tinh thần dân tộc, tinh thần bất khuất, tinh thần đối kháng độc tài cao độ của nhiều nhân vật lănh đạo Phật Giáo. Tuy nhiên, Việt Nam trong thời điểm ngày nay, không phải giản dị là chỉ có chính quyền và Phật giáo mà thôi, cũng như các vấn đề đất nước không phải chỉ có các vấn đề giữa chính quyền và Phật Giáo. C̣n có nhiều thế lực khác, và rất nhiều vấn đề to lớn, hệ trọng khác mà mọi người phải có ư thức và nh́n vấn đề một cách sâu sắc và toàn diện.

Ngày nay, thật là may mắn, đất nước chúng ta đă thoát được hiểm họa mất nước như Tây Tạng, và cũng thoát được t́nh trạng bị bao vây, cô lập. Một vận hội mới đang mở ra đất nước cần sự ḥa giải, đoàn kết và hợp tác giữa mọi thành phần dân tộc. Tôi mong mỏi chính quyền sẽ nh́n các vấn đề của đất nước trong một tinh thần cởi mở hơn, khoan dung hơn, khai phóng hơn. Đối với Phật giáo, chính sách bao cấp tôn giáo, ḱm hăm, lũng đoạn, khống chế Phật giáo là sai lầm, có hại cho sự sống c̣n và phát triển của dân tộc, v́ vậy, cần phải sửa sai và có một chính sách hợp t́nh, hợp lư hơn đối với Phật Giáo.

Phật Giáo, về phần ḿnh, cũng nên nh́n vấn đề trong một bối cảnh rộng lớn hơn, và biết chia mục tiêu dài hạn của ḿnh thành những sách lược thích hợp từng giai đoạn. Cái ǵ cũng cần có thời gian, kể cả việc nấu một nồi cơm bằng nồi điện National. Chúng ta phải nh́n vấn đề trong một viễn tượng 15, 20 năm tới, chơ không phải 1,2 năm. (tr.183). Mặt khác, chức năng của một tôn giáo là truyền bá giáo lư của tôn giáo ḿnh, chớ không phải là ủng hộ hay chống đối một chủ thuyết, một chế độ nào.

Phật Giáo phải vượt qua vấn đề chính trị. Ngoài ra, tuy Đạo Pháp và Dân Tộc đă cùng nhau ăn nằm, sống chết với nhau suốt 2,000 năm qua. Nhưng ta không nên lẫn lộn Dân tộc là Phật giáo và Phật giáo là Dân tộc. Phật giáo nên tự giới hạn ḿnh trong những vấn đề thuần tuư Phật giáo. Các vấn đề chung của Dân tộc là thuộc trách nhiệm của tất cả các thành phần trong cộng đồng quốc gia, và muốn giải quyết chúng, cần phải có nổ lực của toàn dân, và của cả thế giới nữa, và cần những thời gian rất lâu dài. Cuối cùng, trong truyền thống Việt Nam, chính quyền có vai tṛ quan trọng hơn tôn giáo, các tôn giáo phải thích nghi để tồn tại và phát triển. Phật giáo đă chứng tỏ ḿnh siêu việt hơn chủ nghĩa Mác-xít và đă đánh bại chủ nghĩa này trên lănh vực văn hoá, tư tưởng, học thuật, luân lư, đạo đức. Th́ Phật giáo không có ǵ phải e ngại khi đối thoại với chính quyền. Trong thế giới ngày nay, tất cả mọi nước, mọi chính quyền, mọi công ty, đoàn thể, tổ chức và mọi cá nhân, đều phải làm việc trên nguyên tắc cùng nhau cộng tác và cùng nhau cạnh tranh. Những kẻ yếu đuối, kém cỏi sẽ bị đánh bại và đào thải, những kẻ không thích nghi sẽ càng bị tụt hậu xa hơn nữa. chúng ta phải ḥa nhập vào trào lưu của dân tộc và nhân loại và phải dẫn đầu, hay ít nhất là có mặt, trong cuộc vật lộn để sinh tồn và tiến bộ này. Một thời đại Phật giáo đang thành h́nh, nhờ những tiến bộ vượt bực của khoa học, kỹ thuật, và những tiến bộ toàn diện của con người, và v́ vậy, ta cần phải phát huy và hướng đến một nền Phật giáo thời đại cho thời đại Phật giáo. Đó là điều chúng ta nên đặt nhiều nỗ lực để đạt tới cho kỳ được”.(tr.184)

- Thiếu tổ chức và thiếu cán bộ đấu tranh, quư thầy không thấy rằng muốn đấu tranh chống nhà nước phải đấu tranh ngay tại nội địa. Nhưng tại nội địa, Phật giáo đấu tranh mà không có tổ chức, không có hậu thuẫn, không có cán bộ hay có mà ô hợp của thiểu số mà thiếu kinh nghiệm đấu tranh, với kế hoạch tinh vi của nhà nước. Tại hải ngoại lại càng bi thảm hơn. Quư thầy chỉ dựa vào vài ông “quân sư” mà những quân su đó là những chính khách pḥng trà, chính khách lư thuyết, dẫn dắt quư thầy vào một cuộc tranh đấu phiêu lưu không có ngơ thoát. Tai hại và cực kỳ nghiêm trọng hơn nữa là quư thầy đă giao tờ báo Chánh đạo cơ quan ngôn luận của Phật giáo Thống nhất Hải ngoại vào tay một người có nhiều thành tích khả nghi. Đó là Nguyên Trung Ngô Văn Bằng. Chánh Đạo đă bị tiến sĩ Trần Chung Ngọc phê phán là “Tà Đạo”; Ngô Văn Bằng đă bị cư sĩ Giới Tử phê phán là “kẻ đi t́m thù hận”, Ngô Văn Bằng bị Phan Quốc Độ nặng lời chỉ trích trên tờ tường tŕnh “Những hành động phá hoại chính nghĩa Tự do Dân chủ” ngày 11/11/1994. Với những bằng chứng phá hoại Phật giáo không chối căi được, ở đây tôi ghi thêm một số chi tiết về tiểu sử và thành tích của Ngô Văn Bằng.

Ngô Văn Bằng có vợ đạo Thiên chúa, trước năm 1975 từng là đàn em của Lê Tuyên, mà Lê Tuyên từng ở trong chi bộ Thuận Hoá của Bác sĩ Lê Khắc Quyến, chủ tịch Phong trào Cứu Quốc Miền Trung (xem Phụ Nữ Diễn Đàn số 129 Garden Grove). Giáo sư Lê Tuyên đă từng lên đài phát thanh Sài G̣n đả kích Thượng toạ Trí Quang. Ngô Văn Bằng cũng có một bài Hồi Kư nhỏ trên báo Chánh Đạo khoe khoang từng tỏ ra bất măn với Thượng tọa Trí Quang. Hiện nay giáo sư Lê Tuyên cũng viết thường xuyên cho (tr.185) Chánh Đạo của Ngô Văn Bằng. Sau năm 1975, Ngô Văn Bằng ở lại trong nước cho đến năm 1988(?) Bằng mới qua Hoa Kỳ. Nghe nói thời c̣n ở trong nước Bằng cộng tác với các cơ quan của chính quyền Việt Nam.

Nghiên cứu tiểu sử, thành tích và những bài báo do Bằng viết, người ta có cảm tưởng Bằng đang thúc đẩy Phật giáo Hải ngoại phải dấn thân hung hăn chống Cộng, chống Cộng cho đến khi không có đường lui, đẩy Phật giáo đi vào ngơ cụt.

Không thể tưởng tượng được thái độ của quư thầy. Đấu tranh với một đối tượng gồm toàn hạng người sừng sỏ, kinh nghiệm đấu tranh cách mạng đầy ḿnh, lại có đầy đủ phương tiện mà quư thầy đấu tranh một cách khơi khơi. Người thức giả thấy phong cách đấu tranh của quư thầy không khỏi ái ngại cho tương lai Phật giáo và ái ngại cho quư thầy quá ngây thơ, thành ra chính quư thầy đă hại Phật giáo.

Tuy nhiên, mặc dù chính quyền đang ở thế thượng phong lại có cả khối nhân dân đông đảo phía ngoài vĩ tuyến 17 ủng hộ, nhưng Phật giáo, các tôn giáo dân tộc và đại khối Tam giáo Đồng nguyên vẫn là lực lượng căn bản của Dân tộc. Những tôn giáo đó đă bám rễ vào ḷng dân v́ khó mà ngày một ngày hai có thể triệt hạ được, cho nên nhà nước đương quyền chỉ muốn có một sự kiểm soát nào đó v́ lư do an ninh và v́ lư do điều hành việc nước. Quang Trung Đại đế cũng đă có một chính sách tương tự như thế rồi.

Cho nên như tôi đă tŕnh bày, đáng lẽ Phật giáo một mặt lo công tác truyền bá Phật pháp cho khắp nhân dân, lo đào tạo tăng tài nhất là trên vĩ tuyến 17 c̣n vắng bóng (tr.186) sư săi, chùa chiền. Mặt khác lo đấu tranh bằng “Đối thoại”, quư thầy lại đấu tranh bằng “Đối đầu”, bằng hận thù và bạo động. Quư thầy không thấy rằng chân thành ḥa giải và hợp tác với nhà nước là con đường thúc đẩy nhà nước dân chủ hoá sớm hơn.

Phật giáo có vị thế, có con đường của Phật giáo, quư thầy lại nghe theo kẻ chống Cộng rẻ tiền mà đấu tranh.

Thưa quư thầy,

Từ năm 1963 đến nay, tôi thường xót xa trước cảnh suy tàn của đạo Phật Việt mà sự suy tàn ấy than tôi lại do bản thể của Tăng bị lu mờ, nội bộ của Tăng bị phân hoá, thành phần của Tăng có nhiều quan điểm dị biệt, giới hạnh của Tăng suy kém lại thêm ư thức chính trị, kiến thức thời cuộc bị thời đại vượt qua thật là tội nghiệp.

Nhiều Phật tử, cư sĩ vùng California thường lui tới thăm tôi, hiểu rơ niềm chua xót của tôi, chia sẻ tâm tư với tôi trước sự bất lực thiếu khôn ngoan của một số quư thầy.

Không thể cứ măi cúi đầu trước một tương lai tuyệt vọng, nên nuốt gịng lệ thẫm, tôi viết loạt bài này, kính mong quư thầy mau mau tỉnh ngộ, kịp thời thay đổi phong cách đấu tranh để cứu văn cơ đồ.

Tôi chỉ c̣n biết ngày đêm thầm nguyện cho tất cả các thành phần dân tộc, nhà nước tiến mau đến con đường dân chủ hoá, Thiên chúa giáo sớm trở về với Dân tộc, Phật giáo chung lo việc nước, đối phó với ba hiểm hoạ của quốc gia: Trung Quốc, Văn hoá Côca Côla, và Xă hội băng hoại đang sẵn sàng đánh phá quê hương ta.(tr.187)

Thưa quư Thầy,

Tôi đă định chấm dứt loạt bài nơi đây nhưng v́ có một số biến cố xẩy ra soi sáng thêm những phân tách, suy luận, dự đoán của tôi nên cần phải được tŕnh bày thêm để mong quư Thầy mau mau trở về với ánh sáng.

Vào giữa tháng Chạp năm 1994, tại Santa Ana có cuộc hội thảo do Giáo sư Stephen Young thuyết tŕnh với sự tham dự rất đông thuộc thành phần hai chế độ cũ, có cả ông Trần Quang Thuận.

Mấy ngày sau tôi được biết chắc chắn rằng ông Thuận gặp một số đàn em cho họ biết ông ta vừa thảo luận với Giáo sư Young suốt mấy tiếng đồng hồ, ông ta đồng ư với Giáo sư Young là “phải để cho Cộng sản cầm chính quyền bốn năm chuyển tiếp trước khi giao lại cho phe Quốc gia. Nếu giao sớm th́ loạn to”.

Theo tôi, t́nh thế không dễ dàng như ông Thuận nói, nhưng dù sao luận điệu của ông Thuận chứng tỏ ông ta đă đổi giọng, đă thay chiều không c̣n lập trường chống Cộng đến kỳ cùng nữa như ông ta đă gay gắt chống lại lập trường chống Cộng bằng “đối thoại” của tôi.

Nhưng tiếc thay, việc thay đổi lập trường của ông Thuận đă quá muộn v́ tại quê nhà t́nh thế đang có những biến chuyển mới thật lợi thêm cho Phật giáo.

Theo tin Chữ Bá Anh th́:

“Tại Việt Nam ngày 23/12/1944, Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đă hội kiến với Hồng y Phan Đ́nh Tụng vừa mới đi La Mă về.

“Thủ tướng Kiệt đă có những lời lẽ “cuồng nhiệt, bất thường” bày tỏ sự ủng hộ đối với 6 triệu giáo dân đạo Thiên Chúa tại Việt Nam. Thủ tướng Kiệt đă đề cao sự đóng góp (tr.188) của tín đồ Thiên chúa giáo vào chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ông Kiệt hy vọng giáo dân sẽ hội nhập vào cộng đồng một cách chặt chẽ hơn có thể giúp dân Việt Nam ra khỏi t́nh trạng lạc hậu và có thể thu hẹp khoảng cách giữa Việt Nam và các nước láng giềng”.

“C̣n Hồng Y Phạm Đ́nh Tụng cảm ơn chính phủ về sự quan tâm của chính phủ và cho biết tín đồ Thiên chúa giáo sẵn sàng chia sẽ nhiệm vụ đổi mới tứclà đường lối cải cách kinh tế bắt đầu từ năm 1988.

Tin tức cũng cho biết: “Mặc dầu đa số dân Việt Nam vẫn theo đạo Phật nhưng được biết con số tín đồ Thiên chúa giáo đă gia tăng gấp đôi từ sau chiến cuộc chấm dứt cách đây 20 năm. Hiện thời tín đồ Thiên chúa giáo chiếm hơn 8% trong số 73 triệu dân Việt Nam.

Tin cũng cho biết Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn duyệt xét việc bổ nhiệm các vị Giám mục mà vẫn giữ nguyên việc bác bỏ các ứng viên, Toà thánh đă miễn cưỡng tán thành sự thu xếp nầy bắt đầu từ năm nay.

Cũng theo bản tin th́ viện UKBLA Hoa Kỳ chuyên theo dơi tự do tôn giáo cũng biết rằng 75 lănh tụ Phật giáo và 22 lănh tụ Thiên chúa giáo bị bắt ở Việt Nam nhưng một số giáo sĩ của hai tôn giáo nầy đă được phóng thích gần đây, như một phần trong chiến dịch của Việt Nam nhằm thu hút sự đầu tư của nước ngoài và tiến xa vào cộng đồng quốc tế”.

Tin cũng cho biết rằng “một tôn phái của Phật giáo đang thẳng thắn chỉ trích chính phủ và vị lănh đạo tôn phái nầy đă bị quản thúc tại gia từ thập niên 80” [Phụ Nữ Diễn Đàn, số 131, tháng Giêng năm 1995].

Đồng thời với biến cố thỏa hiệp giữa nhà nước Việt Nam và ṭa thánh La Mă được kể ra trên đây th́ tại Việt Nam. từ trước Tết 1995 lại xẩy ra biến cố Ḥa thượng Huyền Quang và Thượng tọa Quảng Độ bị kềm tỏa nghiêm nhặt hơn, nhiều nhà sư và Phật tử bị bắt bớ, số quà do khối Phật giáo hải ngoại gởi về giúp nạn nhân bị lụt ở miền Tây bị tịch thu.

Người bạn tôi ở Paris, cựu Đại tá P.N.T. có vợ con ở Việt Nam, theo dơi đài phát thanh REI Paris cho biết tôn tức như trên. Ông c̣n than phiền: “Anh Mậu ơi! Tôi e Phật giáo ly khai (ư nói khối Phật giáo của thầy Huyền Quang) sẽ tan nát mất, các nước ngoài can thiệp chẳng có hiệu quả ǵ”.

Khỏi cần phải bàn giải thêm v́ những tin tức trên đây đă xác nhận những ǵ chúng tôi dự đoán từ trước là không sai. Chỉ có quư Thầy đă nghe lời các “cậu ấm” Trần Quang Thuận, Vơ Văn Ái mà đấu tranh sai lầm.

Ước mong quư Thầy c̣n nhớ lời cảnh cáo đầy uất hận của nhà văn Vũ Thế Ngọc hôm có cuộc mạn đàm tại ngôi chùa của bậc cao tăng ở Sepulveda, California, trước đây.(tr.190)

 

Phụ Lục

HÀNH TR̀NH CỦA MỘT LINH MỤC

 

                                                                                              Lữ Giang

                                                                          (Nhân Dân Chủ Nhật,

                                                                          số 52 (150) 22/12/1991)

 

 

Lời giới thiệu                                                                           

Năm 1994 tại Hải ngoại, ông Lữ Giang cho ra đời cuốn Những Bí Ẩn Đàng Sau Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam để bênh vực chế độ Ngô Đ́nh Diệm, ca ngọi những chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa, và lên án Phật giáo là Cộng sản. Nhưng cuối năm 1991, đă có một Lữ Giang viết bài “Hành Tŕnh Của Một Linh Mục”, đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung bài báo này nhằm ca tụng tinh thần kháng chiến của nhiều linh mục, đồng thời lên án Ngô Đ́nh Diệm và Hoa Kỳ đă lôi kéo giáo dân di cư vào miền Nam, và chống phá miền Bắc.

Không biết trên đời này có hai ông Lữ Giang, một của báo Nhân Dân Hà Nội, một của Thiên chúa Giáo Hoa Kỳ; hay chỉ có một Lữ Giang nhưng một mặt hai ḷng, vừa là tay (tr.191) chân của Thiên Chúa Giáo vừa là tay sai của chế độ Hà Nội. Cách nào đi nữa, ông Lữ Giang tác giả Những Bí ẩn Đàng Sau Những Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam cần minh xác ngay việc cầm nhầm bút hiệu của ông Lữ Giang báo Nhân Dân Hà Nội.

Chúng tôi trích đăng bài của ông Lữ Giang “Nhân Dân Hà Nội” vào tập tâm thư này để độc giả suy gẫm.

Thường năm nào cũng vậy, khoảng thời gian từ sau khi ta giải phóng miền Nam đến năm 1990, linh mục Vơ Thành Trinh, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nớpc, nguyên Đại biểu Quốc hội nhiều khoá, nguyên Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo yêu nước Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh, cứ vào dịp lễ Nô-en, dù đang giữa kỳ họp Quốc Hội khoá thứ mấy, kỳ cuối năm, cũng dành một vài ngày về Ḥn Gai làm lễ cho giáo dân vùng mỏ thông công và vui liên hoan với giáo dân, với cán bộ lănh đạo tỉnh này.

Đời vị linh mục ấy h́nh như gắn bó với giáo dân và các xứ đạo vùng mỏ, được giáo dân cho cả đến cán bộ lănh đạo tỉnh yêu mến v́ tấm ḷng yêu nước, v́ chỉ có một yêu cầu làm cho những người có đạo vùng mỏ thêm tin, thêm yêu cách mạng, đổ hết công sức xây dựng vùng than, khai thác nhiều than làm giàu cho Tổ quốc.

Linh mục Vơ Thành Trinh vừa mới qua đời vào giữa năm nay. Hẳn là bao người đă nhớ đến, đă kể lại lịch sử của vị linh mục suốt một đời đi theo cách mạng với một động cơ trong sáng, từ lúc tóc c̣n xanh cho đến lúc lâm chung vẫn để lại những ḍng di chúc khuyên đạo hữu đi con đường yêu nước (tr.192) yêu Chủ nghĩa Xă hội đến cùng, v́ tựu trung, theo ông Chủ nghĩa Xă hội chẳng qua cũng là đường hướng của Chúa, đem lại công bằng, t́nh thương, tự do, độc lập cho mỗi Tổ quốc, mỗi con người.

Tôi nói chuyện với đồng chí T́nh, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh, về linh mục Trinh. Đồng chí T́nh có mối thiện cảm đặc biệt với linh mục coi xứ Ḥn Gai này. Anh kể:

- Anh biết đó, linh mục Vơ Thành Trinh là linh mục tập kết từ miền Nam ra Bắc năm 1954. Đạo Thiên chúa, từ năm 1945 trở về nước, đă mang tiếng là đạo do người phương Tây mang vào Việt Nam và cũng đă từng bị thực dân lợi dụng với chiêu bài “chống Cộng, đạo Thiên chúa không đội trời chung với Cộng sản” để lôi kéo người có đạo chống phá phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Thời kháng chiến trước, Khâm mạng Đu-lây, người đại diện cao nhất của Ṭa thánh La Mă tại Việt Nam cũng đă ra thư luân lưu cấm người có đạo theo Việt Minh tham gia kháng chiến. Vậy mà những thứ giáo hội bày ra để chia rẽ đạo với cách mạng, không hề có kết quả. Những Hội Công giáo cứu quốc, Công giáo kháng chiến của Nam Bộ, Liên Khu 3, Khu Tả Ngạn ra đời, với nhiều linh mục, giáo dân có tiếng tăm dẫn đầu, cuốn hút giáo dân vào việc đánh giặc, bảo vệ thanh danh của đạo. Linh mục Vơ Thành Trinh là người sốt sắng trong Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ. Từ một chủng sinh trường Xuân Bích, Hà Nội có mặt trong những cuộc tuần hành, mít-tinh biểu dương lực lượng của nhân dân Hà Nội giành chính quyền trong tay Nhật, Pháp năm 1945, trở thành linh mục tại Sóc Trăng. Linh mục trẻ Trinh đă sớm nhận ra những luận điệu chống Cộng, những hành động dă (tr.193) man của bọn cướp nước và bán nước hoàn toàn trái với Phúc âm của đạo, tham gia phong trào cách mạng rất tích cực dù nhà tu hành có bị bề trên trừng phạt bằng cách doạ “treo chén”, “rút phép thông công” v.v...Kháng chiến, chống Pháp thành công, linh mục Trinh cùng với những linh mục “kháng chiến” khác của miền Nan tập kết ra Bắc.

Miền Bắc lúc này đang thiếu linh mục v́ nhiều vị đă bị Mỹ-Diệm cưỡng bức theo giáo dân di cư vào Nam. Ở Ḥn Gai, ngôi nhà thờ lớn nằm trên núi Đạo, nơi có linh mục Khang đă cùng với giáo dân chống lại bọn giặc năm đầu Cách mạng Tháng Tám bị chúng giết, không có người coi sóc phần linh hồn cho bổn đạo. Mới chân ướt chân ráo ra Bắc, linh mục Trinh đă nhận lời ra coi xứ này, gần gũi với những công nhân khai thác than, trở thành người cha linh hồn cũng là người hướng dẫn tinh thần yêu nước, người bạn của hàng vạn giáo dân ngoài đó, ngay cả những lúc giặc Mỹ đánh phá ác liệt cùng than Quảng Ninh. Làm việc đạo chăm chỉ, cụ c̣n làm việc xă hội tích cực, kinh qua nhiều khoá Đại biểu Hội đồng Nhân Dân, Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận, rồi tham gia Đoàn chủ tịch Mặt trận Trung Ương, Đại biểu Quốc Hội, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Năm ngoái, cũng nhân lúc ở miền Nam ra họp Quốc hội rồi tranh thủ về Quảng Ninh thăm và làm lễ ở xứ cũ, bà con thấy vị cha linh hồn của ḿnh đă có phần suy yếu sức khoẻ, thương lắm. Nhiều người cứ ôm lấy cụ mà khóc, không biết sang năm cụ có về được nữa không...

Sang năm, tức là Nô-en năm nay, cụ Vơ Thành Tring không về Hà Nội họp quốc Hội và về Quảng Ninh thăm bà con giáo dân nữa. Song sự vắng mặt không làm cho mọi người quên nhà tu hành trọn đời yêu nước ấy. Nhà soạn kịch (tr.194) kiêm nhà văn Lộng Chương khi nhắc đến linh mục Vơ Thành Trinh có gợi lại một kỷ niệm... Sau khi Pháp tạm chiếm Hà Nội, trường chủng viện Xuân Bích đóng cửa, người chủng sinh trẻ tuổi từng xuống đường tham gia giành chính quyền ngày 19/8/1945 phải trở về quê nhà, miền đồng lúa bát ngát, thẳng cánh c̣ bay Sóc Trăng và tiếp tục học tập rồi được phong linh mục tại đây. Thời ấy, Giáo hội Việt Nam ở dưới quyền điều khiển của các giám mục nước ngoài. Cùng với thư luân lưu của Khâm mạng Đu-lây cấm người có đạo theo Việt Minh, các linh mục người Việt Nam càng bị cấm đoán không được “làm chính trị”. Nhưng linh mục trẻ Vơ Thành Trinh là người tu hành, đồng thời là công dân Việt Nam yêu nước. Cùng với những thân sĩ, trí thức Công giáo Nam Bộ yêu nước như luật sư Nguyễn Thành Vinh và các linh mục như Hồ Thanh Biên...nhà tu hành đă hoạt động tích cực trong phong trào Công giáo kháng chiến, đem hết tâm lực cổ vũ giáo dân đánh giặc, ủng hộ Việt Minh, vạch trần âm mưu của giặc lợi dụng tôn giáo dưới danh nghĩa chống Quốc, bảo vệ đạo, từ đó dấy lên phong trào Công giáo yêu nước.

Rồi linh mục Vơ Thành Trinh tập kết ra Bắc. Nhay khi đặt chân lên băi biển Sầm Sơn, nhà tu hành đă thấy mắt ḿnh rớm lệ trước cảnh đồng đạo bị cưỡng ép xuống tàu di cư đi Nam. Cụ kêu lên: “Lạy Chúa, sao người ta nhẫn tâm đến thế! Buộc bao người phải bỏ nơi chôn rau cắt rốn đến một phương trời vô định, với lư do vô nghĩa lư là Chúa không ở miền Bắc Cộng sản nữa, Chúa đă vào Nam, ai không vào Nam th́ có tội: phải chăng đây là một tội ác của Mỹ-Diệm?”

Ngày đó, các nhà văn đang viết nhiều bài báo, nhiều bài thơ lên án cuộc cưỡng bức di cư mang (tr.195) danh nghĩa tôn giáo này. Sao Mai viết “Trại di cư Pa-gốt Hải Pḥng”. Lộng Chương viết những vở kịch vạch mặt gian ác của kẻ thù. Lần này ông được biết linh mục Vơ Thành Trinh thấy cảnh người di cư quá tội nghiệp, trên chuến tàu há mồm không có ai chăm sóc phần linh hồn cho những kẻ tha hương mà số đông là người già cả có thẻ bị “lâm chung” giữa đường không được chịu các phép đạo, do đó, linh mục Trinh t́nh nguyện lên chiếc tàu trở ra Bắc. Chuyến đi ấy đầy sóng gió cả trong thiên nhiên và phạm vi tinh thần. có người đă được giải thích, được biết thế nào là dă tâm Mỹ- Diệm qua những buổi nói chuyện với linh mục Trinh. Nhưng dù sao th́ cũng đă muộn rồi, trót bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương làm sao trở về được!

Sau chuyến đi theo tàu Ba Lan, với danh nghĩa là bạn của viên chỉ huy tàu, linh mục Vơ Thành Trinh trở về với nhiều kỷ niệm, nhiềusuy tư khắc khoải. Nhà văn Lọng Chương đă nghe nhà tu hành kể lại, ghi chép đầy đủ trong cuốn sách mang tên Trên Chuyến Tàu Của Đồng Bào Công giáo Di Cư do Nhà xuất bản Văn Nghệ ấn hành. Ở đây nói lên một vấn đề: không phải bất cứ ai đi đạo đều hiểu đạo, không phải tất cả những nhà truyền đạo đều thiện tâm. Đạo nói chúa ở khắp mọi nơi, đâu có người ở đấy có Chúa. Vậy mà khi miền Bắc c̣n nhà thờ, linh mục kể cả linh mục miền Nam tập kết th́ những người truyền đạo không thiện tâm khi theo My-Diệm nói dối rằng Chúa đă vào Nam để làm tan cửa nát nhà biết bao gia đ́nh!

Từ đấy, nhà tu hành để hết tâm huyết xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa chế độ mới và đạo. Phong trào Công giáo (tr.196) kính Chúa yêu nước phát triển. Ban đầu, Giáo hội c̣n ngăn cấm, c̣n lấy quyền thay mặt Chúa để răn đe “gieo vạ” cho những linh mục tham gia Ủy ban những người Công giáo kinh Chúa, yêu nước, yêu ḥa b́nh toàn quốc. H́nh như đám người nhỏ nhoi kia không thể đối chọi được một thế lực to lớn, đầy quyền uy từ các toà giám mục xuống đến các xứ họ. Song các linh mục yêu nước ấy, dù buổi đầu chỉ là số ít dần dần bằng tinh thần yêu nước, bằng tấm ḷng tha thiết muốn mọi người có đạo hiểu thấu rằng giữa Chủ nghĩa Cộng sản, giữa Chủ nghĩa Xă hội với đạo không có ǵ ngăn cách cả. C̣n tổ quốc, có tự do độc lập là c̣n đạo, một nền đạo chính thực, thánh thiện, không phụ thuộc vào nước ngoài, v́ rơ rừng là mục đích của Chúa, của đạo cũng giống như chủ nghĩa Cộng sản đều là giải phóng cho dân nghèo, cho mỗi người được sống b́nh đẳng trong t́nh bác ái, yêu thương nhau giữa người với người.

Tôi đă gặp linh mục Vơ Thành Trinh trong mầu áo dài đen vượt bom đạn đến những xứ đạo xa xôi, truyền đạt cái tinh thần yêu nước, quyết tâm chiến đấu để giành lấy tự do độc lập cho Tổ quốc, để giải phóng miền Nam. Đường đất Quảng Ninh khó đi, thời ấy bom đạn giặc Mỹ ŕnh rập suốt ngày đêm, nhưng cụ đă đến tận Hoàng Bổ, Uông Bí, những họ đạo khuất nẻo nhất. Bà con, cán bộ Quảng Ninh không gọi linh mục Vơ Thành Trinh là “cha đạo” mà gọi là “cha yêu nước”. Một tấm gương sáng làm cho các người có chức vụ trong đạo phải t́m hiểu và noi theo Giáo hội Việt Nam, trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, qua hoạt động của các linh mục yêu nước dần dần hiểu ra, t́m thấy chân lư.

 

viet42.jpg (6776 bytes)

Pope Paul VI greeting Soviet President Podgorny at the Vatican January 30, 1967. This was the first meeting ever held between a Pope and a Russian Communist head of state. The encounter culminated in the new policy of Paul VI of full cooperation with Soviet Russia and the Communist satellites of Eastern Europe. Results of this policy were soon seen in Poland, Rumania and Hungary. The formerly persecuted clergy in those countries were freed and partial freedom was granted for religious activities. Thus Paul VI fathered the Vatican-Moscow Alliance, which undermined the anti-Russian strategy of the U.S. in Europe and Asia. This alliance became an important factor in the final defeat of the U.S. in Vietnam.

 

Ai đă phá nhà thờ, tàn sát giáo dân, giết cả linh mục như ở Quỳnh Tam, Nghệ An năm 1968, Xă Đoài năm 1972 (tr.197), Phát Diệm, Nam Hà, Hà Nội và bao nơi khác nữa. Đó chính là bọn xâm lược, những kẻ nêu chiêu bài chống Cộng, bảo vệ đạo kẻ dữ đă lệnh cho Ngô Đ́nh Diệm cưỡng bức bà con miền Bắc di cư đi Nam. Chân lư, sự thật đă t́m thấy. Và từ đây, một bước ngoặt trên đường đi cùng bến cùng thuyền của đạo Ki-tô Việt Nam và Chủ nghĩa Xă hội đă có, sáng láng thăng bằng.

 

19/12/1991



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend