NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

MẬU THÂN 68 CHẤM DỨT BINH NGHIỆP WESTMORELAND


 



Tướng Westmoreland và Đại sứ Henry Cabot Lodge

 

MẬU THÂN 68 CHẤM DỨT BINH NGHIỆP WESTMORELAND

Nếu cần chọn một chi tiết, chỉ một chi tiết thôi, để tổng kết cuộc đời binh nghiệp của tướng Mỹ William Childs Westmoreland giai đoạn phục vụ chiến trường Việt Nam, có thể nói ngắn gọn rằng, ông ta là người ngoan cố và siêu ảo tưởng.

Tướng William Westmoreland đă từ trần vào thứ hai 18/7/2005 (thọ 91 tuổi). Được xem là người hùng của quân đội Mỹ từ Thế chiến thứ II, Westmoreland là một trong những người ủng hộ thuyết domino về nguy cơ lan rộng Cộng sản tại Đông Nam Á. Năm 30 tuổi, Westmoreland đă đeo lon đại tá. Với tư cách Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pháo binh 34 đương đầu trực tiếp với tướng Đức Erwin Rommel, Westmoreland giành được sự ngưỡng mộ và kính trọng trong hàng ngũ binh sĩ Mỹ.

Trong cuộc chiến Triều Tiên, Westmoreland được phong lon thiếu tướng và sau đó được điều về Lầu Năm Góc làm việc dưới quyền Tổng tư lệnh Lục quân Maxwell Taylor. Năm 1960, Westmoreland giám sát West Point. Năm 1964, Westmoreland được cử sang Việt Nam, với cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cố vấn quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam. Trong 4 năm Westmoreland có mặt tại Việt Nam, quân đội Mỹ đă tăng từ 20.000 cố vấn năm 1964 lên 500.000 quân năm 1968.

Cuộc chiến “riêng” của Westmoreland

Chiến thuật cốt lơi của Westmoreland là tận dụng tối đa hỏa lực. Pháo giội ào ạt, bom thả như mưa và đạn bắn như văi cát. Lính Mỹ được chia thành từng đơn vị từ 750 quân trở lên cho từng đợt chiến dịch “t́m diệt”. Một trong những kế hoạch đáng kể nhất là OPLAN 34-A do một nhóm “siêu mật” mang tên “Ủy ban 303” thai nghén (nhóm này thường gặp nhau tại pḥng 303 thuộc Ṭa nhà văn pḥng điều hành kế cận Nhà Trắng). Ủy ban 303 nằm dưới sự điều khiển của Tham vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy và dưới trướng gồm các nhân vật chủ chốt của chính phủ, Lầu Năm Góc và CIA.

Tháng 1/1964, Ủy ban 303 chuẩn y chương tŕnh phá hoại Bắc Việt, bao gồm những hành động chính như rải truyền đơn, đánh tàu thuyền miền Bắc vận chuyển hàng hóa - vũ khí vào miền Nam, chuẩn bị thực hiện giội bom xuống 94 cứ điểm ở miền Bắc đă được phác thảo... Ngày 1/2/1964, Tổng thống Lyndon B. Johnson phê chuẩn chương tŕnh hành động thử nghiệm 4 tháng, trong đó, nổi cộm là các điệp vụ do thám mang mật danh DeSoto (xâm nhập hải phận Bắc Việt với sự thực hiện của Hạm đội 7 thuộc Hải quân Hoa Kỳ).

Sau OPLAN 34-A, tướng Westmoreland yêu cầu đánh mạnh vào pḥng tuyến Bắc Việt. Ngày 2/3/1965, Mỹ tung ra hơn 100 máy bay cường kích thả bom xuống Bắc Việt Nam. Tháng 4/1965, Tổng tham mưu trưởng Mỹ Earle Wheeler nói với Bộ trưởng Quốc pḥng Robert McNamara rằng, những cuộc không kích như thế chẳng làm thiệt hại Bắc Việt bao nhiêu và Hà Nội vẫn “tiếp tục duy tŕ quyết tâm của ḿnh”. Bởi thế, cần phải áp dụng biện pháp mạnh hơn nữa. Giải pháp B-52 ra đời. Ngày 8/3/1965, các tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ lần đầu tiên đặt chân lên một vùng đất châu Á (Đà Nẵng) kể từ sau cuộc chiến Triều Tiên. Cho đến thời điểm này, tỏ ra nóng nảy trước hiệu quả không đáng kể từ các cuộc không kích Bắc Việt, Johnson triệu tập các tướng nói rằng, ông cần những “ư tưởng và giải pháp mới mẻ” chứ không phải là các đề nghị đánh bom. Đồng thời, Johnson cung cấp cho Westmoreland một “chi phiếu khống”, ư nói rằng Chính phủ Mỹ “hoàn toàn không hạn chế về ngân sách, trang thiết bị cũng như lực lượng quân sự” để đáp ứng cho cuộc chiến Việt Nam.

Năm 1967, tại Washington DC, Westmoreland hồ hởi phát biểu: “Chúng ta đă đến một chặng quan trọng” và bắt đầu nh́n thấy “ánh sáng cuối đường hầm”. Vài tuần sau, sự kiện Mậu Thân nổ ra! “War hits Saigon” (Chiến sự bùng nổ tại Sài G̣n) - hàng tít khổng lồ trên trang nhất tờ The News - xuất hiện tại Washington vào buổi trưa. Những h́nh ảnh kinh hoàng hiện trên truyền h́nh vào buổi chiều khiến nước Mỹ thêm bàng hoàng. Gần 6 tiếng rưỡi sau vụ tấn công, Mỹ tuyên bố khu vực Ṭa đại sứ an toàn và tướng William Westmoreland xuất hiện trước ống kính phóng viên. Khi nghe tuyên bố tái lập trật tự của Westmoreland, dân Mỹ cũng nghe tin rằng, chỉ huy sở của Westmoreland tại  sân bay Tân Sơn Nhất đă bị nện nát. Hỏa tiễn Việt Cộng cũng phóng trúng bộ chỉ huy của tướng Frederick C. Weyand.

Sáng hôm sau, Tổng thống Johnson ra lệnh Westmoreland thực hiện chiến dịch tung hỏa mù nhằm vào báo chí Mỹ tại Sài G̣n “để bảo đảm rằng ông (Wesmoreland) kiểm soát hoàn toàn t́nh h́nh ở đó”. Sự kiện Mậu Thân là thất bại cuối cùng trong loạt thất bại của tướng Westmoreland tại Việt Nam.

Thất bại Mậu Thân chấm dứt sự nghiệp Westmoreland tại Việt Nam

Trong quyển CIA and the Vietnam Policymakers: Three episodes 1962-1968, tiến sĩ Harold P. Ford (nguyên viên chức cấp cao CIA, thuộc Văn pḥng đánh giá quốc gia, nơi thu thập và mổ xẻ thông tin về chiến trường Việt Nam thập niên 60) cho biết, sự kiện Mậu Thân 1968 là kết quả của sai lầm không chỉ t́nh báo quân đội mà cả MACV (Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam).

Cùng sếp Westmoreland, MACV đánh giá sai nghiêm trọng thực lực bộ đội Việt Nam. Thứ nhất, MACV cho rằng, bộ đội Việt Nam tổn thất nhiều bởi các cuộc oanh kích của Mỹ; thứ hai, MACV dựa vào các con số khảo sát bịp của chính quyền Sài G̣n; và thứ ba, MACV tin các tài liệu tịch thu cũng như lời khai của vài kẻ bị bắt. Cùng lúc, MACV gần như không quan tâm đến tin t́nh báo do Văn pḥng CIA Sài G̣n cung cấp. Trong thực tế, chỉ huy trưởng MACV Westmoreland đă lừa Nhà Trắng và cả sếp ḿnh (Bộ trưởng Quốc pḥng McNamara) và đó là lư do tại sao McNamara tập hợp một nhóm nhỏ bí mật, vào tháng 6/1967, với nhiệm vụ thu thập và lập Bộ tài liệu Lầu Năm Góc để nắm rơ hơn về t́nh h́nh Việt Nam (mà sau này bộ tài liệu lọt đến báo New York Times và được đăng vào tháng 6/1971).

Tại Sài G̣n, trợ lư đặc biệt CIA George Carver luôn gặp cảnh MACV miễn cưỡng hợp tác. Hóa ra, vấn đề c̣n mang tính chính trị. Cả Westmoreland lẫn Đại sứ Ellsworth Bunker bóng gió nói với Carver rằng quân đội không thể báo cáo toàn bộ sự thật về Washington. Một lần, Ellsworth Bunker gửi bức điện tuyệt mật (đóng dấu “Eyes Only”) về Nhà Trắng, cho biết hậu quả sẽ “rất kinh khủng, nếu ṛ rỉ thông tin rằng chúng ta không thành công trong việc nghiền nát Cộng quân”. Tại Washington, Cố vấn An ninh quốc gia Walt Rostow cũng rỉ tai Tổng thống Johnson nội dung tương tự.

Ngày 21/11/1967, trong buổi nói chuyện tại Câu lạc bộ báo chí quốc gia ở Washington DC, Westmoreland tŕnh bày: “Tôi tin chắc kẻ thù đang thua. Họ không chiến thắng bất kỳ trận lớn nào trong hơn một năm qua... Sức mạnh kẻ thù đang đuối...”.

Sau sự kiện Mậu Thân, Westmoreland yêu cầu Nhà Trắng bổ sung 200.000 quân (vét hết lực lượng quân dự bị Mỹ). Tổng thống Lyndon Johnson tŕ hoăn, triệu hồi Westmoreland về nước vào tháng 7/1968, phong chức Tư lệnh Bộ binh. Và như vậy 4 năm với nhiều nốt trầm hơn thăng của Westmoreland tại Việt Nam đă chính thức kết thúc.

“Ông ấy (Westmoreland) là  người lính có học, đọc rất nhiều sách” - Đại tướng Vơ Nguyên Giáp trả lời sử gia Stanley Karnow năm 1990 - “Tuy nhiên, ông ấy đă sai lầm sau sự kiện Mậu Thân khi yêu cầu tăng viện thêm 206.000 quân. Ông ấy có thể mang đến Việt Nam thêm 300.000 hoặc thậm chí 400.000 quân th́ t́nh h́nh cũng chẳng khác đi được”.

Năm 1972, Westmoreland nghỉ hưu. Năm 1982, Hăng truyền h́nh CBS tung ra phim tài liệu The Uncounted Enemy: A Vietnam Deception, nội dung rằng Westmoreland đă đạo diễn nhiều tṛ bịp và thao túng thông tin t́nh báo về thực lực quân sự Bắc Việt để thuyết phục nước Mỹ tin rằng lực lượng Bắc Việt “yếu kém” không thể đương đầu được với quân đội Mỹ. Westmoreland kiện CBS, đ̣i bồi thường 120 triệu USD (vụ kiện được nhà tài phiệt Richard Mellon Scaife tài trợ). Bốn tháng sau, Westmoreland rút lui, tuyên bố “chiến thắng”, như cách ông từng "tuyên bố" đối với cuộc chiến Việt Nam!

 

Lê Thảo Chi

Trích An Ninh Thế Giới

Ngày 30/7/05



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend