NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Truyện Kư Những Anh Hùng LLVT Đoàn 22 T́nh Báo Miền Nam A3 - H3...


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

 

 

 

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

 

Các nạn nhân da cam/đi-ô-xin Việt Nam sẽ không chùn bước đ̣i lại công lư cho chính ḿnh. Ảnh: VietNamNet

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng

 

 Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. Tuy nhiên, “tâm t́nh với ḷng thành”-những lời tâm sự của viên đại tướng quân đội Sài G̣n từng giữ trọng trách Tổng tham mưu trưởng lâu nhất đă thú nhận quân đội Sài G̣n là quân đội tay sai của Mỹ...đọc tiếp 

 

"BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH  

    Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  

 Bush and Blair, cartoon
        Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:
 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

Tony Blair picture 1811810

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

user posted image

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

 
user posted image
* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

    Những ư kiến “trái chiều” này thực ra chỉ làm phong phú thêm các thông tin về sự kiện đau ḷng xảy ra cách đây 8 năm về trước… 

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

* THƯ MỤC 2009: THÁNG 9 – 8 – 7 – 6

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Thị Xuân (A3) và Nguyễn Văn Minh (H3)

 

 

Truyện Kư Những Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Đoàn 22

T́nh Báo Miền Nam: Nguyễn Thị Xuân (A3) Và Nguyễn Văn Minh (H3)…

 

********

 

 

Kỳ 1: Viên tướng Sài G̣n cũ không biết... bắn súng

 

 

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh

(ảnh tư liệu)
Là một viên tướng của Việt Nam Cộng hoà, ông già 80 tuổi này đă có thời "thét ra lửa".Ít ai biết, viên sỹ quan quân đội Sài G̣n cũ có cái tên Nguyễn Hữu Hạnh lại chưa từng siết c̣ súng v́: "sợ bắn vào đồng bào", và ông cũng là đối tượng chống cộng hiếm hoi được Cách mạng "nhắm" vào danh sách có thể "bắt tay"...

 

Từ cái chết của người con trai

 

Năm 1972, lúc Nguyễn Hữu Hạnh đang làm Tư lệnh phó Quân đoàn 2 (tại Pleiku và Nha Trang), một chuyện đau ḷng xảy ra với gia đ́nh ông. Con trai đầu ḷng của ông, Nguyễn Hữu Tài - sinh năm 1948, thiếu úy quân đội Sài G̣n - đă tử trận trong một cuộc càn quét tại địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

 

Vợ ông và vợ con Tài chỉ biết khóc ṛng. C̣n ông như bị cắt từng khúc ruột, tự giày ṿ ḿnh v́ đă không ngăn được con dấn vào đường binh nghiệp. Một vài sỹ quan Sài G̣n thông báo cho ông rằng, Tài chết là do máy bay trực thăng dính pháo cộng sản.

 

Trấn tĩnh hồi lâu, ông tự nhủ, lỗi không phải cộng sản, lỗi tại chiến tranh, người gây ra chiến tranh.

 

Ngày Tài được cử đi Mỹ học, anh có ư định xin vào học lớp lái trực thăng vơ trang. Biết điều này, ông vội gửi thư sang nhắn nhủ:

 

"Ba là tướng, nhưng cả cuộc đời binh nghiệp chưa một lần cầm súng do chính tay ḿnh bóp c̣ để bắn vào đồng bào. Ba khuyên chớ nên làm việc ǵ mà con không muốn người khác làm đối với ḿnh!".

 

Không có ǵ bảo đảm rằng thư từ Việt Nam cộng ḥa sang Mỹ không bị xem lén, nên ông chỉ viết có thế. Tài hiều ra, xin thuyên chuyển từ phi công lái trực thăng chở quân sang lái trực thăng chở thương, để chỉ phải "xuất trận" khi đụng độ đă kết thúc. Vậy mà vẫn không tránh nổi sự nghiệt ngă của súng đạn.

 

Từ đó, Nguyễn Hữu Hạnh càng thấm thía cái ác nghiệt của khói lửa, của sự đối đầu, chia cắt trong đất nước. Ông thêm thèm khát một ngày thống nhất, cái ngày cha con ông không phải mặc quân phục, đeo súng.

 

Viên Tư lệnh "không bao giờ chiếm mục tiêu"

 

Trước đó từ lâu, ông từng cùng tướng Dương Văn Minh ngồi hàng giờ bàn chuyện chính trị. Cả hai thống nhất một điều: Báo chí nước ngoài khi nhắc đến Hồ Chí Minh thường gọi một cách trân trọng "Cụ Hồ", "Hồ chủ tịch", c̣n nhắc đến các chính trị gia ở miền Nam th́ thường chỉ để trơ trọi mỗi cái tên. Thêm nữa, miền Bắc giữ được sự tự chủ, trong khi miền Nam phụ thuộc vào người Mỹ từ vũ khí đến miếng ăn của binh sỹ.

 

Trong suốt thời gian 20 năm, những quân bài chính trị tại miền Nam đều do người Mỹ sắp đặt. Sau khi Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, Dương Văn Minh được nâng cao uy tín, đứng ra thành lập Hội đồng quân nhân nhằm thay thế chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Dương Văn Minh tỏ ra là ứng cử viên nặng kư cho chiếc ghế tổng thống. Nhưng do "cứng đầu", không chấp thuận đưa thêm quân Mỹ vào miền Nam và phá đê Hồng Hà ở miền Bắc, nên Dương Văn Minh nhanh chóng bị hất, nhường chỗ cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

 

Trước đây, ông nghĩ người Mỹ từng bị trị nên sẽ giúp đỡ Việt Nam Cộng ḥa phát triển độc lập hơn là Pháp. Nhưng thực tế không phải vậy. Cố vấn Mỹ xen nhiều vào việc của các cấp chỉ huy miền Nam. Nhiều người hách dịch, ỷ lại vào tiền viện trợ. Trong khi hành quân, họ sử dụng bừa băi hỏa lực, coi thường mạng sống của người Việt Nam. Đối với đảng phái và tôn giáo, họ t́m cách chia rẽ. Không có một đường lối nào được tiến hành khi Mỹ không đồng ư.

 

"Nhận của người ta th́ bị người ta điều khiển thôi, làm sao mà tự chủ được!" - Ông nhớ lại.

 

Và ông thấy, chính nghĩa đang thuộc về phía "bên kia".

 

Chính v́ thế, tôi không muốn bắn vào những người cộng sản - những người mà tôi có cảm t́nh.

 

Năm 1967, Nguyễn Hữu Hạnh làm Tư lệnh phó sư đoàn 21 bộ binh tại Bạc Liêu. Ông là một trong số ít sỹ quan ra lệnh: trong lúc hành quân, trực thăng vơ trang phải thận trọng, khi nào dưới đất bắn lên th́ mới được bắn lại, chứ không được xả đạn lung tung.

 

Cố vấn Mỹ thấy vậy, mỉa mai: Ở đâu có phó tư lệnh Nguyễn Hữu Hạnh là ở đó có thận trọng!

 

Có lần, ông nói với tư lệnh sư đoàn 21, thiếu tướng Nguyễn Văn Minh: "Sư đoàn đă dùng hỏa lực bừa băi. Thấy cảnh chết chóc nhiều tôi không chịu nổi. Có lẽ tôi không làm việc lâu với Minh!". (Minh từng làm việc dưới quyền và rất kính nể ông).

 

Một tuần sau, Minh tỏ ư nghi ngờ ông thân cộng sản, nên ngập ngừng nói: "Tôi không dám nói đại tá là Việt cộng, nhưng đại tá "đạo đức" quá!".

 

Nói chung, khi ấy tôi ở thế bị kẹt, phải cố gắng lách. Những việc tôi làm luôn không đến mức phạm lỗi đối với quân đội Việt Nam cộng ḥa, đồng thời không gây hại cho cách mạng...

 

Năm 1968, ông làm Tư lệnh biệt khu 44 (tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Kiến Phong và Kiến Tường). Nhiều trận xáp chiến với quân cách mạng, ông thường giằng dai cầm cự đến tối, chờ đến khi quân cách mạng rút, ông cũng rút quân về. Cố vấn Mỹ nhiều khi hậm hực, gọi ông là "Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu".

Lần ấy tiến đánh mật khu trên kinh Tháp Mười. Mật khu chẳng thấy đâu, chỉ thấy một vùng dân cư đông đúc dọc theo tuyến kinh. Phía Mỹ đề nghị dùng B.52 rải thảm để xóa sổ cộng sản. Tôi lắc đầu từ chối, viện lẽ dân quá đông. Ngày đó, được cái cố vấn Mỹ muốn làm ǵ, phải thông qua sỹ quan Việt Nam cộng ḥa, chứ không được trực tiếp chỉ huy. Những lần ấy, cố vấn Mỹ chỉ biết trợn mắt ngạc nhiên. (Ông cười khà khà).

 

Sau này, Phạm Văn Phú càn quét vào khu vực đó, chấp thuận ném bom. Gă khoe với tôi: "Anh xem, chúng tôi nhặt được 50 khẩu súng của của cộng sản ở mật khu này". Tôi hỏi vặn (lúc ấy Phú là cấp dưới của tôi): "Anh nhặt được 50 khẩu súng, công lớn rồi! Nhưng thử đếm xem có bao nhiêu xác phụ nữ, trẻ em?". Phú nín thinh, cúi mặt, lảng đi chỗ khác.

 

Lễ tang cha sỹ quan Sài G̣n trên "đất cộng sản"

 

Nguyễn Hữu Hạnh sinh năm 1924 ở Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Ông nội là một nhà nho, có vốn Nho học uyên thâm, từng không chịu tham gia làm hương chức hội tề và thường nói: "Làm dân tốt hơn làm làng". Ông thường giảng dạy cho con cháu về Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, đạo làm người.

 

Năm 1949, được 72 tuổi, ông thắt cổ tự vẫn v́ uất ức. Ngày đó quân Pháp thường đi ruồng bố, hống hách lắm. Có lần, một tên lính Maroc dùng tay gơ lên đầu ông, hạch sách. Ông chỉ biết đứng lặng, mắt trợn trừng. Ông nói: "Lúc ấy tau muốn tát vào mặt nó để nó bắn chết cho rảnh, nhưng lại nhẫn nhịn!".

 

Từ đó, tôi biết thế nào là nỗi nhục bị phụ thuộc vào kẻ khác. Trong đầu tôi bắt đầu ẩn hiện suy nghĩ chuyện dân tộc ḿnh th́ phải do dân tộc ḿnh tự quyết.

 

Sau khi tôi đậu tú tài, Pháp tái chiếm Mỹ Tho, nhiều người chạy sang Bến Tre lánh nạn. Tôi bơ vơ ở nhà với ông nội. Quân Pháp thường đi ruồng bố ngang qua xă. Làng xóm tiêu điều, ngột ngạt.

 

Tôi bèn lên Sài G̣n t́m việc làm. Chưa t́m được việc th́ có người bạn giới thiệu vào quân đội Pháp. Nhập ngũ xong, tôi được thuyên chuyển về cùng đại đội với ông Dương Văn Minh.

 

Lúc đó, tôi vào quân đội Pháp chỉ nhằm t́m chỗ dung thân, để dần t́m con đường đi của ḿnh. Tôi chưa có cảm t́nh với cách mạng v́ ở tận vùng xa xôi của miền Nam, có quá ít thông tin. Tôi chỉ nghĩ đơn giản, mỗi người có hướng đi riêng của ḿnh, miễn sao là v́ dân tộc. Khi kinh tế phát triển th́ đất nước sẽ... tự thống nhất, v́ mọi người cùng muốn ḥa hợp dân tộc.

 

Nguyễn Hữu Hạnh từng được nhiều lần cử đi đào tạo tại các trường quân sự của Mỹ và Việt Nam Cộng ḥa, như khóa đào tạo chỉ huy tham mưu cao cấp; khóa dạy t́nh báo, chiến thuật, chiến lược và phản gián tại Mỹ.

 

Năm 1955, ông được gọi về làm tham mưu trưởng cho Dương Văn Minh, nhận lănh phân khu Sài G̣n - Chợ Lớn (gồm rừng Sát, tỉnh Chợ Lớn, Tây Ninh và thành phố Sài G̣n). Sau đó liên tục được giao nhiều vị trí quan trọng khác.

 

Năm 1963, một chuyện bất ngờ xảy ra khiến viên đại tá Nguyễn Hữu Hạnh trở thành mối quan tâm số một đối với Ban binh vận của cách mạng.

 

Ba ông qua đời v́ bệnh ung thư. Trước khi nhắm mắt, ba ông chỉ giối lại một điều: hăy chôn thi thể bên cạnh mộ ông nội tại xă Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.

 

Đây là điều khó khăn với Nguyễn Hữu Hạnh. Xă Phú Phong hiện nằm trong vùng giải phóng. Làm cách nào mà viên đại tá quân đội Việt Nam cộng ḥa có thể tổ chức tang lễ ở đó một cách an lành?

 

Nếu nơi chôn cất là Cần Thơ th́ tiện biết mấy. Với quyền lực của ḿnh, Nguyễn Hữu Hạnh có thể chọn một vùng đất thuộc quyền kiểm soát của quân đội Sài G̣n, huy động quân lính, tổ chức một lễ an táng long trọng. Ở Cần Thơ cũng tiện cho việc các sỹ quan trên Sài G̣n xuống viếng.

Nhưng đây là ước nguyện cuối cùng của ba, tôi không thể làm khác. Tôi cũng không thể táng ba ở Cần Thơ, rồi chờ dịp thuận tiện cải táng xuống Mỹ Tho.

 

Cuối cùng, tôi nghĩ ra cách nhờ bác Chín Quá là họ hàng đứng ra xin phép chính quyền xă Phú Phong.

 

Yêu cầu của Nguyễn Hữu Hạnh nhanh chóng được chính quyền các cấp đưa ra bàn thảo. Có người c̣n nghi ngờ ông có âm mưu. Lại có người nói: "Người ta có quyền thế. Người ta có thể làm việc này không cần hỏi ư kiến của ḿnh bằng cách tổ chức càn quét qua xă, rồi bố trí một, hai tiểu đoàn bảo vệ khi làm đám tang. Người ta muốn giữ t́nh làng, nghĩa xóm, muốn gửi hài cốt của ông già cho ḿnh trông coi, ḿnh không nên từ chối".

 

Hai bên bèn giao ước tạm ngừng mọi hoạt động quân sự, không được bắn một viên đạn nào tại vùng tổ chức lễ tang. Lệnh được quán triệt tới từng binh sỹ. Mọi việc diễn ra xuôi chèo mát mái.

 

Mấy hôm sau, tôi lại xin phép được ngồi trên trực thăng tới thăm mộ ba. Bên cách mạng lại phản hồi: "Sẽ không có viên đạn nào bắn lên nếu chiếc trực thăng đó đi một ḿnh, không có trực thăng hộ tống!". Tôi thực hiện đúng giao ước và trở về an toàn.

 

Kể cũng lạ, v́ chút nghĩa bà con, cḥm xóm, mà hai bên đang muốn ăn tươi, nuốt sống nhau, đột nhiên ngừng bắn! (Giọng ông trầm lại).

 

Từ dạo đó, Nguyễn Hữu Hạnh được Binh vận TW Cục của cách mạng đưa vào danh sách các sỹ quan có thể bắt tay với cách mạng. Lư do chủ yếu là: ông sinh ra từ gia đ́nh nho học, được người ông có tinh thần dân tộc gần gũi, dạy dỗ từ nhỏ; ông có biểu hiện yêu quê hương, tôn trọng những người cộng sản...

 

Ban binh vận chọn ông Nguyễn Tấn Thành (tự Tám Vô Tư) là cán bộ tiếp cận và "đánh" dần viên đại tá này. Ông Tám là bác họ của Hạnh, hồi nhỏ từng kèm Hạnh học và từng nhiều lần đàm đạo với ông nội Hạnh về nho học. Trong một gia đ́nh nho học, lời nói của bề trên có giá trị với bề dưới gần như tuyệt đối. Hơn nữa, ông Tám chỉ hơn Hạnh 12 tuổi, cùng thế hệ, nên dễ đồng cảm với nhau.

 

Trước đó, hai lần ông Tám bị địch bắt th́ cả hai lần, Nguyễn Hữu Hạnh t́m cách thả ra. Riêng lần đầu, vào năm 1956, Hạnh đă dùng chức tham mưu trưởng chiến dịch Thoại Ngọc Hầu đ̣i lănh về để "khai thác". Hạnh nuôi ông Tám một thời gian trong khám, rồi đưa về Sài G̣n, che giấu tại nhà riêng.

 

Sau một thời gian trao đổi với ông Tám về thời cuộc, Hạnh chấp nhận giúp đỡ cách mạng và mang bí số riêng chứ không gọi tên thật. Bên cạnh những việc làm tự giác kể trên, ông c̣n thực hiện nhiều yêu cầu của TW Cục trong khả năng có thể.

 

Năm 1968, một cán bộ tên là Xuân đưa vũ khí vào khu quản lư của quân đội Sài G̣n chẳng may bị bắt. Khi ra ṭa, Hạnh đứng ra nhận Xuân có từng giúp ông và đổ lỗi cho người đă chạy thoát. Xuân được trả tự do.

 

Đầu những năm 70, ông đứng vào lực lượng thứ 3 (những người chống lại chính quyền Nguyễn Văn Thiệu).

 

Ông c̣n cung cấp nhiều tin tức chiến lược quan trọng. Khi Phước Long thất thủ, ông thông báo không có quân tiếp viện. Ông c̣n thông báo Buôn Mê Thuật bị bỏ ngỏ, và khi bị thất thủ th́ không có đơn vị nào ở lại hậu phương. Những thông tin ấy giúp cho quân giải phóng táo bạo hơn, tiến bước nhanh hơn.

 

Cái chết của con tôi giục tôi hành động rốt ráo hơn cho ngày ḥa b́nh, thống nhất đất nước. Một đôi lúc nào đó, tôi phải chịu sự nghi kỵ của quân đội Sài G̣n. Nhưng tôi thấy b́nh thản, bởi những ǵ tôi làm là cho dân tộc. Mục đích thiêng liêng đó có thể cảm hóa được những người từng chống cộng, khiến họ dần hiểu ra và đứng về phía Cách mạng.

 

Theo Phạm Cường (VietNamNet)

 

Kỳ 2: Ai là người mang bí số H.3?

 

Giữa mịt mù khói và ḍng người cuồn cuộn trong ngày 30-4-1975 đó, có lẽ H3 là người lính cộng hoà hiếm có thấy cuộc đời thật b́nh yên. Bởi hơn ai hết, H3 là người hiểu rơ rằng: Chiến tranh ở Việt Nam đă thực sự kết thúc. Và người Mỹ không có ư định quay trở lại xứ sở này.

 

Để có được niềm tin chắc chắn như vậy, ông đă phải ẩn ḿnh suốt 10 năm trời trong hàng ngũ của chính quyền Sài G̣n.

 

Những câu hỏi không được phép trả lời sai

 

 Trở lại năm 1973. Hiệp định Paris về việc Mỹ chấm dứt sự can thiệp vào chiến tranh Việt

Lính Mỹ thảm sát dân thường ở Mỹ Lai

Nam được kư kết. Miền Bắc nỗ lực chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chuẩn bị gấp rút cho 1 cuộc tổng nổi dậy để hoàn toàn giành chính quyền. Chính quyền Sài G̣n cũng cố gắng tối đa tận dụng mọi nguồn lực để giành đất, giành dân theo kế hoạch "tràn ngập lănh thổ".

 

            Tuy nhiên, người ta vẫn thấy trong những trận càn, trận đánh trên chiến trường Nam bộ cái bóng dáng chiến tranh kiểu Mỹ, bởi những đồng đôla xanh, những vũ khí Mỹ, trang bị Mỹ và cố vấn Mỹ vẫn tiếp tục được gửi sang miền Nam Việt Nam.

 

Chính v́ thế, trong hàng ngũ tướng tá cộng hoà đă x́ xầm lên những tin đồn, rằng: nếu như Sài G̣n thất thủ, Mỹ sẽ không để yên cho phe cộng sản Bắc Việt. Những cuộc tắm máu có thể xảy ra... 

 

Tin đồn ấy cứ như vệt dầu loang, trở thành đ̣n tâm lư chiến buộc những người cầm quân giữa hai phía phải thực sự cân năo. Là người Việt, không kể Nam hay Bắc, dẫu có lạc quan nhất cũng không thể không trăn trở: Vậy th́ cuối cùng, Mỹ thực sự đang quan tâm điều ǵ? Mỹ đă thật sự “ớn” với cuộc chiến ở xứ Đông Dương?

 

Tất cả mạng lưới t́nh báo mật của quân giải phóng ở miền Nam đă phải vào cuộc. Căng thẳng. Gấp rút. Dồn dập. Mọi sức lực và trí tuệ đều được huy động tối đa để t́m ra câu trả lời chính xác, giúp Bộ Chính trị tại Hà Nội có được quyết định đúng đắn nhất.

 

Chỉ riêng với đầu mối H3, ngay sau khi tổ chức t́nh báo miền Nam bắt lại được liên lạc, liên tiếp trong những tháng cuối năm 1974, hàng loạt câu hỏi tới tấp từ Hà Nội dội về tận trong ḷng của BTTM Quân đội Sài G̣n: Liệu khi ta giải phóng miền Nam, Mỹ có thể can thiệp và can thiệp tới đâu? Khả năng cung cấp phương tiện chiến tranh của Mỹ như thế nào? Mỹ có tiếp tục duyệt ngân sách hỗ trợ quân sự cho chính quyền Nam Việt Nam hay không? Bố pḥng quân lực, kế hoạch đôn quân, bắt lính của chính quyền Sài G̣n ra sao? Địch đánh giá t́nh h́nh về ta như thế nào?...

 

Thời điểm đó, hai miền vẫn nằm trong thế giằng co nhau để giữ đất. Nh́n trên bản đồ bố pḥng của quân đội Việt Nam Cộng hoà, rơ ràng là nếu muốn chấm dứt cuộc chiến này, chắc chắn ta phải dùng đến quân đội chủ lực.

 

Song lại có một vấn đề nữa đặt ra, khi đă dốc toàn lực vào miền Nam tức là ta phải đảm bảo một kết quả toàn thắng. Toàn thắng không chỉ cho một năm, hai năm mà là vĩnh viễn. Nhưng, nếu bỗng nhiên Mỹ...? Câu hỏi ấy ai cũng hiểu, nhưng chẳng ai muốn viết thêm vào.

 

Trên thực tế, những lo ngại đó của các nhà lănh đạo miền Bắc Việt Nam không phải không có cơ sở. Bởi ngay cho đến những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hoà, một số tướng Mỹ vẫn xem việc sử dụng sức mạnh quân đội Hoa Kỳ như một giải pháp có thể cân nhắc trên chiến trường Việt Nam.

 

Ngày 4-4-1975, trong bản lượng giá về t́nh h́nh Việt Nam mà Tổng tham mưu trưởng Mỹ Fred C. Weyand gửi cho Tổng thống G. Ford, chính nhân vật này đă đề cập tới khả năng tham gia trở lại của quân đội Mỹ:

 

Chính phủ Nam Việt Nam đang bên bờ vực thẳm của một sự thất bại quân sự hoàn toàn. Tuy nhiên, miền Nam Việt Nam đang dự tính sẽ tiếp tục pḥng ngự với nguồn lực sẵn có của ḿnh, và nếu như được nghỉ ngơi, có thể sẽ tái thiết lại khả năng chiến đấu tùy thuộc vào sự yểm trợ về trang thiết bị mà phía Hoa Kỳ cho phép.

 

Tôi tin là chúng ta phải có nghĩa vụ yểm trợ giúp họ.[...] Việc sử dụng không lực Hoa Kỳ nhằm tăng cường khả năng chống lại sự xâm chiếm của Bắc Việt sẽ hỗ trợ cho chính phủ Nam Việt Nam trên cả hai b́nh diện: phương tiện và tâm lư, đồng thời sẽ đem lại một thế tŕ hoăn cần thiết trên chiến trường”.

 

B́nh tĩnh mà ngẫm kỹ mới thấy, những đề nghị trợ giúp đó không phải để “cứu nguy” cho chính quyền Nam Việt Nam, mà chính xác hơn là “cứu nguy” cho danh dự của chính nước Mỹ. Từng thản nhiên “bỏ rơi” anh bạn nhỏ phương Nam trong Hiệp định Paris, khi vào giờ phút “lâm chung” của chế độ đó, tướng Weyand vẫn nói: “Chữ tín của Hoa Kỳ trên phương diện đồng minh đang trong thế đổ bể tại Việt Nam. Để duy tŕ sự tin tưởng đó, chúng ta phải nỗ lực tối đa trong việc hỗ trợ cho miền Nam Việt Nam ngay bây giờ”.

 

Một ngày sau, 5-4-1975, trong bản báo cáo về t́nh h́nh Việt Nam gửi cho tướng Brent Scowcroft - Phó trợ lư Tổng thống về các vấn đề an ninh Quốc gia, đại tá Clinton Granger - sĩ quan quân sự cao cấp của Nhà Trắng - vẫn c̣n nhắc đi nhắc lại:

Myrutquan.jpg

Sau hiệp định Paris năm 1973, lính Mỹ rút khỏi Việt Nam, nhưng các tướng Mỹ vẫn luôn đưa ra những lá bài "Mỹ sẽ quay trở lại". Đó là đ̣n cân năo giữa những người chỉ huy ở cấp cao nhất từ cả 2 phía, và rốt cuộc th́ Hà Nội đă chiến thắng khi ra quyết định cuối cùng: Tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam, từ những tin t́nh báo đặc biệt lấy từ trung tâm "bộ năo chiến tranh" của Mỹ lẫn VNCH.

Chữ tín của chúng ta với tư cách một đồng minh sẽ được đánh giá bằng những nỗ lực của chúng ta trong vài tuần tới, và hy vọng là vài tháng tới. Tuy khả năng thành công có vẻ thấp, nhưng Hoa Kỳ cần thiết phải thể hiện một h́nh ảnh rơ ràng về thái độ trợ giúp cho miền Nam Việt Nam. Điều này sẽ khiến cho chính phủ Việt Nam có chút cơ may sống sót và quan trọng hơn, sẽ bảo vệ được chữ tín của Hoa Kỳ trên thế giới”.

 

Như vậy, rơ ràng là mối quan tâm lớn nhất của Mỹ lúc này không phải là “t́nh trạng bên bờ vực thẳm” của Sài G̣n như cách họ vẫn gọi, mà chính là danh dự của nước Mỹ, sức mạnh của nước Mỹ trong con mắt các quốc gia khác.

 

Tuy nhiên, giải pháp cuối cùng mà Mỹ đă lựa chọn cho cuộc chiến này là: Mỹ coi chiến tranh ở Việt Nam đă kết thúc. Mỹ sẽ không chi viện cho Việt Nam Cộng Hoà bằng lực lượng chiến đấu của Mỹ”. Đó chính là nội dung bức điện mà Mỹ đă trả lời Bộ Tổng tham mưu chế độ cũ khi Sài G̣n gửi thư sang cầu viện, ngay sau trận tiến công và giải phóng Phước Long của đội quân cộng sản.

 

Song, các tướng Mỹ vẫn luôn có cách làm cho những người Việt Nam ở cả hai phía tin rằng Mỹ sẽ trở lại. Đơn giản, để người Việt tự hồ nghi lẫn nhau, để họ sẽ dè dặt "giữ miếng" của nhau mà cuối cùng người hưởng lợi sẽ lại là nước Mỹ.

 

Nhưng ư đồ và nội dung bức điện mật mà Mỹ gửi cho Bộ Tổng tham mưu Sài G̣n đó đă nhanh chóng được H3, cùng rất nhiều điệp viên khác của Bắc Việt, chuyển về các nhà lănh đạo miền Bắc để họ ra quyết định cuối cùng.

 

Nhờ đó, những bước chân thần tốc của quân giải phóng tiến vào Sài G̣n càng trở nên táo bạo. Thậm chí, họ c̣n giữ cho người Mỹ những danh dự cuối cùng. Trước khi vào thành phố, quân giải phóng c̣n dừng hẳn bên ngoài 1 ngày để người Mỹ di tản hết. Bởi họ “đợi v́ mục đích chính là để giải phóng Sài G̣n chứ không phải để giết người” (Trần Văn Trà).

 

Bí ẩn H3?

 

Năm 1977, trong cuốn sách nói về sự sụp đổ của Sài G̣n (Decent Interval), Frank Snepp, cựu chuyên gia phân tích chiến lược của CIA, đă bắt đầu ṭ ṃ về "con người vô danh" mà ông gọi là “điệp viên trong hàng ngũ thân cận của Tổng thống Thiệu”.

 

 

H.3, người bí mật ở BTTM chế độ cũ, đă cung cấp những tin tức chiến lược về Hà Nội, giữ bí mật đến phút cuối cùng, mà CIA đến năm 2006 vẫn thắc mắc: Ông là ai?. Ảnh: Thế Vinh.

Ba thập kỷ sau. Năm 2006, trong hội thảo quốc tế về “T́nh báo trong Chiến tranh Việt Nam” do Trung tâm Việt Nam thuộc Đại học Công nghệ Texax cùng Trung tâm Nghiên cứu T́nh báo thuộc CIA, Merle Pribbenow - cựu nhân viên CIA - căn cứ từ nhận định của Frank Snepp, những đoạn hồi kư của đại tướng Vơ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và một vài chi tiết báo chí khác, đă chắp nối và phỏng đoán rằng:

 

đúng là phải có một điệp viên cộng sản từngnằm ngay trong ḷng BTTM. Dường như không phải là sĩ quan cao cấp, không phải là tuỳ tùng thân cận của Tổng thống Thiệu, song chắc chắn nhân vật này đă gửi ra Bộ Chính trị Bắc Việt nhiều tin t́nh báo chiến lược.

 

Và đến giờ, họ vẫn đang cố đoán thử: Đó là ai?

Nếu đảo sáng góc bên kia, nh́n từ phía những người lính của quân đội Việt Nam, manh mối đầu tiên để những trùm mật vụ Sài G̣n hay CIA khởi sự điều tra thường là: Đó có phải là Đảng viên Đảng Cộng sản?

 

Nhưng câu trả thứ nhất: H3 chưa từng là Đảng viên trong suốt quá tŕnh cấp tin cho ngành t́nh báo thời kỳ trước giải phóng Sài G̣n. Ông chỉ chính thức đứng trong hàng ngũ của Đảng vào cuối năm 1975, khi đất nước đă hoàn toàn thống nhất.

 

Vậy th́ câu hỏi thứ hai: Đó hẳn là một cán bộ cao cấp, một người được đào tạo t́nh báo bài bản, có thời gian tập kết hay tham gia kháng chiến 9 năm...? Bởi chỉ những người như vậy mới có đủ tŕnh độ và lá gan để làm công việc nguy hiểm tày đ́nh này.

 

Nhưng câu trả lời thứ hai vẫn chỉ là... bỏ ngỏ.

 

Những phút giây vọng về

 

…Trong ngôi nhà nằm ở ngay quận ngoại ô TP.HCM, vào một ngày cuối tháng 4-2007, H3 lặng ngồi hồi tưởng lại khoảnh khắc 30/4 của đời ḿnh:

 

"Khi đó, đang ở toà nhà chính, tôi thấy người của anh Bảy Vĩnh treo cờ. Tôi liền kiếm cái khác cho mấy ảnh treo.

 

Đến 3 giờ chiều, thấy máy truyền tin vẫn hoạt động, tôi tắt máy. Khi bàn giao cho quân giải phóng, tôi nói 20 năm nữa ḿnh cũng không sản xuất được máy truyền tin tự động như thế này đâu.

 

Rồi lúc trung đoàn xe tăng vô, đi tới đâu bắn tới đó. Tôi ngồi trong nhà lầu chắc chắn nhưng vẫn thấy rung rinh. Tôi lấy áo trắng ngoắc làm tín hiệu cho xe vô để khỏi bắn tốn đạn. Lúc đó tôi đă thay thường phục rồi. Cảm giác khi ấy mừng lắm. Mấy chục năm rồi... nay tôi đă thoát ṿng nguy hiểm. Mừng, mà không chia sẻ được với ai".

 

Mấy ngày sau, ông ra tŕnh diện, đi học tập cải tạo mất... 3 ngày, trước khi chính thức khoác lên ḿnh bộ quân phục của người chiến sỹ t́nh báo Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bộ quân phục của ông khi ấy hẳn vẫn là bộ ngoại cỡ: dài ḷng kḥng cho cái thân gầy lọc cọc.

 

Theo VietNamnet

 

 

Kỳ 3: T́m đôi mắt cộng sản cho anh lính cộng hoà

 

 

Có lẽ đến giờ, những người cùng làm việc với H3 tại văn pḥng Tổng tham mưu trưởng, BTTM của Quân đội Việt Nam Cộng hoà, dù giàu sức tưởng tượng bao nhiêu cũng khó có thể tin rằng viên hạ sỹ cao ḷng kḥng, "ốm đói như sót lại từ năm 1945" (lời chính H3 miêu tả về ḿnh lúc bấy giờ), chuyên nghiên cứu số đề, đánh bạc như con nghiện thực thụ, lại có thể là "con cá bự" của t́nh báo Việt Cộng.

 

Kẻ chơi đề, gây lộn trong cuộc chiến im ĺm

 

Ẩn trong vóc dáng gầy ốm với đôi tai to như thể mọi sự ồn ă bên ngoài đều lọt thấu,

   Cờ giải phóng tung bay tại Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài G̣n, ngày 30-4-1975. H.3 lặng lẽ rời BTTM lúc 3h chiều cùng ngày, sau khi hoàn thành nốt công việc cuối cùng: Bảo quản và bàn giao lại toàn bộ hồ sơ, giấy tờ đă được niêm phong cho quân giải phóng. Ảnh: chụp lại tư liệu tại Dinh Thống Nhất

Nguyễn
Văn Minh (Ba Minh) lẳng lặng đến công sở hằng ngày, ít nói và vô cùng thận trọng, bởi với ông, “lúc nào ḿnh chẳng như cá nằm trên thớt”. Hơn 10 năm làm thư kư đánh máy tại BTTM là hơn 10 năm Ba Minh sống trong hang hùm. Người bao bọc và giúp đỡ cho ông không ai khác chính là gia đ́nh và những người đồng chí. Tuy nhiên, trước khi được dốc trọn sức ḿnh cống hiến trong sự che chở vẹn toàn, Ba Minh đă phải trải qua những cuộc chiến im ĺm đến khốc liệt.

 

10 đứa con nheo nhóc, 10 năm làm việc không màng ǵ thăng tiến, viên thượng sĩ nhất hay đau yếu liên miên ấy, lạ thay, lại có cách làm việc rất chuyên nghiệp. “Chẳng xía vô chuyện của ai bao giờ”, Ba Minh trở thành một trong những viên thư kư được các đời Tổng tham mưu trưởng (trải từ thời tướng Nguyễn Hữu Có cho tới tướng Cao Văn Viên) đặc biệt tin cậy.

 

Ông biết cách sắp xếp tài liệu rất gọn gàng, có khi chỉ 2 phút sau khi tướng Viên yêu cầu là đă t́m xong. Ông c̣n là người được Cao Văn Viên tin tưởng, nhờ t́m mua những cuốn kinh Phật trong giai đoạn cuối của cuộc chiến ở Việt Nam. Ông là thượng sĩ duy nhất được vào pḥng Tổng tham mưu trưởng mà không cần xin phép trước. Thậm chí, có những tài liệu mật mà chỉ 5 người được phép biết, trong đó, 4 người kia đều phải hàng chóp bu. Có mỗi ông th́ lúc nào cũng lờ đờ là một anh thượng sĩ.

 

Nhưng làm lính tráng quèn của BTTM mà chỉn chu, nghiêm túc quá th́ cũng kỳ. Như ai, Ba Minh cũng đôi lần quậy dữ. Nguyên tắc chỉ cực kỳ kỷ luật khi làm việc, c̣n ngoài ra, ông “hay mang cuốn nghiên cứu số đề trong người để nguỵ trang. Nguỵ thế thôi, chứ chơi đề là thật”. Ông cười sảng khoái khi ngẫm lại thời “chúa đề” của ḿnh và lư giải.

 

“Tôi sống tự nhiên để có thể đóng góp những cái quư nhất cho cách mạng. Khi liên lạc bị đứt, tôi cũng sống làm việc b́nh thường thôi. Trong cơ quan, có người cũng chơi thân nhưng tôi không hỏi han ǵ để gây nghi vấn cả. Nghĩa là tôi vẫn giữ được b́nh phong tối đa của một người rất b́nh thường. Thậm chí tôi cũng gây lộn, đánh bạc... như tất cả người khác trong BTTM. Có dạo đánh bạc cũng dữ. Binh xập xám, tổ tôm... oánh tất. Một ông thiếu tá tuỳ viên, cận vệ của ông tướng phó trưởng liên quân, tương đương tổng tham mưu phó, cũng hay qua pḥng tôi chơi bài”.

 

Sau này, chính bí quyết nguỵ trang số đề ấy đă giúp cho H3 giữ được an toàn tuyệt đối trong giai đoạn phải truyền tin tức dồn dập ra ngoài hồi cuối năm 1974. Thậm chí, cái vỏ "đề đóm" c̣n khiến ông “đến khi giải phóng lại thu được tiền lời bằng 8 tháng tiền lương”.

 

Đi t́m người trừng mắt

 

Sinh năm 1933, Ba Minh nói rằng, cuộc đời ông sống vội lên trong nghèo khó. Cha là người Hưng Yên, má là người Nhị Khê, ông rất tự hào: “Tôi cùng quê với Nguyễn Trăi đó!”. Thuở dắt d́u nhau vào Nam, ba má ông sinh được 6 người con: 5 trai 1 gái. Anh cả sinh năm 1929, ông là con thứ hai, đặt tên là Nguyễn Văn Minh, thường gọi Ba Minh theo cách của người Nam bộ.

 

Ba Minh kể rằng, ông lớn lên ít học (chỉ hết tiểu học, sau này mới học thêm), v́ gia đ́nh quá khổ. Đă có thời tính vô căn cứ, nhưng gia cảnh ngặt nghèo, 18 tuổi đă phải thay cha nuôi em, sức khoẻ lại yếu, nên ông nghĩ có vô rừng cũng bị đuổi về trông em mà thôi.

 

Tuy nhiên, ḍng máu cách mạng th́ đă ngấm vào máu ông từ nhỏ. “Ba của tôi cũng không được học hành ǵ, viết chữ sai chính tả tùm lum, nhưng rất khoái nói chuyện chính trị. Ông là người Bắc, cứ uống 1-2 chén rượu vô th́ ngồi nói chuyện cách mạng suốt ngày. Ông nói về Phan Chu Trinh, về Phan Bội Châu, về ḷng yêu nước, tôi nghe riết rồi nhập tâm".

 

Bên cạnh đó, Ba Minh c̣n có một người chú ruột - người khiến Ba Minh nhớ ơn rất nhiều, bởi đó không chỉ là người thầy dạy nghề đầu tiên mà c̣n là người hướng dẫn cách mạng cho ông nữa.

 

Cha, chú, anh trai, rồi sau này là em trai, em gái của Ba Minh đều đồng ḷng đi theo cách mạng, dẫu cho bức tường mà họ tựa vào có thể rất khác nhau.

 

18 tuổi, Ba Minh kiếm sống, nuôi em bằng nghề thợ giày và tham gia vào nghiệp đoàn thợ giày. 20 tuổi, chàng thanh niên ưa hoạt động phong trào này được đưa ra Đồng Tháp Mười, giữa chốn đồng không mông quạnh, để học chính trị, học về nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Khi trở về khu phố, những chàng trai trẻ như Ba Minh cứ đều đặn sinh hoạt tổ mỗi tuần 1 lần, tổ chức đi căng biểu ngữ đấu tranh chống Diệm phá hoại Hiệp định Geneve, bày mưu giả đụng xe để cản đường, thu hút người xem và tuyên truyền cách mạng.

 

Thời kỳ 1954-1955, Ba Minh tham gia biểu t́nh công khai trên đường phố Sài G̣n. Hàng ngàn người đổ ra kín đường phố chính, mặc cho cảnh sát dùng xe jeep dàn hàng ngang càn tới, đánh lựu đạn hơi cay, cán cho đồng bào bể xương cũng mặc.

 

Năm 1955, Diệm bắt đầu tăng cường khủng bố. Ba Minh không bị bắt, nhưng tổ chức của Ba Minh và Trần Minh Đạm ở huyện uỷ Thủ Đức (lúc bấy giờ gọi là phân khu Thủ Đức - Dĩ An) bị vỡ. Cả 2 giao ước với nhau: ai bắt được liên lạc với tổ chức th́ kéo người khác đi theo. Thời điểm đó, Ba Minh thất nghiệp, 1 vợ 1 con nheo nhóc. Ông bèn đăng kư đi học thư kư đánh máy, rồi bán nhà, đút tiền xin làm ở Lữ đoàn Pḥng vệ Phủ Tổng thống.

 

Thời điểm đó, Ba Minh đang hoạt động dưới sự chỉ đạo của vợ chồng ông Chín Đức (Trần Quốc Hựu – nguyên Bí thư huyện uỷ Thủ Đức – Dĩ An), đầu mối liên lạc là cô em gái tên Nguyệt.

 

Đến năm 1960, thành tích đáng kể đầu tiên của Ba Minh là vẽ lại sơ đồ pḥng thủ thành Cộng Hoà để chuyển cho ông Chín Đức. Với vai tṛ thư kư đánh máy về quân số (vào sổ lính gác, tên, số quân, lư lịch cá nhân, gia đ́nh...), hàng ngày Ba Minh có cơ hội tiếp xúc, bắt quen rồi xin xỏ, bí quá th́... ăn cắp vũ khí (đạn, lựu đạn), đem về bảo em chuyển ra cho tổ chức.

 

Năm 1962, lính dù tiến hành đảo chính Diệm - Nhu, cuộc đảo chính được xem là "lời cảnh cáo cuối cùng" đối với chế độ Diệm. Sang năm 1963, ngay trong ngày anh em Diệm - Nhu bị ám sát tại cuộc đảo chính 1-11-1963, sau 3 giờ nằm dưới tầm pháo kích tấn công thành Cộng Hoà, khi thoát ra ngoài được, Ba Minh đă kết luận rằng: "Hoá ra, ḿnh không biết sợ là ǵ".

 

Sau khi đă vào được Văn pḥng BTTM, Ba Minh thường theo TTMT Nguyễn Hữu Có về Cần Thơ (ở Quân đoàn 2, vùng 4 chiến thuật) công tác. Nhưng khoảng thời gian yên ả đó không lâu. Sài G̣n lại tiếp tục biến loạn. Tướng Có lên chức, thuyên chuyển đến Pleiku. Thi thoảng nhớ tổ chức quá, khi t́m về mạn Cái Răng (Cần Thơ), Ba Minh trong bộ đồ hạ sỹ nhất cứ lang thang vào xóm chỉ để t́m xem "có ai trừng mắt nh́n ḿnh không" mà bắt liên lạc. Vậy mà vẫn không thành.

 

Ngồi trên “vàng” mà ấm ức

 

Suốt một thời gian dài, Ba Minh cứ đi t́m tổ chức, t́m đồng đội như thế.

Thượng sỹ nhất Nguyễn Văn Minh đă mải miết đi t́m đôi mắt, cái đầu của tổ chức t́nh báo đủ tầm đánh giá được giá trị chiến lược của những tài liệu mà anh đang giữ, suốt mấy chục năm trời, đến cuối năm 1973 mới toại nguyện: Gặp được Hai Kim. Ảnh: Hà Trường

 

 

Đến tận cuối năm 1965, sau cuộc chỉnh lư của nhóm tướng lĩnh trẻ lật Nguyễn Khánh, tướng Nguyễn Hữu Có quay về Sài G̣n, trở thành "nhân vật số 3" trong Chính phủ VNCH, chỉ sau Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc pḥng, kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân đội Sài G̣n. Nguyễn Văn Minh cũng có mặt trong nhóm hầu cận của tướng Có, lọt vào Bộ Tổng tham mưu, làm thư kư văn pḥng lưu trữ hồ sơ.

 

Ngày 14-10-1965, khi tướng Cao Văn Viên được cử chức Tổng Tham mưu trưởng thay tướng Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Minh vẫn được giữ lại trong tổ thư kư, chính thức "nằm trên đống vàng" tài liệu - cách mà ông thường nói thế - suốt 10 năm liền sau đó.

 

Tuy công việc đă êm êm, song Ba Minh vẫn trăn trở và ấm ức măi v́ không t́m được người để móc nối và sử dụng nguồn tin. Dẫu tự nhận là “không học hành nhiều”, nhưng Ba Minh hiểu: không lấy được tin này ra là thiệt tḥi cho cách mạng.

 

Lúc bấy giờ, quan niệm của Ba Minh về t́nh báo quân sự cũng chỉ đơn giản như chính cách ông được học về t́nh báo: ngày xưa, coi phim thấy t́nh báo Anh lấy được bản vẽ tí ti mà sau này nhờ nó, họ đă đánh sập tuần dương hạm lớn nhất của Đức. Rồi cả chuyện ba ông hay kể về người lính Cộng sản được bố trí đi theo Quốc dân đảng. Anh lính này được ông Mao Trạch Đông giao mỗi một việc, khi nào Tưởng Giới Thạch trở mặt th́ cấp báo. Vậy là hoàn thành nhiệm vụ.

 

"Tôi sức yếu, chỉ nghĩ rằng ḿnh đóng góp được ǵ cho cách mạng th́ đóng góp. Những người trong phim hay trong truyện tôi đă xem, đă nghe, cả đời họ chỉ làm đúng một việc, nhưng miễn là thành công th́ cũng đă là đóng góp rồi" - ông nghĩ vậy, và lư giải đơn giản vậy.

 

Và rồi cuối cùng, cả đời ông đă diễn ra đúng như cách ông đă chọn.

 

Gian nan t́m đồng đội

 

Năm 1967, việc liên lạc với huyện uỷ Thủ Đức được nối lại thông qua người em gái. Nhưng mối quan tâm của người phụ trách huyện uỷ chỉ dừng lại quanh những tin lặt vặt liên quan đến cấp huyện - điều mà "bói suốt ngày" mới thi thoảng kiếm được ở văn pḥng cỡ BTTM. Nhưng chưa kịp chuyển tin ǵ th́ Ba Minh phải vào viện v́ bệnh - việc như cơm bữa hàng ngày.

 

Ba Minh nói rằng: T́nh yêu nước, mong muốn cống hiến cho cách mạng lớn lên,được nuôi dưỡng trong ông bắt đầu từ những câu chuyện kể về Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... V́ vậy mà suốt mấy chục năm trời nằm trong ḷng địch,ông mong mỏi có 1 cơ hội để có thể cống hiến chút công "lấy sức ít mà đánh được địch nhiều". Ảnh: Hà Trường

"Trong nhà tôi giờ vẫn c̣n giữ cái giấy tôi nằm viện 4 tháng. C̣n ở ngoài Hà Nội vẫn c̣n cái giấy tôi nằm viện tới 5 tháng trời. Bệnh nặng, năm nào cũng vào viện mấy đợt, đóng góp của tôi với cách mạng cũng kém đi v́ vậy", Ba Minh cười khi nhắc tới bệnh tật.

 

Nhưng đấy đúng là chuyện "tái ông thất mă". V́ sức khoẻ ốm mà ônggiữ kín được ḿnh, để đến phút cuối cùng mới tung tổng lực ra cho cách mạng nhiều hơn. "Nếu làm từ hồi đó, chắc tôi bị bể sớm rồi. Mà bể th́ làm ǵ có cơ hội phục vụ được như sau này", ông lại cười sảng khoái.

 

Đến 1967, Ba Minh vào hẳn trong trại gia binh BTTM, có nhiều thời gian hơn với việc tiếp xúc tài liệu. Một năm sau, cán bộ phụ trách và huyện uỷ Thủ Đức vỡ, Ba Minh tạm thời mất liên lạc.

 

Không chịu ngồi yên, cùng lúc, thông qua người em gái cũng hoạt động mật, Ba Minh cứ đều đặn gửi thông tin ra ngoài cho nhiều lưới khác nhau. Chiến công đầu tiên mà Ba Minh thấy rơ ràng nhất là lần ông báo tin về một toán biệt kích mới được huấn luyện tại nước ngoài sắp được tung ra phá hoại hậu phương miền Bắc.

 

Về sau, bà chị dâu Sáu Chi (người luôn chủ động móc nối liên lạc cho chú em Ba Minh) thông báo lại: "Ngoài đó người ta biểu dương chị em ḿnh quá trời luôn". V́ tin báo kịp thời này đă giúp miền Bắc đón lơng, bắt gọn toàn bộ nhóm biệt kích kia.

 

Tuy nhiên, đă làm t́nh báo th́ lúc nào cũng phải chuẩn bị sẵn tinh thần chịu nguy nan. Một lần, trên đường chuyển tài liệu ra cứ, người giao liên của Ba Minh bị địch phục bắn chết, tài liệu bay tung toé ra đường.

 

Nhưng may mắn thay, dù tài liệu mà địch thu được c̣n nguyên chữ viết của ông, song do thông tin mà cấp huyện yêu cầu chỉ là tin tức pḥng vệ thông thường, lấy đâu cũng được nên không bị mật vụ truy xét kỹ về nguồn.

 

B́nh luận về sự việc này, Đại tá T.T nói: “Đó là một mất mát về con người, nhưng cũng là một điều may cho Ba Minh. Nếu tin tức đó quan trọng, địch tập trung truy xét là "ḷi" ra ngay. Thông tin, tài liệu chính là điệp viên. Nếu mất Ba Minh lúc đó, về sau, cách mạng sẽ mất đi một nguồn tin có tính chiến lược đặc biệt quan trọng”. Sự việc đó xảy ra vào năm 1972.

 

Vốn là người thận trọng và kỹ tính, sau sự cố ấy, Ba Minh ráo riết t́m người liên lạc cấp cao hơn, bởi ông biết ḿnh đang nằm ở chỗ nào. “Hồi đảo chính Diệm, tôi nằm 3 giờ dưới đạn pháo, khi chui lên mới biết là ḿnh đâu có sợ ǵ. Tôi chỉ sợ là tài liệu quan trọng không được dùng đúng chỗ thôi”.

 

            Và cuối cùng, đến cuối năm 1973, cái tên Hai Kim xuất hiện trong cuộc đời Ba Minh, đưa Ba Minh vào đúng vị trí lịch sử mà ông theo đuổi từ những ngày c̣n "học" làm t́nh báo: Chỉ cần có cơ hội, chỉ cần cung cấp được một thông tin có giá trị đă là măn nguyện rồi.

 

Nhưng Ba Minh không chỉ cung cấp một thông tin. Ông đă báo về một "núi" thông tin, toàn loại tuyệt mật, chỉ trong ṿng chưa đầy năm rưỡi.

 

Bắt đầu từ giờ phút gặp Hai Kim, các bí số H3, H4, T2... cũng lần lượt ra đời. Nhà t́nh báo không chịu ngồi yên ấy đă t́m được đôi mắt đủ sức đánh giá những tài liệu ông đang giữ sau gần 10 năm trời lặn lội.

 

Theo VietNamNet

 

Kỳ 4: Cuộc thử lửa cho tấm lưới vàng

 

Tháng 4-2007. Người mang bí số H3 bí ẩn nay đôi mắt đă mờ đục. Một mắt loà, một mắt chỉ c̣n 30% thị lực. Ông nói, đó là kết quả những ngày đêm ông ngồi viết tài liệu đêm ngày để chuyển kịp về cho cách mạng.

 

Đại tá Nguyễn Văn Minh (Ba Minh), điệp viên mang bí số H3, người mà Frank Snepp, cựu chuyên gia phân tích chiến lược của CIA, từ năm 1977 đă ṭ ṃ đặt dấu hỏi về "con người vô danh" mà ông gọi là “điệp viên trong hàng ngũ thân cận của Tổng thống Thiệu”, trong cuốn Decent Interval (Cuộc tháo chạy tán loạn). Ảnh: Hà Trường.

"Tôi từng làm việc với rất nhiều lưới khác nhau. Nhưng quăng thời gian tôi làm việc cật lực nhất là với chị Hai Kim, từ đầu năm 1974 cho đến ngày giải phóng", đôi mắt Ba Minh dần t́m vềthời kỳ hoàng kim với những người đồng đội...

 

Niềm tin cách mạng giữa giai đoạn thăng trầm

 

...Năm 1969, Trưởng trạm B.52, đồng chí Ba Phấn (tên thật là Nguyễn Văn Phấn) dẫn đoàn cán bộ xuống khu 9 (Đồng bằng sông Cửu Long), vượt qua 1 chặng đường dài gian khổ để đứng chân ở vùng giải phóng, xây dựng cụm t́nh báo ở vùng đất giàu truyền thống cách mạng này.

 

Thử thách rơi vào trạm B.52 đúng vào thời kỳ khốc liệt nhất: Mỹ - VNCH đang tiến hành b́nh định cấp tốc vùng căn cứ, địch tăng cường càn quét kết hợp đánh B.52. Vùng giải phóng thu hẹp, không c̣n dân. Việc đi lại giữa căn cứ với vùng tạm chiếm rất khó khăn v́ phải qua vùng trắng.

 

Sau 2 năm đứng chân, trạm trưởng Ba Phấn về báo cáo lại với Trưởng pḥng J22: "T́nh h́nh chính trị quân sự khu 9 đang hé mở có triển vọng, nhưng khả năng t́nh báo c̣n mờ mịt. Tuy ác liệt nhưng tôi không sợ, không đáng kể đâu. Bất quá chết th́ thôi. Nhưng đáng buồn là ḿnh cứ chạy càn, đến gặp quân khu 9 làm phiền cấp trên đang trăm công ngàn việc mà không phục vụ ǵ được". Thiếu tướng Sáu Trí nhớ lại những day dứt của người trạm trưởng dưới quyền, nhưng cũng là đồng đội một thời vào sinh ra tử.

 

Sự day dứt của người lính t́nh báo khi đă bằng mọi cách vẫn không thể hoàn thành nhiệm vụ chính là điều mà người trong nghề dễ gặp và dễ chia sẻ với nhau nhất. T́nh báo là bám vào dân, nguồn tin là ở dân, tài liệu cũng từ dân, điệp viên cũng từ dân mà ra. Nay, cơ sở quần chúng th́ ở vùng tạm chiếm, c̣n trạm th́ đóng ở chiến khu. Trong khi đó, đoàn của đồng chí Ba Phấn lúc bấy giờ chưa có được cơ sở hợp pháp. Vậy th́ chỉ c̣n là 1 đơn vị vũ trang đúng nghĩa!!!

 

Trong khó khăn, mới thấy niềm tin cách mạng và nghĩa t́nh đồng đội. Vào thời gian đầu, cùng với việc xây dựng mạng lưới, trạm B.52 tạm thời dùng thông tin từ pḥng t́nh báo J22 chuyển xuống để báo cáo với Tư lệnh khu 9, người mà về sau cái tên đă trở thành quen thuộc với nhân dân Việt Nam: Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam, bí danh Sáu Nam. Đồng thời, J22 tăng cường cho B.52 một cán bộ nữ hợp pháp, có tên Hai Kim.

 

Khi trạm B.52 đang thiếu cơ sở nằm sâu trong ḷng địch, th́ cơ hội đến. Bà Sáu Chi, một người trong mạng lưới lên Sài G̣n bắt liên lạc với 1 người cháu là đại uư không quân nhưng người này đă thiệt mạng. Bà Sáu Chi buồn lắm, nhất định không chịu về tay không. Nhân lúc qua thăm gia đ́nh em chồng, biết được vị trí và nguyện vọng của Ba Minh, bà Sáu Chi giới thiệu ngay chú em ḿnh với Cụm trưởng Ba Phấn.

 

Với bản năng của một người chỉ huy t́nh báo lâu năm đă kinh qua chiến trường, Cụm trưởng Ba Phấn (lúc đó đă là Cụm A33, đóng tại Cần Thơ) biết ngay rằng đây đă là 1 nguồn tài liệu quan trọng. Hai Kim được cắt cử lên đường vào Sài G̣n tiếp cận với Ba Minh. Lúc đó khoảng mùa mưa, chừng tháng 8,9-1973.

 

Thử thách đầu tiên

 

"Bả đến nhà đứa em gái tôi hôm 28 Tết âm lịch. Hôm đó nhà đang có giỗ chồng nó", Ba Minh và cô Nguyệt (em gái) nhớ lại. Khi tới, cô Hai Kim cầm theo 1 tấm ảnh của cháu Hoàng (con đầu ḷng của Ba Minh) để làm tin.

 

"Khi chị Sáu Chi trở về, chị có dẫn thằng con lớn của Ba Minh là thằng Hoàng ra chiến khu, gửi cho A33 để được bảo đảm an toàn. V́ khi đó nó đang học lớp 12, có thể bị bắt lính. Lúc đến, trong vai là người đi mua vải, tôi đưa thẻ của thằng Hoàng

Quân giải phóng chiếm Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài G̣n. Nơi đây, H3 đă "ẩn" ḿnh suốt 10 năm trời chờ đợi để góp sức ḿnh cho cách mạng. Ảnh: Chụp lại tư liệu tại Dinh Thống Nhất.

ra. Cô Nguyệt tin ngay. Song cô chưa bắt chuyện ngay mà lấy nước, lấy báo cho tôi coi, với lư do nhà đông khách. Tôi biết lúc đó gia đ́nh cổ vẫn quan sát tôi, tôi ngồi chờ cho đến phút cuối rồi hẹn mấy ngày sau sẽ gặp lại. Ngay hôm sau, cô Nguyệt báo lại với anh trai. Lúc đầu ảnh cho rằng, hoặc là thằng Hoàng đă bị bắt, hoặc hoặc v́ lư do nào đó, nó đánh rơi thẻ mà thôi
", cô Hai Kim nhớ lại.

 

Sự thận trọng đó vốn là bản tính của Ba Minh, cộng thêm được rèngiũakỹ càng v́ đang sống giữa trung tâm Bộ Chỉ huy Sài G̣n. V́ thế, mặc dù nghe Hai Kim kể rất rành rọt về chị dâu Sáu Chi, nhưng Ba Minh vẫn chỉ mới tạm nhận lời và t́m cách... thử thách “thủ trưởng”.

 

Lần gặp đầu tiên, Ba Minh cứ ngồi nói, nói... liên tục, từ kiến thức quân sự, kiến thức về tổ chức bộ máy quân đội Sài G̣n, cho tới những con số chi tiết trong các bản báo cáo mà Ba Minh c̣n nhớ vanh vách. Sau đó, anh hỏi lại một câu thế này: “Không biết năy giờ tôi nói, chị có lănh hội được không?” Tôi biết ảnh nói câu đó là để thử thôi. Tôi liền bảo là để tôi báo cáo lại những ǵ anh nói năy giờ. Thế rồi tôi tóm lại những ư chính, đồng thời nêu luôn tất cả các con số mà anh nêu, dù tôi đâu có ghi chép" - bà Hai Kim cười vui, kể lại.

 

Đến khi đó, Ba Minh mới yên tâm vào người cộng sản có đôi mắt mà ḿnh đang cần. Khi đă đặt trọn vẹn niềm tin rồi th́ mức độ "nhồi" tài liệu của Ba Minh tới giao thông viên đặc biệt Hai Kim thật... kinh hoàng. Từ lịch hẹn gặp 2 tháng/lần, Ba Minh chủ động rút xuống c̣n 1 tháng..., rồi cuối cùng là 5 ngày/lần gặp, mỗi lần là hàng chục trang tài liệu gốc. Đó là khoảng thời gian làm việc khủng khiếp nhất trong cuộc đời làm t́nh báo của Ba Minh.

 

Bắt đầu nhập lưới

 

Đại tá Ba Minh dù đến nay đă qua tuổi 70, trí nhớ kém nhiều, nhưng vẫn c̣n nhớ ngày đầu tiên đó: "Lúc đầu tôi cũng đâu có chép nguyên gốc nguyên bản cho bà Hai Kim. Tôi chỉ nói thôi, tôi cũng có viết nhưng mang tính tóm lược chứ không viết rơ ràng hết.

 

Văn hoá tôi kém nhưng lúc đầu tôi đọc báo thiếu nhi có sách hồng của ông Tố Hữu, mặt sau có mục ai? ở đâu? tại sao? thế nào? lúc nào? (5 yếu tố W khởi nguồn của truyền đạt tin tức - NV). V́ thế, một nguồn tin tôi đưa cũng có tổ chức, đơn vị nào, làm ǵ, ngày giờ, thực hiện ở đâu, tại sao lại cần thiết như vậy. Phải mất một vài tháng tôi mới bắt đầu chép thử chuyển cho bà Hai Kim".

 

Rồi từ tháng 2-1974, bí số H3 ra đời. Đó là Thượng sĩ nhất Nguyễn Văn Minh, thư kư đánh máy tại văn pḥng Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc pḥng VNCH. Hai Kim mang bí số T2. Người em gái Ba Minh là Nguyễn Thị Nguyệt mang bí số H4. Một người em trai nữa của Ba Minh tên Nguyễn Văn Chí (sinh năm 1941) cũng tham gia nhưng không đặt bí số. Lưới điệp báo xoay quanh H3, theo tài liệu lưu trữ, được đặt là A3.

 

Người chỉ huy T2 nhớ lại, để chuyển tin cho một ḿnh H3, có tới gần chục người sẵn sàng làm nhiệm vụ. Trước khi bắt đầu, họ có một lời tự thề với ḿnh rằng: sẽ sẵn sàng im lặng tuyệt đối nếu lỡ bị bắt, bị tra tấn hay thậm chí bị giết, chỉ bởi v́ một điều đơn giản, họ có nhiệm vụ đảm bảo an toàn tuyệt đối cho H3.

 

Và cả một lưới gồm rất nhiều người đang nằm ở chiến tuyến khác nhau, thậm chí chưa hề biết đến nhau, đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyệt mật, đến giờ phút quân giải phóng cắm cờ lên Dinh Độc Lập và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài G̣n.

 

Theo VietNamNet

 

 

 

Kỳ 5: Những tin vàng cho cách mạng

 

Nếu ví căn pḥng chỉ huy ở Hà Nội hằng đêm sáng rực ánh đèn thông tin t́nh báo quân sự và mỗi lưới điệp báo thắp lên 1 ngọn đèn, th́ H3 cũng là 1 ngọn đèn sáng trong số đó. Bởi “sức ít” của Ba Minh cuối cùng cũng giúp cho quân ta “đánh được thật nhiều”.Ảnh: Hà Trường

 

Luôn tự nhận ḿnh là người “ít học”, nhưng Ba Minh lại là người được Cao Văn Viên tin tưởng nhất trong việc sắp xếp hồ sơ, tài liệu. Nhờ ở vị trí đó mà ông đă đưa được rất nhiều tin tức cho cách mạng. Chỉ trong ṿng chưa đầy 1 năm, ông đă chuyển ra ngoài 90 bản tài liệu, mỗi bản dày hàng chục trang.

 

Những bản tin tuyệt mật

 

Như đă viết ở trên, chiến công đầu tiên mà H3 cảm nhận thấy rơ nhất hiệu quả những thông tin ông gửi về là việc miền Bắc tổ chức bắt gọn một toán biệt kích được Mỹ đào tạo tại nước ngoài rồi tung ra phá hoại hậu phương lớn của ta.

 

Đấy mới chỉ là bắt đầu của 1 quá tŕnh, dù thời gian không dài, nhưng cực kỳ hiệu quả trong việc hoạt động của lưới A3 xoay quanh điệp viên nằm ngay “ruột” của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài G̣n.

 

Không chỉ vậy, từ H3, Hà Nội nắm rơ đường lối hoạt động của Hải quân chế độ Sài G̣n theo kế hoạch 1974–1975. Chưa hết, Hà Nội biết rơ kết quả quân đội Sài G̣n tiến hành “triệt hạ các vùng lơm của Cộng sản” ra sao, khi bản báo cáo này đến BTTM. Hoặc chi tiết hơn, Hà Nội c̣n biết ngọn ngành cả kế hoạch tái chiếm R.B, trước khi kế hoạch này được triển khai.

 

Thậm chí, thư của văn pḥng tuỳ viên quân sự Mỹ (DAO) gửi BTTM quân đội Sài G̣n về kế hoạch sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ, hay việc người Mỹ trả lời về việc Mỹ không thể đáp ứng đề nghị của VNCH trong việc cho các oanh tạc cơ tham gia can thiệp khi ta giải phóng hoàn toàn Phước Long (tháng 12-1974).

 

Biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng”, tất nhiên H3 không phải là nguồn thông tin duy nhất để Hà Nội đưa ra những quyết định cuối cùngvề việc tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Nhưng, H3 là một nguồn tin nằm ngay trong “bộ năo” chỉ huy chiến tranh của chính quyền Sài G̣n.

 

Với tốc độ chuyển tin không có ngày nghỉ, Ba Minh luôn làm việc mỗi ngàynhư là ngày cuối cùng không e ngại, sợ hăi, chỉ với 1 ư nghĩ “góp sức để mà ít có thể đánh được nhiều”.

 

Tới năm 1975, khi toàn chiến trường sục sôi khí thế “giải phóng hoàn toàn miền Nam”, với những cú đấm mạnh đúng “tử huyệt” bố pḥng quân lực của VNCH, ít ai có thời gian đặt câu hỏi: V́ sao chúng ta đánh đúng, đánh trúng, đánh thắng như chẻ trevậy?

 

Câu hỏi này, chỉ có Bộ Chính trị rơ hơn ai hết. Nếu ví căn pḥng chỉ huy ở Hà Nội hằng đêm sáng rực ánh đèn thông tint́nh báo quân sự, và mỗi lưới điệp báo thắp lên 1 ngọn đèn, th́ H3 cũng là 1 ngọn đèn sáng trong số đó. Bởi “sức ít” của Ba Minh cuối cùng cũng giúp cho quân ta “đánh được thật nhiều”.

 

Cú điểm “tử huyệt” Tây Nguyên

 

Chiến dịch Tây Nguyên (4-3/24-3-1975) mở màn cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1976. Tuy nhiên, với cục diện diễn biến nhanh trên chiến trường: lực lượng VNCH vỡ hàng loạt theo hiệu ứng Domino, lực lượng cách mạng liên tiếp giành các chiến thắng áp đảo, thời gian giải phóng Sài G̣n được rút xuống: trước mùa khô năm 1975.

 

ĐánhTây Nguyên, cú "đ̣n hiểm" đầu tiên của cuộc tổng tiến công, là kết quả tính toán thận trọng và táo bạo của những nhà lănh đạo Việt Nam. Một trong những nguồn tài liệu quan trọng để Bộ Chính trị đưa ra quyết định giải phóng vùng đất cao nguyên này chính là những tin tức t́nh báo mà H3 lấy được. Nguyên phó pḥng t́nh báo J22 (phụ trách tham mưu), Đại tá T.T nhớ lại: "Từ năm 1974, ḿnh đă nhận được sách lược quốc gia năm 1975 của nó. Huấn thị của VNCH về việc thiết lập kế hoạch 1974-1975, ngay từ tháng 6-1974 ḿnh đă nhận được rồi. Như vậy, công lao của anh Ba Minh là rất lớn, tin tức thu về được nhiều chứ không phải chỉ mỗi thông tin về việc Mỹ không quay trở lại Việt Nam. Tất cả những tin mà H3 gửi về đều giúp ta phán đoán được t́nh h́nh và là 1 trong những nguồn tin quan trọng phục vụ cấp trên quyết định mở chiến dịch cuối cùng năm 1975".

 

Chẳng hạn, tất cả những nội dung chi tiết trong bản kế hoạch Lư Thường Kiệt dày hàng trăm trang đă có mặt trên bàn Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam từ khá sớm. Căn cứ trên tài liệu này cùng với thông tin từ rất nhiều nguồn khác, các quân đoàn của ta đă phối hợp, triển khai hướng tiến công theo đúng ư đồ chiến lược của những nhà chỉ huy quân sự.

 

Tháng 7-1974, pḥng t́nh báo J22 đă thu được bản tường tŕnh của Bộ Tổng tham mưu VNCH về kế hoạch dự kiến năm 1975. Trong những tài liệu này có những thông tin đặc biệt quan trọng nói về mức độ tiếp viện của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, giúp cho các nhà lănh đạo của ta quyết định được cách đánh.

 

Theo bản tường tŕnh này, việc quân đội VNCH triển khai các hoạt động giữ đất, chiếm đất và việc phân phối ngân sách cho các loại quân binh chủng đều phải tương ứng với tỉ lệ viện trợ của Mỹ. Cụ thể, nếu Mỹ viện trợ 1,4 tỷ đôla, quân đội VNCH sẽ kiểm soát được toàn miền Nam, 1,1 tỷ đô la sẽ mất một nửa quân khu 1 về phía Bắc, nếu chỉ 900 triệu đô la sẽ mất quân khu 1 và vài tỉnh quân khu 2, c̣n 750 triệu đô la sẽ mất quân khu 1 và quân khu 2, nếu chỉ c̣n 600 triệu đô la th́ chỉ kiểm soát một nửa quân khu 3 từ Biên Ḥa tới quân khu 4...

 

Thật là một kiểu tính toán vềmột cuộc chiến tranh sặc mùi đô la của các ông chủ Mỹ.

 

Nắm được tài liệu này, ta có thêm điều kiện để hiểu được được khó khăn của chính quyền Sài G̣n và ư đồ co cụm từng bước. Rơ ràng là chính quyền Sài G̣n đang thay đổi chiến thuật tác chiến "theo kiểu Việt Nam", "lối đánh con nhà nghèo" trước t́nh trạng khó khăn về viện trợ và quân số.

 

Sự rệu ră của quân đội VNCH càng cho thấy tương lai sụp đổ tất yếu của một chính quyền hoàn toàn lệ thuộc vào tiền và vũ khí viện trợ của Mỹ.

 

Ngoài ra, với mức độ “nhồi” tin 5 ngày/chuyến, đến cuối năm 1974, những tài liệu do H3 chuyển về c̣n giúp ta nắm rơ được t́nh h́nh Bộ Tổng tham mưu, kế hoạch bộ binh hoá sư dù, chỉ thị của Bộ Tư lệnh không quân, phúc tŕnh của hải quân về đường lối hoạt động năm 1975; biết được mức độ yểm trợ của Mỹ khi đánh nhau th́ như thế nào; lực lượng VNCH có những sư nào lớn, những trận nào mà họ có thể bỏ; mức độ giảm quân đội khi viện trợ giảm; việc thiết kế đồn bốt bây giờ không c̣n kiên cố sắt thép như ngày xưa nữa, khi mà Mỹ đă cắt bỏ viện trợ...

 

Không chỉ vậy, từ H3, Hà Nội nắm rơ đường lối hoạt động của Hải quân Sài G̣n theo kế hoạch 1974–1975. Chưa hết, Hà Nội biết rơ kết quả quân đội Sài G̣n tiến hành “triệt hạ các vùng lơm của Cộng sản” ra sao, khi bản báo cáo này đến BTTM. Hoặc chi tiết hơn, Hà Nội c̣n biết ngọn ngành cả kế hoạch tái chiếm R.B, trước khi kế hoạch này được triển khai.

 

Thêm vào đó, những tài liệu riêng ở quân khu 4 về t́nh h́nh 6 tháng đầu năm, kế hoạch 6 tháng cuối năm, quân số, đánh giá của Hội đồng An ninh quốc gia như thế nào, lượng giá của họ về tinh thần quân cộng sản ra sao... cũng bị ta nắm rơ.

 

H3 khẳng định với tổ chức: Năm 1974, với mức độ viện trợ bị rút xuống, VNCH không bắt đủ lính quân dịch cần thiết. Phân tích về mặt chiến lược: Điều đó đồng nghĩa với việc chính quyền Sài G̣n đang phải co cụm lực lượng nếu không muốn dàn trải, nghĩa là phải chấp nhận bỏ đất.

 

Đến đầu năm 1975, dựa trên những thông tin và tài liệu mà t́nh báo của ta nắm được, pḥng t́nh báo J22 khẳng định: Mỹ không thể can thiệp để cứu nguy cho quân đội Sài G̣n trong bất cứ t́nh huống nguy ngập nào. Trên chiến trường, thế bố pḥng lực lượng yếu nhất và khó bảo vệ nhất là chiến trường Tây Nguyên (quân khu 2). Tại quân khu 2, chiến trường hiểm yếu nhất là Ban Mê Thuột.

 

"Nếu Cộng sản đánh Ban Mê Thuột th́ toàn bộ hệ thống pḥng thủ ở Tây Nguyên sẽ đổ vỡ, hậu quả sẽ tai hại khôn lường được cho VNCH", nội dung tài liệu này được Thiếu tướng, anh hùng t́nh báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) cung cấp nguyên bản, khẳng định "tử huyệt" là chiến trường Tây Nguyên. Và kết quả th́ như các sách lịch sử đă ghi lại đầy đủ.

 

Trong những tháng cuối cùng của cuộc tổng tấn công, tin tức từ lưới điệp báo A3 chuyển về dày đặc. Từ trung tâm chỉ huy của quân đội Sài G̣n, những tập tài liệu về quy chế thiết lập đồn bốt; duy tŕ các giang đoàn để cản hướng tấn công đường thuỷ; quân số của quân đội Sài G̣n hay phương án sử dụng lực lượng hải quân sẽ như thế nào… đều nhanh chóng bay ra Hà Nội.

 

Trong những ngày căng thẳng nhất, thư của văn pḥng tuỳ viên quân sự Mỹ (DAO)

Buôn Ma Thuột, ngày 11-3-1975. Trận đánh mở màn cho cúđiểm "tửhuyệt" Tây Nguyên, là kết quả tínhtoán thận trọng và táo báo của những nhà lănh đạo Việt Nam. Ảnh: Sách "Việt Nam 30 năm chiến tranh giải phóng" - Nhà xuất bản thông tin 2004

gửi BTTM chế độ cũ về kế hoạch sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ, hay việc người Mỹ trả lời về việc Mỹ không thể đáp ứng đề nghị của VNCH trong việc cho các oanh tạc cơ tham gia can thiệp khi ta giải phóng hoàn toàn Phước Long (tháng 12-1974), những tài liệu mật liên quan đến việc hướng dẫn phân ô của Bộ Tư lệnh cảnh sát quốc gia (chia ô để kiểm soát, theo kế hoạch “lấn đất giành dân” - NV); việc BTTM quân đội Sài G̣n đánh giá về lực lư ợng và lănh thổ cho tới báo cáo của an ninh quân đội về t́nh h́nh đảng phái, tôn giáo ở miền Nam, hay quan hệ VNCH – Campuchia… đều đă có mặt tại Hà Nội.

 

Một chi tiết nữa của lịch sử: Chính quyền Sài G̣n trong những ngày cuối cùng, đă bắt đầu dự trù phương án bỏ Sài G̣n, rút về miền Tây “tử thủ”, đánh lâu dài.

 

Nhưng họ không biết rằng: kế hoạch nâng cao quân số cho các sư đoàn bộ binh ở vùng 4 chiến thuật, hay việc tăng cường lực lượng cho lực lượng đặc biệt, hoặc việc tăng cường biệt động quân, thuỷ quân lục chiến cho các quân khu, kế hoạch yểm trợ không quân… đều đă bị Hà Nội nắm rơ.

 

Với những chiến lược chiến tranh, không thể thay đổi trong ngàymột ngày hai. Cho nên thật khó để việc quân giải phóng tiến vào Sài G̣n không thành công, khi tất cả những suy tính của Bộ Tổng tư lệnh quân đội Sài G̣n, kể cả người có quyền chỉ huy cao nhất, đă bị Hà Nội “đọc” quá rơ như trong ḷng bàn tay ḿnh có bao nhiêu đường kẻ.

 

Vấn đề c̣n lại, chỉ phụ thuộc vào những đoàn quân với khí thể hừng hực hành quân như vũ băo trên mọi nẻo đường tiến về Sài G̣n mất bao nhiêu thời gian.

 

Đến giữa tháng 4-1975, khi quân giải phóng áp sát Xuân Lộc, cửa ngơ phía Bắc Sài G̣n, H3 đă hoàn thành xong sứ mệnh mà ông theo đuổi: Góp chút sức ḿnh cho cách mạng, thống nhất đất nước.

 

Ông lặng lẽ ẩn ḿnh, lưới điệp báo A3 ngưng liên lạc. Việc duy nhất cuối cùng c̣n phải làm chỉ là bảo vệ trọn vẹn hồ sơ tài liệu, chờ đợi ngày toàn thắng.

 

Huân chương chiến công sau 10 tháng hết ḿnh

 

Khối lượng tài liệu H3 chuyển về trong gần 2 năm rất lớn. Đặc biệt, tin tức, tài liệu phần lớn ở dạng nguyên bản chính xác của cơ quan cấp rất cao của cả Mỹ và VNCH.

 

Đại tá T.T thống kê, bắt đầu từ tháng 2-1974 tới cuối năm 1974 (trừcác tháng 7, 8, 9), H3 chuyển được 90 bản tài liệu. "Mỗi bản tài liệu th́ số lượng khổng lồ, đánh máy rất nhiều, những năm đó, tin tức, tài liệu của H3 chuyển ra ào ạt, xử lư nhiều khi không kịp".

 

V́ thế, chỉ chưa đầy 10 tháng chuyển tài liệu trong năm 1974, H3 được xét tặng Huân chương chiến công Hạng 3 v́ những thành tích của ḿnh, mặc dù ông chỉ được nhận huân chương bằng thông báo... miệng qua người trực tiếp chỉ huy là bà Hai Kim.

 

Đến giờ, Ba Minh vẫn cười khi nhớ lại quăng thời gian ông cung cấp thông tin t́nh báo về: "Đó là quăng thời gian tôi làm việc đến... chết bỏ. Cố gắng lấy được càng nhiều càng tốt. V́ tôi biết tôi đang nằm trên 1 mỏ vàng. Kể cả thư Mỹ gửi cho tướng lĩnh cao cấp của BTTM chế độ cũ, tôi chép nguyên xi cả bản tiếng Anh rồi gửi ra ngoài đó".

 

Ít ai hay, để chuẩn bị tinh thần cho những ngày nhọc nhằn nhất của ḿnh, ngay từ khi chưa bắt được vào lưới bà Hai Kim, ông Ba Minh đă dành riêng 1 năm học tiếng Anh trước đó.

 

Làm việc quần quật, “tống hết cả sức đi” như cách Ba Minh nói, chỉ sau ngày Sài G̣n giải phóng ít lâu, ông phải nhập viện v́... kiệt sức.

 

Thiếu tướng Sáu Trí, Trưởng pḥng t́nh báo J22, ghi lại những ḍng tưởng thưởng về người đồng đội ẩn danh H.3: "Anh đă lấy tin, tài liệu về các pḥng hành quân (BTTM); tin tức, tài liệu giá trị lâu dài như kế hoạch Lư Thường Kiệt; về lực lượng đặc biệt. Âm mưu và thủ đoạn b́nh định của địch. T́nh h́nh quân số, bố trí quân (chủ lực và địa phương). Có những tin định kỳ quan trọng như biệt kích đổ bộ; tàu lặn, tinh thần quân đội Sài G̣n ở Quân khu 1 sau chiến dịch Quảng Trị của ta...

 

Chất lượng công tác của H3 đáp ứng đúng yêu cầu của lănh đạo trong giai đoạn then chốt của cuộc chiến tranh: Ta cần hiểu sâu về địch để giành toàn thắng”.

 

Theo VietNamNet

 

 

Kỳ 6: Anh lính Việt sống bằng giờ của... Mỹ

 

Lịch sử có thể sẽ phải nhắc tới 1 người lần đầu tiên tạo ra lịch mới: Một tuần chỉ có 4 ngày. Rồi một ngày lại bị đảo ngược thời gian, đêm là lúc để sống, ngày là lúc để quên. Đó là quăng thời gian H3 làm việc quên ḿnh để chuyển tin về tổ chức...

 

H.3 đă sống đúng kiểu giờ Mỹ: Đêm là lúc để sống, ngày là lúc để quên, trong suốt gần 2 năm cuối của cuộc chiến, ngay tại Việt Nam. Ảnh: Hà Trường

Tính theo ṿng xoay của trái đất, một tuần có 7 ngày. Nhưng một ngày lại có hai miền sáng tối ở hai nửa bán cầu. Mỹ - Việt cách nhau đúng 12 tiếng. Nếu sống theo giờ Mỹ ban ngày th́ có nghĩa là phải thức trắng đêm ở Việt
Nam.

  

Lịch sử có thể sẽ phải nhắc tới 1 người lần đầu tiên tạo ra lịch mới: Một tuần chỉ có 4 ngày. Rồi một ngày lại bị đảo ngược thời gian, đêm là lúc để sống, ngày là lúc để quên.

 

Người định nghĩa: “Một tuần chỉ có 4 đêm”

 

Trong BTTM Sài G̣n có “rất nhiều con em tướng tá được nhét vô đây để tránh cầm súng ra trận, tụi tôi gọi là "lính kiểng"”. Thế nên, riêng khoản chơi bời th́ đêm không bao giờ là đủ. Nhưng làm lính gác th́ phải trực, mà trực th́ nghỉ chơi. Thấy Ba Minh chẳng ham ǵ danh vọng, chỉ lầm lũi đi làm kiếm tiền nuôi con, những “chiến hữu” của ông thường xuyên nhờ trực giúp. Và Ba Minh chưa từ chối một lần.

 

"Tụi tôi có 4 thằng, chia nhau trực 4 đêm. Nhưng tôi thường làm hộ một nửa. Cứ 4 đêm th́ tôi làm việc mất 3 đêm rưỡi. 2 đêm chép tại nơi làm việc, 1 đêm chép tại nhà. Đêm thứ 4 tôi chỉ chép đến 9-10 giờ là ngủ, bù lại 3 đêm kia. Khi tôi chép ở nhà, vợ tôi canh chừng. Có thời kỳ tôi làm đêm nhiều, ban ngày tôi chỉ lờ đờ thôi nên nhiều cái nhanh quên lắm", Ba Minh nhớ lại giai đoạn làm việc quên ḿnh khi đă t́m về đúng tổ chức, dù chưa bao giờ ông là người khoẻ mạnh.

 

Với một tập giấy pơ-luya dày bằng bao thuốc lá, ông có thể chép 30 trang tài liệu. Cách chép rất giản đơn: "Tôi chép bằng chữ ’’con lăng quăng’’ bé xíu và viết tắt. Cái nào tôi quan tâm mà bà Hai Kim cần, tôi để riêng nó ra trước khi lưu hồ sơ để tối chép. Có những tập kế hoạch quân sự hàng năm phải thay đổi, cũng có khi phải chép nguyên quyển sách dày 300-400 trang, mà tôi bảo đảm không chép sai con số nào".

 

Ông đă sống đúng kiểu giờ Mỹ liên tục trong suốt hai năm cuối cùng của cuộc chiến, ngay tại Việt Nam.

 

Kẻ nghiện số đề có đôi tai t́nh báo

 

Dưới vỏ bọc của 1 kẻ nghiện số đề nặng, Ba Minh luôn kè kè cuốn sổ tính toán bên người. “Cả ngày lẫn đêm, ai bất chợt vô cũng thấy tôi đang nghiên cứu số đề".

 

Để không bị ai để ư, khi ở văn pḥng, "tôi thường để đèn cả ngày lẫn đêm. Có thời gian nó bắt tiết kiệm điện, đến giờ là tắt hết, nhưng riêng pḥng tôi th́ luôn để nguyên điện cho nó không để ư", Ba Minh kể. V́ thế, chẳng ai lấy làm lạ khi thấy pḥng của kẻ yêu đề đóm quanh năm sáng đèn.

 

Tuy vậy, công việc không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. "Tôi làm việc ban đêm, pḥng có cửa sổ dài hai thước, đi từ ngoài cổng 1 vô cách cây số đă nh́n thấy ánh đèn, mà cửa sổ ngày đêm không đóng, mưa không tạt, gió không lùa. Cứ đến đêm trực, tôi lại để cái giường xếp đằng sau bàn làm việc, 9 giờ - 9 rưỡi đă mắc mùng rồi. Tối thiểu từ 10 giờ trở đi tôi mới giở hồ sơ ra chép".

 

Ba Minh cứ chép liền tù t́ như vậy đến 4-5 giờ sáng. Khi ngồi chép, ông chốt cửa pḥng, cẩnthận móc thêm khoá. Tay viết, mắt nh́n tài liệu nhưng tai vẫn phải lắng nghe để phân biệt tiếng giày, tiếng dép đi. Giày của người chuyển công văn khác, giày của an ninh khác, giày của quân cảnh khác, thậm chí tiếng giày của đồng nghiệp trực chung đêm như lái xe, thượng sĩ quan, sĩ quan cùng trực đều phải lắng nghe rơ.

 

"Cứ nghe tiếng động là phải xếp hồ sơ đang chép vào trong b́a, sau đó mới

Đôi tai này luôn lắng nghe mọi âm thanh dù nhỏ nhất để đề pḥng bất trắc, ghi nhận mọi thông tin có thể "lấy sức ít mà đánh được nhiều" để chuyển ra tổ chức... Ảnh: Thế Vinh

nhè nhẹ đi dép cao su ra mở hết các chốt cửa rồi vô giường nằm giở cuốn số đề ra.

 

Tổng cộng trong ṿng 1 năm cũng bị 7,8 lần như vậy. 3,4 lần bị tuỳ phái vô, có lần th́ an ninh, quân cảnh đẩy cửa xông vào, thấy ḿnh đang nghiên cứu số đề nên thôi. Khi nó đi rồi, tôi lại ra chốt cửa vào và chép tiếp", ông nhớ lại.

 

Những bức tin mật

 

Tài liệu mà Ba Minh gửi về thường rất sớm. Ngay từ tháng 2-1974, kế hoạch quân sự năm 1975 đă nằm trên bàn Bộ chỉ huy ở Hà Nội.

 

T2 nhớ lại: "Lúc đó ḿnh đặt ra nhiều vấn đề lắm: Một là, sau khi Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ có quay trở lại không? Hai là, kế hoạch quân sự năm 1974 là ǵ? Ba là, nếu Việt Nam hóa chiến tranh th́ Sài G̣n có bắt đủ quân không? Lúc đó, cũng có một nguồn tin ở quân đoàn 4 cũng trả lời là không thể tới, giỏi lắm là hơn 80%. Phối hợp với tin tức của Ba Minh, ta có thể khẳng định rằng Sài G̣n không thể bắt tới 1 triệu lính được.

 

Thứ 4 nữa là hỏi về việc Mỹ rút quân: Mỹ rút quân th́ để lại phái đoàn quân sự nào? Số lượng bao nhiêu? Phương tiện chiến tranh nữa. Mỹ vẫn nói trên đài, trên báo rằng sẽ tiếp tục viện trợ cho VNCH. Thế nên phải thêm câu hỏi rằng liệu Mỹ có duyệt ngân sách quân sự cho chiến tranh Việt Nam không? Đó là những câu hỏi lớn mà Ba Minh phải trả lời. Trả lời gấp, và phải trả lời rất nhiều lần cho chắc chắn.

 

Thế nhưng, tất cả những ǵ Ba Minh làm được là... c̣n nhiều hơn thế nữa. Ngoài việc cung cấp tài liệu cho những câu hỏi chiến lược trên, Ba Minh c̣n "tiện tay" vớ luôn những tin tức mà ông nghĩ có lợi cho cách mạng. Ví như tin về 1 tay điệp viên đang trú ở cơ quan ḿnh, chỗ tỉnh miền Tây. Đọc xong, ông liền gửi ngay ngoài ra để ḿnh bắt gián điệp.

 

Chưa hết, trên đường về sau một lần nhận tin, bà Hai Kim thấy 1 đoàn xe rồng rắn hơn 70 chiếc, chở đầy lính tráng, kèm theo cả vợ con, giường chiếu không rơ đi đâu. Nghĩ là có việc chuyển quân lớn, trên yêu cầu chị hỏi lại Ba Minh. Giữa ngồn ngộn cả núi hồ sơ quân sự, H3 vẫn nhanh chóng truy ra câu trả lời rơ ràng.

 

Cách làm t́nh báo của anh “ít học

 

Tài liệu chép xong, Ba Minh cho vào trong chiếc áo lính rộng thùng th́nh, nhét trước bụng, lững thững tay cầm cuốn sổ nghiên cứu đề, ra khỏi BTTM đi gặp T2. Cuộc hẹn khi th́ ở quán nước, lúc lại dưới dạng 1 anh lính chạy xe kiếm thêm. H3 gặp T2 dưới mọi h́nh thức có thể, rất nhanh rồi chia tay.

 

Cũng có khi, việc giao tài liệu thông qua H4 lên trại gia binh thăm anh, đồng thời tiếp tế cho mấy đứa cháu. Rồi cậu em cũng kiêm luôn vai tṛ "xe ôm" cho H.4, mặc áo cảnh sát kiểng (cảnh sát áo trắng) chạy ào ào chởH4 đi giao tài liệu cho cách mạng. Tài liệu nhiều, thời gian gấp quá, nhiều hôm chồng H4 cũng được huy động luôn trong 1 vài chuyến lên thăm anh trai vội vă.

 

"Hồi đó anh Ba Minh chỉ lo viết và viết, c̣n tôi chỉ lo chuyển và chuyển mà thôi. Nội dung chính xác đến đâu, dù ḿnh cũng có kiến thức để phân loại tin nào chuyển trước, tin nào chuyển sau, nhưng không đủ để thời gian để nghĩ nữa. Tài liệu của anh th́ nhiều. Giấy pơluya như vậy, anh viết 4 mặt chứ không phải 2 mặt, chữ nhỏ, đến nỗi mà sau một thời gian viết lại, tôi phải mang kiếng luôn", bà Hai Kim nhớ về những ngày chuyển tin như con thoi giữa Sài G̣n và căn cứ.

 

Đến khoảng giữa năm 1974, chỉ để phục vụ mỗi việc chuyển tin của Ba Minh, lưới A3 đă phát triển tới hơn 10 liên lạc viên: trong thành phố, ở cửa ngơ và ngoài căn cứ... đặt dưới quyền chỉ huy của T2.

 

Sau khi nhận tài liệu, bà Hai Kim phải viết lại ngay để kịp chuyển đi. Ra ngoài, tài liệu sẽ được 1 người của ta đọc lại lần nữa. Dẫu vậy, tài liệu nhồi về nhiều đến nỗi, như Hai Kim thuật lại: "Mấy thằng nó la quá trời, v́ quá nhiều thứ phải chuyển. Cứ thấy tài liệu của H3 th́ tức là phải làm việc cả đêm. Có lần, không lấy được tài liệu, tụi nó mừng lắm, v́ hôm nay được đỡ việc. Nhiều khi tôi phải mua thêm dầu để cho tụi nó làm, rồi phải dặn thêm những bà bán dầu rằng ḿnh mua về cho dân quê đi nhà thờ, chứ nếu không, mua nhiều dầu quá th́ sẽ lộ".

 

Về sau, Ba Minh lư giải lư do ḿnh làm việc hăng say như vậy "v́ tôi thấy ḿnh tin đưa ra là có người biết dùng. Trước khi làm với chị Hai Kim, chừng giữa năm 73, có lần tôi báo tin qua 1 chỗ khác là tụi Sài G̣n rút hết lính biệt kích từ vùng 3, vùng 4 chiến thuật ra để tập trung phá đường Hồ Chí Minh, nhưng cũng chẳng ai quan tâm hỏi lại quân số, vị trí... ǵ cả. Nay th́...".

 

Ba Minh bỏ lửng câu nói v́ đột nhiên ông chuyển nghĩ về một điều ǵ đó rất lung. Nhưng câu trả lời th́ được T2 giải thích: "Sau này, Ba Minh cũng tâm sự rất nhiều về công việc, về gia đ́nh. Ảnh nói rằng ảnh tiếc là “đă gặp chị muộn quá”. C̣n tôi cũng tiếc là đă gặp anh chậm quá, chứ sớm hơn th́ chắc...". Nói xong, bà Hai Kim, như không hẹn, cũng ngồi lặng yên nghĩ rất xa về một điều ǵ.

 

Sau này, khi tài liệu đă trở nên quá nhiều, bà Hai Kim đề nghị cấp cho ông 1 chiếc máy ảnh để chụp cho đỡ vất vả. Nhưng Ba Minh đă từ chối ngay, v́ rất đơn giản: "Tui không được học. Lỡ chụp mà tụi đi tuần nó nghe tiếng lạch xạch, hay tự nhiên nó nhá đèn th́ sao? Với lại một anh lính quèn cứ kè kè cái máy ảnh bên người là sao? Thôi để tui chép".

 

Rồi ông c̣n nói thêm, ông không hiểu tin tức, không hiểu nghiệp vụ, việc duy nhất làm được chỉ là "chép và chuyển" th́ ông cứ làm thôi, c̣n sử dụng thế nào là việc của cấp trên.

 

Nói vậy, nhưng về sau, chính cái sự "ít học" khiến ông tiếc măi: "Một ngày tôi nhận được 15-30 mật điện, nếu có máy h́nh chụp tư là được nhưng tôi không có tŕnh độ. Vậy nên không chuyển đi được. Rồi hàng tháng tôi nh́n thấy bản tin của nó, nhưng cũng v́ không có tŕnh độ nên không thể lấy về cho ḿnh dùng".

 

Đôi bàn tay của người đàn ông này đă là một bí mật mà CIA đă muốn t́m hiểu nhiều năm sau cuộc chiến tranh Việt Nam: Ông đă chép và chuyển được những tin tức chiến lược ǵ ra Hà Nội? Ảnh: Hà Trường

Tôi không bán tin

 

Nhưng anh chàng ít học, 1 vợ, 10 con, nghèo ốm thường xuyên đó lại có quan điểm nghề nghiệp rất rành mạch. Ông làm v́ Tổ Quốc. Đất nước bảo sao ông làm vậy, bằng hết sức ḿnh chứ không đ̣i ǵ hơn .

 

Chính người trưởng lưới A3 cũng đă nhoè nước mắt khi nhớ lại câu chuyện này: "Hồi đó lương thượng sĩ nhất không đủ nuôi vợ con, tôi đặt vấn đề để tổ chức mua cho anh cái xe máy. Trước đó, có lần đi ra Thủ Đức thôi mà anh phải đi xe lửa, v́ vé nó rẻ nhất, rẻ hơn cả xe đ̣.

 

Mấy tháng sau, tôi đề nghị anh dùng xe DAM nữ mà đi, giá khoảng 200.000 đồng (tiền Sài G̣n cũ), nhưng ảnh không nhận. Ảnh bảo: lương tôi thấp quá, không thể đi xe 200.000. Anh tự mua xe 67, giá đâu hơn 100.000, tiền dư anh trả lại. Tôi chả biết ǵ, lúc anh đưa th́ tôi cầm về trả tổ chức thôi. Sau, ông Ba Phấn biết chuyện mới la tôi dữ: “Trời ơi, sao cô cầm lại? Để nó cầm cho nó nuôi con chớ”.

 

Măi sau này, tôi đặt lại câu hỏi th́ anh Ba Minh bảo: Tôi không có bán tin. Tôi chỉ làm cách mạng như các anh chị thôi".

 

Nghĩ về những ngày gian khó đó, ông Ba Minh cười: “Hồi anh trai tôi từ chiến khu về, có dạy tôi mấy bài hát. Tôi nhớ nhất bài hát "Mắng Ích Tắc" của ông Lưu Hữu Phước, có đoạn thế này:

 

...Anh nghe chăng, hỡi ai theo mùi phú quư quên non sông,

Hăy nghe đây lời tra huấn muôn năm

Sao nỡ đành đem người ngoại quốc ác tâm

Xâm chiếm quê hương nhà sát tàn ṇi giống

Loài bán nước, loài buôn dân, loài phản quê hương...

 

Giọng run run, nhà t́nh báo anh hùng hơn 70 tuổi bỗng cất tiếng hát.

 

Theo VietNamNet

 

 

Kỳ 7: Người đặt cả gia đ́nh lên bàn mổ

 

 

Cả gia đ́nh Ba Minh: Em gái, em trai, em rể, vợ đă cùng ông “vào trận”, để giúpH.3 hoàn thành nốt tâm nguyện mà người cha, trong những cuộc rượu buồn, vẫn ước mơ: Độc lập cho Tổ quốc… Và, anh em họ sát cánh bên nhau cũng v́ lư do máu mủ: Để bảo vệ, che chở lẫn nhau.

 

Người đồng đội cùng chung ḍng máu

 

Hai anh em Nguyễn Văn Minh (H.3) và Nguyễn Thị Nguyệt. Bà Nguyệt là người mang bí số H.4 trong lưới điệp báo A.3 do T.2 chỉ huy, thuộc Cụm t́nh báo A33. Ảnh: Thế Vinh

Ngôi nhà nơi giađ́nh bà Nguyễn Thị Nguyệt, em gái của Ba Minh, đang sống hiện nay từng là nơi mấy anh em bàn bạc, cất giấu tài liệu, đă được xây lại. Nhưng có một điều đặc biệt, lúc bấy giờ, không ai trong gia đ́nh biết ḿnh đang làm... t́nh báo.

 

... Nguyễn Thị Nguyệt bắt đầu hoạt động từ năm 1960 với sự giới thiệu, đưa vào tổ chức của ông Trần Văn Đạm. Khi mới tham gia, bà Nguyệt chỉ hoạt động binh vận, dân quân. Đến năm 1968, sauchiến dịchMậu Thân, bà Nguyệt và Ba Minh phải tạm thời nằm yên.

 

Những năm tháng hoạt động hiện dần trong trí nhớ của người phụ nữ nhỏ bé, tóc đă điểm những sợi bạc thời gian.... Trong thời gian tạm yên, ông Ba Minh nóng ruột nói với em gái là tin tức ngày càng nhiều. Không thể ngồi yên được, nhất là khi đă ngồi trên “kho vàng’’ tư liệu quư.

 

Hai enh em cứ t́m kiếm, t́m kiếm hoài, mong có một ngày bắt được người của tổ chức.

 

Tính Ba Minh vốn cẩn thận từ nhỏ nên ông giao hết lại việc móc nối cho em gái. Hơn nữa, với b́nh phong là chủ xưởng dệt, bà Nguyệt có nhiều thuận lợi hơn. Không lâu sau, một người đàn ông về gặp bà Nguyệt. Mọi ám hiệu gặp mặt, trao đổi đă được người chị dâu Sáu Chi báo trước. Bà Nguyệt cầm tờ báo cuộn tṛn trên tay đi ra ngă năm Thủ Đức để gặp đầu mối.

 

Theo quy ước, tổng số tên 2 người cộng lại là 10. Ông kia hỏi: ’’Chị Tư đi đâu vậy? Lúc này làm ăn được không?’’. Bà Nguyệt: "Cám ơn chú Sáu, tôi làm ăn được, chú có khoẻ không?’’. Hai cái tên cộng lại rất khớp. Đă nhận ra người cần t́m. Họ vào quán cà phê trao đổi. Lần đầu tiên, chỉ nói chuyện và trao đổi qua loa. Sau đó, cứ quy định gặp nhau, bà Nguyệt lấy tin từ Ba Minh, chuyển cho “ông Sáu’’.

 

Cứ thế, bà Nguyễn Thị Nguyệt vừa làm nghề dệt kiếm tiền nuôi gia đ́nh, vừa vận chuyển tài liệu cho anh Ba Minh.

 

’’Ban đầu tôi cũng sợ lắm chứ, đâu có dám đưa bằng giấy tờ, chỉ học thuộc và truyền tin lại cho ’’ông Sáu’’. Làm một thời gian, anh Ba tôi thấy tin tưởng được nên mới chép. Ghi cái ǵ tôi cũng không biết nữa.’.

 

Điệp viên H.3, Đại tá, anh hùng t́nh báo Nguyễn Văn Minh, người mà đến năm 2006 CIA vẫn thắc mắc t́m hiểu về"điệp viên trong hàng ngũ thân cận của Tổng thống Thiệu", chỉ là một viên thượng sỹ nhất "quèn" trong BTTM chế độ Sài G̣n.

 

Đến bây giờ, khi đă vài chục năm trôi qua, cái cảm giác những ngày đầu đi đưa tin cho anh ḿnh thỉnh thoảng vẫn hổi hổi nóng trở lại trong tâm trí bà khi những ngày 30-4 hàng năm đến. Bao nhiêu nguy hiểm ŕnh rập, nhưng bà vẫn cứ lao vào, chỉ đơn giản một điều: Có lợi cho cách mạng th́ làm, giúp được cho anh ḿnh th́ giúp!

 

Đến năm 1973, khi bà sắp sinh con th́ “ông Sáu’’ bảo nên tạm nghỉ mấy tháng, sau đó ông ấy sẽ bắt liên lạc lại. Nhưng sau đó, tin lại nhiều quá, mặc dù đang mang thai nhưng bà đứng ngồi không yên. Bà lại nói với bà Sáu Chi để nói lại với ông Vũ Đ́nh Liệu để cử người bắt liên lạc.

 

Măi sau này, bà Nguyễn Thị Nguyệt mới nhận thức được sự nguy hiểm trong công việc anh trai ḿnh đang làm. ’’Anh tôi bây giờ như ’’cá nằm trên thớt’’, chỉ cần lộ một nguồn tin nhỏ th́ coi như anh em tụi tôi chết luôn.Cả gia đ́nh chết luôn...’’.

 

Lo cho cách mạng, cũng là lo cho sự an nguy của anh ḿnh, của gia đ́nh ḿnh, bà Nguyệt yêu cầu bà Sáu Chi nói tổ chức đưa người nào có tŕnh độ về “để khi lỡ có bị bắt, người ta có thể chịu đựng không khai”. Sau đó, tổ chức cử người về liên lạc vào cuối năm 1973. Đó là bà Hai Kim (Nguyễn Thị Xuân).

 

Thông thường, bà Hai Kim đến tận nhà Nguyễn Thị Nguyệt lấy tin. Ban đầu, lịch chuyển tin thưa, sau đó dồn dập hơn, một tuần 2 lần. Nguyễn Thị Nguyệt cũng quy ước với Hai Kim về tín hiệu an toàn và nguy hiểm khi giao dịch. Nếu thấy cửa sổ nhà bà Nguyệt cột một sợi dây trắng th́ không được vào v́ trong nhà có động.

 

Ngày ấy, bà Nguyệt thường xuyên vào Khu gia binh trong Bộ Tổng tham mưu Sài

Ba Minh và người em trai Nguyễn Văn Chí. Những ngày H.3 c̣n hoạt động, ông Chí trong bộ đồ cảnh sát "kiểng" là người chạy xe ào ào ngoài đường chuyển tài liệu giúp anh. Ảnh: Hà Trường

G̣n để lấy tin từ Ba Minh. Vỏ bọc là em gái vào tiếp tế thực phẩm, tiền nong cho gia đ́nh anh trai ḿnh. Nhưng đó cũng là nhu cầu tiếp tế thực sự cho cuộc sống gia đ́nh anh trai. Nguyệt vào khu gia binh nhiều đến nỗi lính gác cũng quen mặt.

 

"Thực phẩm vào, tin tức ra"

 

Đến tận bây giờ, khi nghĩ lại, bà Nguyễn Thị Nguyệt vẫn không thể hiểu được tại sao hồi đó ḿnh làm việc được như vậy. Hơn 30 tuổi, vóc dáng nhỏ bé, chỉ nặng gần 40 kư, nhưnggánh nặng nuôi gia đ́nh ḿnh và cả gia đ́nh anh trai c̣n nặng hơn.

 

Hai vợ chồng Nguyễn Thị Nguyệt ngày đêm lăn lộn trong xưởng dệt. Ngày nào cũng quần quật 17-18 tiếng đồng hồ. 8 máy dệt cộng với biết bao mồ hôi của 2 vợ chồng là “hậu phương’’ vững chắc cho Ba Minh yên tâm làm việc.

 

Cứ khi nào cần lấy tin, Nguyệt lại mang tiền, mắm muối, gạo, thịt, cá vào khu gia binh cho gia đ́nh anh trai. Một đàn con, vợ không làm ra tiền, với đồng lương thượng sĩ nhất của ḿnh, cuộc sống của Ba Minh đầy chật vật. “Gia đ́nh có vững th́ mới yên tâm công tác được’’ - Khi ấy, Nguyệt suy nghĩ rất đời thường.

 

’’Anh Ba Minh ngày đó yếu lắm. Ngoài việc chu cấp cho gia đ́nh anh ấy, tiền mỗi lần đưa anh ấy đi khám bác sĩ, tiền thuốc tôi cũng trả. Hồi ấy đi bác sĩ đắt lắm, người dân thường chỉ mua thuốc về uống, chứ mấy ai dám đi khám. Tôi rất lo cho anh Ba Minh về sức khoẻ nên tôi đến nhà đưa anh ấy đi khám bằng được. Tiền lương của anh ấy không đủ cho anh ấy đi bác sĩ, con đi học. Tôi cáng đáng hết...’’.

 

Ngoài truyền thống cách mạng của gia đ́nh, Nguyệt và Ba Minh lôi kéo anh, em, vợ, chồng của ḿnh vào cuộc đều đơn giản một suy nghĩ: ’’Anh em ruột nên mới tin nhau, không thể hại nhau được, người ngoài th́ đâu dám nhờ như vậy...’’.

 

Những người em của H.3 đều nói, nếu không như vậy, họ sẽ không làm v́ nguy hiểm cho anh ḿnh. Công việc khiến tính mạng Ba Minh như cá nằm trên thớt. Mọi người trong gia đ́nh thường xuyên bàn bạc để có cách hoạt động an toàn nhất. Nguyễn Thị Nguyệt nói, tính t́nh Ba Minh cẩn thận, dứt khoát không gặp ai khác, chủ yếu là mấy anh em trong nhà.

 

Vỏ bọc của Nguyễn Văn Chí lúc đó khá tốt. Ông đang đi lính cảnh sát cho chế độ Sài G̣n cũ. Hồi ông c̣n khoác áo ’’bên kia chiến tuyến’’, người em của ông là Nguyễn Văn Dũng hoạt động ở Thủ Đức bị bắt và đày ra Côn Đảo.

 

Khi gia đ́nh nhận được thư của ông Dũng gửi về, bọn chính quyền địa phương và cảnh sát biết nên hay ŕnh ṃ. Cả gia đ́nh bàn với nhau, muốn hoạt động an toàn, bảo vệ tốt cho Ba Minh th́ phải có một người đi lính kiểng (lính không phải ra chiến trường), thời đó gọi là cảnh sát áo trắng chỉ đi gác công lộ, gác chợ.

 

Gia đ́nh nghĩ cách chạy tiền để cho ông Chí đi lính kiểng. Riêng việc này, Ba Minh đă báo cáo với tổ chức và được đồng ư v́ Chí làm cảnh sát áo trắng, không có hại ǵ nên cho phép Ba Minh sử dụng làm người liên lạc. Nguyễn Văn Chí có xe máy, lại mặc đồ cảnh sát chính quyền Sài G̣n nên rất thuận lợi cho việc chuyển tin.

 

Cứ theo quy ước, đến ngày chuyển tin, Nguyễn Thị Nguyệt vào tận nhà Ba Minh ở Khu gia binh (Bộ Tổng tham mưu) lấy tin. Bà Nguyệt khi đó vốn không biết đi xe gắn máy nên chồng hoặc anh trai thường xuyên chở đi. Với vỏ bọc “trách nhiệm gia đ́nh’’, tiếp tế cho “ông anh’’ làm hạ sĩ quan nghèo khó, chồng bà Nguyệt và ông Chí thay nhau chở Nguyễn Thị Nguyệt vào khu gia binh đưa thực phẩm và lấy tài liệu.

Vợ của Ba Minh, bà Đinh Thị Nữ đă cùng chồng "lâm trận", là người cảnh giới choH.3 ngồi chép tại liệu tại nhà ở ngaytrong trại gia binh Bộ tổng tham mưu chế độ cũ. Ảnh: Thế Vinh

 

"Lưới gia đ́nh"

 

Nhiều hôm, Nguyễn Thị Nguyệt đau ốm hoặc bận việc buôn bán, gia đ́nh không thể vào lấy tin, đích thân ông Nguyễn Văn Chí mang đồ tiếp tế vào và lấy tin ra, chuyển cho Nguyệt để chờ Hai Kim mang ra cứ. Khi cả 3 “liên lạc’’ của Ba Minh đều bận, người chuyển tin là vợ ông, bà Đinh Thị Nữ với vỏ bọc về thăm anh em nhà chồng.

 

Bà Đinh Thị Nữ vốn chỉ biết... đẻ cho chồng những đứa con và nội trợ, không hiểu được công việc của chồng. Một lần chuyển tin, hai lần chuyển tin bà không nghi ngờ ǵ. Nhưng đến lần thứ ba, thứ tư th́ bà hiểu được công việc nguy hiểm mà chồng và các em chồng ḿnh đang làm.

 

Bà vẫn hoàn thành việc chồng giao đơn giản với trách nhiệm của người vợ. Rồi sau đó, đêm đêm, trong căn hộ tập thể chật chội ở khu gia binh, bà Nữ cần mẫn ngồi canh cửa, canh tiếng động cho chồng chép tài liệu.

 

Ba Minh đă sử dụng “lưới gia đ́nh’’ khép kín để đảm bảo an toàn cho vai tṛ một điệp viên, cho lưới t́nh báo của ḿnh đến tận ngày 30-4-1975.

 

Những “liên lạc’’ trong gia đ́nh Ba Minh không ai biết nội dung thông tin ḿnh đang vận chuyển quan trọng như thế nào đối với cách mạng. Chỉ biết làm, có lợi cho cách mạng là làm. Cả “anh lính Sài G̣n’’ Nguyễn Văn Chí, vợ chồng Nguyễn Thị Nguyệt và vợ Ba Minh đều ngấm ngầm hiểu được, chỉ cần sơ sẩy, cả gia đ́nh sẽ tiêu tan...

 

’’Anh tôi, chồng tôi chở tôi đi lấy tin từ anh Ba Minh, nhưng tôi luôn là người giữ tài liệu. V́ nếu có bị bắt, tôi sẽ đứng ra chịu hết, không ai bị dính líu...’’ - Trong con người Nguyễn Thị Nguyệt c̣n có thêm một phẩm chất anh hùng, anh hùng ngay cả với những người ruột thịt của ḿnh...

 

"Đặt cả gia đ́nh bàn mổ!"

 

Ngày 30-4-1975, một ngày không thể quên đối với những người trong gia đ́nh Ba Minh. Khi đó, Ba Minh đang tiếp tục làm nhiệm vụ bảo quản tài liệu, hồ sơ trong Bộ tổng tham mưu c̣n Nguyễn Thị Nguyệt đang ở tại nhà. Bà Nguyệt cùng ông Trần Văn Đạm nghe thông tin chiến thắng qua radio. Khi quân giải phóng cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, chế độ Sài G̣n sụp đổ, bà mừng đễn nỗi... nhảy tưng tưng như trẻ con.

 

Hết chiến tranh, người đồng đội, người anh thân thương của Nguyệt sẽ trở về. Cô đă mua sẵn một cái nhà dành cho gia đ́nh anh ḿnh. Thương anh, chu cấp cho gia đ́nh anh trong chiến tranh chưa đủ, bản tính lo xa của người buôn bán thôi thúc cô dành dụm măi được 610 ngàn đồng mua nhà cho anh. Nguyệt bảo, đơn giản một điều, cô không bao giờ nghĩ hoà b́nh lập lại, anh cô sẽ chờ hưởng “đền bù’’ của đất nước. Cô hiểu hơn ai hết tính cách khí khái của anh ḿnh.

 

Giờ đây, H.3 đă 73 tuổi, sức nặng của bệnh tật đeo bám cả cuộc đời khiến ông không c̣n nhanh nhẹn, tinh tường. Chỉ có nụ cười luôn thân thiện với hàm răng đă rụng khá nhiều. Đôi bàn tay gầy guộc, nhăn nheo run run lật lại những hồi ức của quá khứ .

 

’’Làm công việc này là đặt gia đ́nh lên bàn mổ!’’ - một đồng đội của ông đă nói hộ những tâm sự thời ấy của vị Đại tá t́nh báo như vậy. Gia đ́nh ông bị chính ông “đặt lên bàn mổ’’ như thế nào?

Ba anh em: Nguyễn Văn Minh (H.3), Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Thị Nguyệt (H.4) đă thực hiện xuất sắc tâm nguyện của người cha về một đất nước hoàn toàn độc lập. Ảnh: Thế Vinh

 

Để tạo vỏ bọc tốt, Ba Minh đă chuyển cả gia đ́nh vào sống trong khu gia binh Bộ tổng tham mưu. Gần 10 con người sống trong căn nhà bé nhỏ. Đồng lương thượng sĩ nhất 3.000 đồng không nuôi nổi gia đ́nh. Ông lôi các thành viên trong gia đ́nh vào cuộc với ḿnh.

 

Và giữa Sài G̣n hoa lệ nhưng đầy hiểm nguy, không phải lúc nào những “mạng lưới gia đ́nh’’ của H.3 cũng trong t́nh cảnh an toàn.

 

Từ bé sinh ra đă c̣i cọc và lao động nặng nhọc, đến lúc làm trong Bộ tổng tham mưu chế độ Sài G̣n, phải thức đêm để chép tài liệu, sức khoẻ Ba Minh ngày càng yếu đi. Ba Minh đau ốm suốt ngày. Đi khám, bác sĩ cũng không t́m ra bệnh, mặc dù ông biết ḿnh bị chủ yếu ở bộ phận tiêu hoá.

 

Bác sĩ chữa đủ mọi cách vẫn không được mới khuyên ông mỗi bữa cơm nên uống một ly nhỏ rượu Tây để làm ấm đường tiêu hoá, đỡ đau bụng. Từ đó, ông mới đỡ hơn. Nhưng ông không để ư ǵ đến sức khoẻ ḿnh.

 

Ông đă cùng gia đ́nh đi qua 1 quăng đường dài nhiều hiểm nguy luôn ŕnh rập. Cả gia đ́nh đều biết đang làm việc cực kỳ nguy hiểm. H.4 c̣n nhớ, vào thời điểm “lưới gia đ́nh’’ đang hoạt động hiệu quả nhất, có một người láng giềng tự nhiên nói với H.4: ’’Tôi thấy có cảnh sát đến hỏi tôi biết nhà cô Nguyệt ở đâu không? Không biết họ có t́m vào nhà cô không?’’. Mặc dù vốn cẩn thận, nhưng từ đó cả gia đ́nh H4 đă đề pḥng, cảnh giác hơn. ’’Nhưng vẫn lo, v́ ở đời đâu biết được chuyện ǵ sẽ xảy ra với ḿnh. Khi đó, chúng tôi cũng suy nghĩ nhiều...’’ - H4 nhớ.

 

… Đến bây giờ, đă mấy chục năm không c̣n tiếng súng chiến tranh, bà Nguyễn Thị Nguyệt vẫn không thể quên những giấc mơ ngày xưa. Hồi đó, đêm đêm bà nằm mơ thấy bà và Ba Minh bị bắt, rồi nắm tay nhau lẩn trốn.

 

Những người đồng đội một thời của H4 đều có chung một nhận xét, Ba Minh là người giản dị, cẩn thận và khí khái. Ông làm tất cả cho cách mạng, nhận rất nhiều hiểm nguy nhưng không muốn nhận về bất cứ thứ vật chất nào.

 

’’Tôi đi làm vậy tức là đặt vợ con lên bàn mổ!’’ - Đó là lời của một đồng đội dẫn lại lời về Ba Minh. Bây giờ ông không thể nhớ ḿnh đă nói câu này khi nào, ở đâu, với ai. Nhưng những câu chuyện của ông, của gia đ́nh ông đă minh chứng điều đó.

 

Trước câu hỏi: ’’V́ sao cả gia đ́nh lại chấp nhận làm một việc khó khăn và nguy hiểm như vậy?’’, những giao liên thầm lặng cho H3 thổ lộ như một lẽ tự nhiên: ’’Ba tôi là người mang tư tưởng cách mạng, thường xuyên nói chuyện với con cái về chuyện này. Gia đ́nh tôi lúc nào cũng nghĩ phải làm ǵ cho đất nước. Làm việc v́ một mục đích cao nhất là đánh đuổi Mỹ, để đất nước hoà b́nh...!’’.

 

Theo VietNamNet

 

 

Kỳ cuối: Điều tiếc nuối của thủ trưởng Hai Kim

 

            Như rất, rất nhiều phụ nữ Việt Nam tham gia cách mạng trong chiến tranh, người vợ, người mẹ trẻ Nguyễn Thị Xuân ’’gói’’ hạnh phúc riêng tư lại. Chiến tranh là chia ly, thậm chí là mất mát, mà cuộc đời đại uư t́nh báo Hai Kim chỉ là một trong nhiều ví dụ.

           

           

Cô sinh viên Nguyễn Thị Xuân những năm tháng c̣n học ĐH Sư phạm tại miền Bắc. Ảnh: Tư liệu gia đ́nh

Tôi giờ đă quên nhiều rồi, muốn hỏi ǵ th́ phải t́m chị Hai Kim”. Lúc nào ông Ba Minh cũng nói về người đồng đội đặc biệt của ḿnh như vậy. Đến ngay cả bây giờ, ông vẫn luôn một điều “chị”, hai điều “chị” khi nhớ về người phụ nữ thông minh ngay từ lần đầu gặp gỡ. Và niềm kính trọng của ông c̣n nhân lên gấp bội khi đến măi sau khi hoà b́nh, ông mới hay: Chị là thủ trưởng!

 

Những bước chân trở về

 

... Năm 1966, Nguyễn Thị Xuân đang là cô sinh viên ĐHSP ngành Hoá lư. Khi đó, các trường ĐH đang tuyển chọn người đi B. Xuân nghĩ, tŕnh độ th́ ḿnh đạt được, nhưng sức khoẻ th́ kém v́ cô chỉ nặng có 38,5kg, 42kg mới đủ tiêu chuẩn. Rất nhiều lần làm đơn xin đi B không được. Trong khi đó, chị lại là người Nam, tập kết ra Bắc. Tháng 8-1966, học xong chị được giữ lại trường.

 

Tháng 3-1967, Pḥng t́nh báo Miền có nhu cầu t́m người hoạt động tại chiến trường miền Nam. Một cán bộ của pḥng về trường Hai Kim tuyển người. Hôm ấy, trưởng pḥng của Hai Kim đi vắng, chị phải tiếp khách thay. Cách nói chuyện, tác phong cùng với thông tin 6 lần chị xin đi B không được đă gây bất ngờ cho cán bộ nọ. Chị ’’thuyết phục’’ người này một cách tự nhiên, không mảy may suy nghĩ ḿnh sẽ được lựa chọn.

 

Cuối cùng, Nguyễn Thị Xuân đă được toại nguyện. Sau 1 thời gian đào tạo về nghề nghiệp, ngày 1-4-1967, Nguyễn Thị Xuân lên đường về Nam, với bí danh Hai Kim.

 

Vượt vỹ tuyến 17 tại Quảng Trị, theo con đường hợp pháp, Hai Kim tới Huế. Trong vai đi t́m người thân đi lính tại Huế nhưng không gặp, Hai Kim ra Phú Bài mua vé máy bay vào Sài G̣n.

 

Tuy nhiên, khi đặt chân tới mảnh đất này, Hai Kim bị mất liên lạc, dù đă tới địa điểm hẹn chính lẫn địa điểm dự pḥng đúng hẹn.

 

Vậy là suốt thời gian sau đó, chị phải tự ḿnh t́m cách tồn tại giữa Sài G̣n đầy rẫy mật vụ, an ninh giăng lưới nhện dày đặc. Hai Kim phải đi ở đợ cho 1 gia đ́nh người Hoa để lấy tiền trang trải cuộc sống, chờ cơ hội bắt liên lạc với tổ chức.

 

Rối cơ hội cũng tới, sau 1 thời gian người có thể liên lạc với căn cứ thử thách, chị được “móc” về R (căn cứ), sau đó nhận nhiệm vụ xuống bổ sung cho Cụm A33 ở miền Tây.

 

Sau đó, ông Ba Phấn (Nguyễn Văn Phấn, Cụm trưởng Cụm t́nh báo A33, ở Cần Thơ) yêu cầu bà đi móc nối với anh Nguyễn Văn Minh (Ba Minh), em rể của chị Sáu Chi, là y sĩ của quân khu 9.

 

Hai Kim đến với anh em nhà Ba Minh vào năm cuối 1973, xây dựng lên lưới điệp báo A3 đă nói ở trên. Chỉ trong 1 năm hoạt động, với những thành tích xuất sắc,cả H3 và T2 đều được cấp trên xét tặng Huân chương chiến công hạng 3.

 

Tháng 4-2007, bà Hai Kim lại có thời gian ngồi kể lại những phút giây hiểm nguy đă qua trong khi quăng đời hoạt động của ḿnh. Những năm , dù được tổ chức cấp tiền nhưng bà vẫn tiết kiệm tiền nhà nước, di chuyển bằng xe buưt cho… rẻ. Suốt thời gian chuyển tài liệu, bà thường xuyên đi xe buưt.

 

Lúc từ cứ đi vào thành th́ nó không xét, lúc mang tài liệu từ thành vô cứ th́ nó hay xét. Những chỉ thị cấp trên giao cho lưới, chỉ nhớ trong đầu chứ không ghi ra giấy”, bà nhớ lại.

 

Mỗi lần vận chuyển tài liệu, bà thường mang tới 4-5 tờ giấy pơluya. Mang tài liệu trong người, “nhiều lúc cũng run”. Trên đường ra khỏi nội thành có nhiều trạm kiểm soát, Hai Kim luôn cố gắng tránh những trạm xét gắt gao và bằng mọi cách vượt qua.

 

Chỉ có 2 lần, Hai Kim bị giữ với cùng 1 tội. Năm 1968, bà bị bắt ở gần sông Sài G̣n v́ cư trú bất hợp pháp. Cảnh sát bắt bà đưa vào khám (trại giam), phạt 200 đồng. “Lần đầu vi phạm, nó trả lại căn cước”, bà cười.

 

Lần sau, cũng bởi tội “cư trú bất hợp pháp”, bà bị thu giữ giấy tờ, phải về tận miền Tây xin lại. Đóng 200 đồng tiền phạt, bà khai mù chữ, chỉ biết điểm chỉ vào giấy nhận.

 

Khi nghe bà kể lại chuyện này, Cụm trưởng Ba Phấn phải ph́ cười: “Nh́n cái mặt cô bảo không biết chữ, ai tin cho nổi ”. Vậy là rốt cuộc, trong quăng thời gian hoạt động, mà mất 400 đồng tiền “phí” lót tay.

 

Những ngày tháng 4 này, bà lại ngồi nhớ về kỷ niệm ngày 30-4-1975. Đúng thời khắc lịch sử đó, bà mở cả đài Sài G̣n, đài Hà Nội để nghe thông tin.

 

Trên đài Sài G̣n, tướng Ngô Quang Trưởng kêu gọi tử thủ, khẳng định đă có mặt trận tiền phương ở Phan Rang, Phan Thiết, kêu gọi bảo vệ thủ đô Sài G̣n, kêu gọi hoà hợp dân tộc. Cũng trên đài Sài G̣n, sáng 30-4, tướng Nguyễn Hữu Hạnh thay tướng Cao Văn Viên, kêu gọi binh lính sẵn sàng chờ lệnh Tổng thống”.

 

C̣n đài Hà Nội đưa tin, quân giải phóng tiến tới đầu Sài G̣n, sắp giải phóng!

Thủ trưởng Hai Kim và Ba Minh trong buổi gặp mặt truyền thống hằng năm của Đoàn 22 (t́nh báo miền Nam) gần đây nhất: Ngày 28-4-2007. Ảnh: Thế Vinh

 

Khi đó, bà ngồi trong nhà cơ sở ngay nội ô, chờ đến chiều 30-4, chạy đi t́m Ba Minh ở khu gia binh. Trước đó, hai người đă căn dặn cách để bảo vệ nhau...

 

Một ḿnh, ngồi bên nào cũng lệch…

 

Cả cuộc đời cách mạng, bà chứng kiến nhiều nỗi đau, mất mát. Bà kể lại, ngay cả thời c̣n hoạt động, vợ chồng cách nhau không xa nhưng sống bên nhau chẳng được bao nhiêu. V́ nhiệm vụ, v́ yêu cầu của tổ chức, v́ bí mật của nghề t́nh báo.

 

Như rất, rất nhiều phụ nữ Việt Nam tham gia cách mạng trong chiến tranh, người vợ, người mẹ trẻ Nguyễn Thị Xuân ’’gói’’ hạnh phúc riêng tư lại. Bí số T2 dành tất cả nhiệt huyết cho nhiệm vụ tổ trưởng t́nh báo trong lưới A3, trực tiếp chỉ huy H3.

 

Chiến tranh là chia ly, thậm chí là mất mát, mà cuộc đời đại uư t́nh báo Hai Kim chỉ là một trong nhiều ví dụ.

 

Với cuộc đời Hai Kim, hạnh phúc riêng tư như làn gió thoảng, chỉ ghé qua cuộc đời bà một thời gian ngắn rồi vội vă ra đi. Cả cuộc đời hoạt động qua nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều thành công, nhưng số phận riêng đă không mỉm cười với bà.

 

Tháng 4-2007, trong một ngôi nhà bé tẹo nép ḿnh sâu trong ngơ nhỏ giữa TP.HCM ồn ă, bà Hai Kim đang sống cùng người cháu, nên lúc nào bà cũng thấy căn nhà rộng thênh thang. Trên bàn thờ, ngoài ảnh Bác Hồ, ảnh cha mẹ, c̣n có một tấm ảnh chồng bà: ông Trang Văn Tỏ. Ông đă bỏ bà đi đă mấy chục năm rồi.

 

Thời chiến, số bữa cơm ăn hai vợ chồng ăn với nhau chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thời b́nh, một ḿnh một mâm cơm, bà ngồi bên nào cũng lệch…

 

... Năm 1951, trong một lần đi công tác, hai ông bà gặp nhau rồi quen nhau trong chiến khu. Họ có cảm t́nh rồi được tổ chức hỏi cưới giữa rừng. Bà nhớ hồi đó, ông thương bà, có viết thư mà không dám gởi. Sau được đơn vị gợi ư, giúp đỡ, đặt vấn đề cho 2 người, th́ Tỏ mới dám đưa thư cho Xuân coi.

 

Bà cười nhẹ nhàng: ’’Hồi đó hổng dám nói yêu anh, yêu em ǵ, mà chỉ nói đại khái đi công tác thấy quen, thấy nhớ, viết thơ thăm hỏi. Hẹn nhau khi nào chuyển qua công tác th́ đến các xă chơi...’’.

 

Đám cưới được tổ chức trên rừng, có cắt giấy làm hoa, uống nước suối, ăn bánh kẹo. Ngày cưới không có áo cô dâu, chỉ có bộ bà ba đen đưa Xuân... ’’về nhà chồng’’. Đó là quăng thời gian hạnh phúc nhất cuộc đời bà.

 

Đến tháng 7-1952, khi Xuân đang mang thai th́ chồng bị bắt tại huyện Cần Giờ. Tháng 10-1952, Xuân sinh con. Đến tháng 7-1954, tất cả quân dân chánh từ cấp huyện trở lên đều phải đi tập kết ra Bắc.Vợ chồng chia ly.

 

“Mấy ai ngoái nh́n đếm bước chân ḿnh đă qua..”

 

Mặc dù,một trong những nguyện vọng để trở về Nam của Xuân là có thể được gặp lại gia đ́nh sau 13 năm xa cách, mong được ôm con vào ḷng, kể cho chồng nghe những câu chuyện xảy ra trong khoảng thời gian chia xa đằng đẵng, nhưng Xuân vẫn phải nén ḷng lại v́ yêu cầu nhiệm vụ:

 

Giờ đây, một ḿnh ở trong căn nhà tuy nhỏ, nhưng lúc nào cũng trở nên quá rộng đối với bà. Hằng ngày, một ḿnh một mâm cơm, bà ngồi bên nào cũng lệch. Ảnh: Hà Trường

            Không được bắt liên lạc với gia đ́nh.

 

Về Nam năm 1967, trong khoảng thời gian chờ đợi bắt liên lạc với tổ chức, Hai Kim thuê nhà ở Sài G̣n, chỉ cách nơi ở của gia đ́nh có… 15km, nhưng không thể ghé thăm.

 

Rồi nhiệm vụ cuốn Hai Kim đi, mải miết. Giải phóng rồi, người phụ nữ này về t́m lại gia đ́nh, mong thấy chồng, gặp con. Tưởng đâu sẽ lại có những tháng ngày hạnh phúc. Nhưng tới lúc đó, bà mới hay, núm ruột của mẹ Xuân đă mất khi vừa được 8 tuổi. Chồng chị cũng đă hy sinh năm 1966. Từ đó đến nay, Hai Kim ở vậy, 1 ḿnh…

 

“Bây giờ hạnh phúc riêng th́ ḿnh không có. Nói về gia đ́nh th́ cô thiệt tḥi, nhưng cái cao quư nhất là ḿnh được độc lập tự do. Có mấy ai đi suốt 1 ngày đường, cuối ngày lại ngoảnh nh́n phía sau, đếm coi ḿnh đă đi mấy bước chân? Hạnh phúc của ḿnh là nh́n tới tương lai. Giờ cô tuy không có con, nhưng có đứa cháu chăm sóc. Hơn nữa, ḍng họ bên chú rất quư cô...’’ - Bà đă tràn nước mắt khi nhắc tới hai từ ’’hạnh phúc’’.

 

Hai Kim chỉ tiếc rằng, có những điều trước khi vượt vỹ tuyến về Nam muốn nói với chồng nhưng bà đă không có cơ hội nói được... Mẹ Xuân cũng chỉ mong lại được ôm đứa con sinh ra ở chiến khu trong ṿng tay ḿnh, ngay Xuân đi chỉ mới gần 2 tuổi, nhưng cũng không kịp nữa. Bà chỉ tiếc vậy thôi.

 

Không ngồi lại với nỗi buồn và tiếc nuối, nay bà Hai Kim t́m sống bằng niềm vui của tuổi già: ’’Với trách nhiệm của một công dân, một cán bộ, bây giờ ḿnh đă làm tṛn trách nhiệm rồi. Tôi cũng vui v́ ḿnh đă đem công sức của ḿnh vào việc làm từ thiện Về quê chồng, thấy quê ḿnh nghèo nên giúp đỡ được cho gia đ́nh, đó là nguồn vui lớn rồi...!’’.

 

Cuộc sống của bà Hai Kim sau giải phóng cứ lặng lẽ trôi. Hoà b́nh, bà chuyển qua Ban Tổ chức Thành uỷ TP.Hồ Chí Minh làm việc. Về hưu, bà được cấp một ngôi nhà bây giờ đang dùng cho thuê. Bà bộc bạch “lương hưu 2,1 triệu, được trợ cấp đặc biệt cho gia đ́nh liệt sĩ không con 600 ngàn, thành 2,7 triệu, cộng thêm 4 triệu tiền cho thuê nhà nữa, cũng đủ sống”.

 

’’Năm nay tôi bằng tuổi bà mẹ đă chết, làm xong mà chết th́ không c̣n điều ǵ ân hận! Mấy thằng em chồng bảo rằng chị phải sống đến trăm tuổi th́ chị mới chết. Nếu chị sống quá trăm tuổi mà không chết th́ tụi em lấy cái cây đập cho chị chết...!’’ - Bà Hai Kim cười vang căn pḥng nhỏ.

 

Khi tiễn khách ra đầu ngơ, bà vẫn níu tay: “À, tôi c̣n một niềm vui nữa chưa kịp nói. Đó là lâu lâu ra đường, có người nói: ’’Bà ơi, cháu thấy bà lên ti vi’’.

 

Đó là lần bà được chọn làm một trong những nhân vật cho phim tài liệu, quay ở chợ Bến Thành.

Người mang bí số T.2 cười thanh thản, trở về ngôi nhà lặng lẽ trong con ngơ nhỏ, giữa Sài G̣n ồn ă, khi ngày 30 tháng Tư lần thứ 32 đang tới, rất gần...

 

Vỹ thanh

 

Có rất nhiều câu hỏi đặt ra: T́nh báo Việt Nam, họ là ai? Bằng cách nào để họ chiến thắng được 1 cỗ máy chiến tranh khổng lồ như Hoa Kỳ, khi đối diện trực tiếp với bộ máy t́nh báo tinh vi, truyền thống lâu đời như CIA.

 

Câu trả lời, có lẽ nên bắt đầu từ những người như Hai Kim, Ba Minh và những người trong gia đ́nh H.3 đă tham gia lưới điệp báo A3 vậy.

 

Mấu chốt đầu tiên của mọi cuộc truy lùng những người trung kiên hoạt động trong

H́nh ảnh này được ghi lại trong ngày 28-4-2007, khi Đoàn 22 tổ chức buổi gặp mặt truyền thống. Ẩn sau nụ cười này, là quá nhiều mất mát đối với cuộc đời 1 người phụ nữ. Nhưng người chỉ huy lưới điệp báo A.3 luôn nhắc rằng: "Có mấy ai đi suốt một ngày đường, cuối ngày lại ngoảnh nh́n phía sau, đếm coi ḿnh đă đi được mấy bước chân?. Hạnh phúc của ḿnh là nh́n tới tương lai". Nay, bà nói rằng bà luôn sống thanh thản, v́ đă hoàn thành nhiệm vụtổ chức giao, hoàn thành nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Ảnh: Thế Vinh

 

Lưới điệp báo A3 trong một lần gặp mặt. Từ trái sang: Ba Minh (H.3), Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Thị Nguyệt (H.4), Hai Kim (T2). Ảnh: Tư liệu gia đ́nh.

ḷng đối phương mà tất cả mọi thế lực, đứng trên góc nh́n của hệ tư tưởng lẫn quyền lợi đều đặt ra: Họ có phải là Đảng viên Đảng cộng sản hay không? Câu trả lời chỉ có 1: Họ là Đảng viên, nhưng đứng vào hàng ngũ từ thời gian nào? Sớm hay muộn, đó không phải là thước đo của ḷng người cộng sản. Thước đo tấm ḷng những người trung kiên, là họ xuất phát từ đâu? Tại sao họ dám chấp nhận hy sinh như vậy?

 

Câu trả lời duy nhất đúng: Họ trước hết là những người yêu nước, không chấp nhận thân phận nô lệ. Đó là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt, ăn vào máu, vào tim. Lư tưởng cộng sản là con đường mà họ chọn, để hướng tới mục tiêu giải phóng đất nước, độc lập dân tộc.

 

Đă từng có những cuộc hội thảo về t́nh báo của nước ngoài được tổ chức ở những chốn sang trọng, với những micro không dây lọc âm được những diễn giả phân tích tuyệt vời, đầy lôi cuốn. Có những tổ chức t́nh báo lớn trên thế giới trang bị cho điệp viên của họ thiết bị phục vụ nghề "ăn cắp" thông tin tối mật. Có những cái tên đă được đánh bóng, lăng xê mà mới nghe qua, không ít người đă phải giật ḿnh kinh sợ.

 

C̣n t́nh báo Việt Nam là ǵ? Những chiến sĩ t́nh báo Việt Nam là ai? Họ không phải là những điệp viên được vẽ trên phim với dáng vẻ rất “khinh đời”: Đầu đội mũ kê-pi, người khoác áo choàng đen, chân giày da bóng lộn, mắt ngập nghè kính râm, tay luôn đút túi quần, tiền th́ tiêu như nước, thi thoảng lại rút súng ngắn trong thắt lưng ra bắn "đoàng... đoàng...".

 

Họ là người dân Việt Nam, lớn lên trong dân, sống nhờ vào dân, chiến đấu trong ḷng dân, và được biết bao người dân xung quanh bảo bọc, chở che. Họ giản dị như trong chính lời tâm sự của Ba Minh: "Sức khoẻ ḿnh như thế nên khả năng tôi đóng góp được cái ǵ tôi sẽ làm. Tôi đă nghĩ đến giả thiết khi ḿnh là lính VNCH thế này, nếu có bị bắn lầm th́ thôi. C̣n đối với cách mạng, tôi chỉ nghĩ tôi góp sức để mà ít có thể đánh được nhiều, yếu có thể đánh được mạnh. Trong thâm tâm tôi nghĩ ḿnh góp được cái ǵ th́ góp, chết th́ bỏ. Đơn giản vậy thôi".

 

T́nh báo Việt Nam được h́nh thành và phát triển từ những con người như vậy. Chỉ có thế, họ mới vượt qua được mọi cám dỗ đời thường, những vinh hoa, phú quư, những nguy hiểm thường nhật để có thể chấp nhận hy sinh cả 1 đại gia đ́nh v́ mục tiêu độc lập cho Tổ quốc.

 

Trong nhà Đại tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nguyễn Văn Minh, ngày c̣n cha, trên bàn thờ có 4 chữ “Quốc Tổ Hùng Vương”. Đến đời ông, bàn thờ vẫn thiêng liêng như thế, và có 2 chữ: "Tổ Quốc"!

 

Câu chuyện về người điệp viên bí mật H.3 chỉ mới bắt đầu kể lại những bí ẩn của t́nh báo Việt Nam.

     

      Những bí ẩn mà đến hôm nay, vẫn c̣n bao nhiêu câu hỏi chưa thể giải đáp.

 

VietNamNet sẽ tiếp tục ghi lại nhiều hơn những câu chuyện về những người anh hùng như vậy

 

Theo VietNamNet

 

Sự Kiện & Nhân Chứng, QĐND

nhandanvietnam.org, ngày 4/5/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend