NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TẠI SAO TÔI BỎ GIÁO ĐIỀU CÔNG GIÁO (KỲ III): Giuse Phạm Hữu Tạo


Giuse PHẠM HỮU TẠO 

 

   

Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo

(Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes)

 

Abbé J. Turmel

 

 

 

 

Pope Saint Leo IX (1049-1054) and Michael Cerularios,

 Patriarch of Constantinople, illumination from a Greek

15th century manuscript, National Library, Palermo

 

 

 

  

 

 

 

GIAO ĐIỂM – THU 2005

 

 

 

 

Chương X

Tôi vào làm cho

tập san

‘Revue du Clergé Francais’

 

 

     Ngày 30 tháng 8 năm 1900, cha Bricourt, thư kư ṭa soan tập san ‘Revue du Clergé Francais’ (Tập san của hàng tu sĩ Pháp), đă gởi cho tôi bức thư sau đây:   

 

     ‘Thưa cha, cha có vui ḷng viết cho chúng tôi một bài về những người nổi tiếng đă được giáo hoàng Léon XIII đề cập đến trong bức thư của ông ấy cho hàng tu sĩ Pháp là: Pétau, Thomassin, Mabillon và Bossuet không? Có những điều tế nhị cần phải nói là tập san của chúng tôi không bạo dạn bằng tập san ‘Revue d’histoire et de Littérature religieuses; nhưng người ta có thể nói với một số tự do … dĩ nhiên xin cha kư tên thật cho những bài báo đề nghị ấy’.

 

     Và, một năm sau, ngày 30 tháng tám năm 1901, Dennys Lenain cũng nhận được của thư kư tập san R.H.L.R., mà tập san này đă chuyển đến cho tôi:

 

     ‘Một trong những người mua báo của chúng tôi đă xin chỉ cho ông ta một quyển sách nào luận về đề tài sau đây của Hiệp Hội các tu sĩ viết về ‘Sự độc thân trong Giáo hội La-Tinh và giáo hội Hy-lạp’. Tôi đă thích thú đọc bài của cha trong đoạn văn trên tập san Revue d’histoire et de littérature religieuses (số mới nhất, trang 458), và cũng là lư do để tôi viết thư này cho cha … Có thể nào cha cũng viết luận án đó cho tập san Revue du clergé Francais’ (tập san của hàng tu sĩ  Pháp) về đề tài ấy không? Khi viết về lịch sử nhưng không thành những kết luận đối nghịch với những thực thể hiện nay, chắc hẳn người ta có thể nói không sợ bị trách phạt ǵ về vài ưu điểm của vấn đề ấy. Cha nghĩ sao?

 

     Dennys Lenain đă từ chối món quà mà người ta cho ông. C̣n tôi, tôi đă nhận lời, và gởi cho cha Bricourt những bài về Petau, Mabillon, Thomassin. Và những bài tiếp theo dài hơn về Bossuet. Petau là chủ đề viết trước tiên đă đăng trên báo tháng tám năm 1901, và ngày 22 tháng bẩy, tôi nhận được của cha Bricourt bức thư sau:

 

     ‘Cha đă không cho tôi biết sự việc về bức thư của Thánh Bộ Kiểm Duyệt (Index). Nhưng một người bạn của tôi, trong hàng chức sắc cao cấp, đă cho tôi biết việc đó, và khuyên tôi nên t́m gặp hồng y Richard trước khi đăng bài của cha. Tôi đă làm điều ấy ngày hôm qua. Hồng y, qua sự xác nhận của cha Lesêtre, rất vui ḷng về bài viết của cha về Petau, và không chống đối việc in bài ấy, và ông chỉ đề nghị hăy hoăn lại. Tôi không làm ǵ hơn được là phải vâng lời, chắc cha cũng đồng ư như thế! Tôi hy vọng được phép đăng bài của cha lần lượt vào ngày 1, 15 tháng 12 và 1 tháng Giêng …Hay hơn cả là hăy kiên nhẫn. Cả cha, và chúng tôi không hề bị mất mát ǵ; chúng ta sẽ thắng cuộc.

 

     Rồi vài tuần lễ sau nữa (16 tháng 10), cha Bricourt lại viết cho tôi:

 

     ‘Hồng y Richard đă cho cha Lesêtre, cha sở họ đạo Saint-Etienne biết, là những bài của cha mà chúng tôi đăng lên báo phải có trước hết sự chấp nhận của giáo quyền của cha. Ông ta nói: ‘Không có nghĩa là: Phải làm những điều họ buộc’.

 

     Hàng năm, những bài báo của chúng tôi phải tùy thuộc vào sự lên xuống của ngân sách từ Palais-Bourbon và Luxembourg, không khác ǵ người ta đưa banh trong tṛ chơi quần vợt. Nếu có thể mang ra so sánh những chuyện lớn nhỏ, những bản thảo đáng thương của tôi cũng trôi dạt bồng bềnh cỡ năm sáu tuần lễ. Sau khi nhận được thông báo của cha Bricourt, tôi cũng gởi chúng lên tổng giáo phận Rennes. Từ đó tôi nhận lại được những lời ưu ái bảo đảm sự tự do cho tôi, và tôi liền gởi cho thư kư tập san ‘Revue du clergé Francais’ để báo tin về sự đối xử tốt đẹp với tôi của giáo quyền của tôi. Cha Bricourt giải thích rằng hồng y Richard muốn có một cái Imprimatur (Kiểm Duyệt) theo đúng giáo luật, chứ không phải chỉ là sự bảo đảm bằng t́nh cảm riêng. Giáo quyền Rennes khi được tôi đề cập đến vấn đề này, đă nấp vào trong giáo luật, và cho biết theo Thánh Bộ Kiểm Duyệt, là điều khoản chỉ có giáo quyền Paris là độc nhất được phép ban cho ‘Imprimatur’ (Đă Kiểm Duyệt) về những bài viết trong giáo phận của ông. Hồng y Richard được thông báo của cha Bricourt về sự trả lời của giáo phận Rennes đă tỏ ra ngoan cố, và lần thứ ba tôi phải trở lại nhờ cậy các giáo quyền của tôi. H́nh như bức thư của tôi quá mạnh tay, nên cha Charost đă hằn học viết cho tôi:

 

     ‘Tôi xin trả lời cái thư thứ hai của cha sáng hôm nay, rằng một cách làm tôi bực ḿnh: là không ǵ tôi ngán bằng việc phải gây ra khó khăn, hay trở ngại ǵ cho việc in báo với khả năng, và sự hiểu biết khoa học mà cha đă chứng tỏ’.

 

     Nhưng họ luôn luôn nấp sau luật lệ để tuyên bố rằng tôi không ở t́nh trạng được hưởng quyền ‘Imprimatur’. Nếu cho tôi quyền ấy, họ đă lạm dụng một  giáo luật, là một việc chỉ có hồng y Richard mới có quyền ban cho thôi.

 

     Tức giận v́ những tṛ hề này, tôi viết cho hồng y Labouré tŕnh bầy với ông về sự bế tắc mà tôi bị rơi vào chỗ không có cách thoát, mặc dầu tôi đă có thiện chí đặt ḿnh hoàn toàn dưới sự tuân phục. Hồng y đă trả lời thư của tôi qua tổng thư kư của ông như sau:

 

     30 tháng 11 năm 1901

 

     Bạn thân mến,

 

     Đức hồng y tổng giám mục đă uỷ cho tôi trả lời bạn về những thỉnh cầu của bạn về những bài báo liên quan đến các cha Petau, Thomassin, Mabillon.

 

     Theo giáo luật, nếu những chủ nhiệm báo muốn có phép Imprimatur để trên hay dưới bài viết trong tập san, th́ Imprimatur chỉ có giáo quyền ở Paris mới có độc quyền ban cho thôi. Giáo quyền Rennes không thể làm ǵ khác hơn theo đúng với thể thức thông thường; nhưng cuối cùng có một thứ không bị cấm là có thể ban cho bạn quyền Nihil Obstat (Không trở ngại) thôi, v́ hồng y tổng giám mục Rennes không làm ǵ khác hơn được. 

 

     Kính chào bạn

 

F. Durusselle, Vicar general

 

     Khi tôi xin, để dự pḥng trước, là chỉ muốn người ta có thể cho tôi quyền Nihil Obstat, dưới mỗi bài báo của tôi, và người ta đă ban cho điều tốt đẹp ấy cho tôi. Những bài viết của tôi lại lên đường đến Paris, thêm với một cột thu lôi mang ra dùng thử.

 

     Cột thu lôi làm việc rất kỳ diệu. Ngày 6 tháng 12 tiếp theo, cha Bricourt viết cho tôi thư sau đây:

 

     Kính thưa cha,

 

     Hồng y Richard cho biết rất hài ḷng. Không phải là thông lệ người ta phải xin Imprimatur cho các bài báo là phải có Imprimatur của giáo quyền; chỉ v́ trường hợp đặc biệt của cha với những bài đăng trên Tập san hồng y đó mới đ̣i phải có; một quyền Nihil Obstat (Không có ǵ cản trở) của giáo phận Rennes đă đủ rồi. Như thế, cuối cùng tất cả mọi việc đă được sắp đặt xong suôi ổn thỏa. Chúng tôi lại bắt đầu đăng bài của cha vào ngày 15.

 

     Petau được đăng vào ngày 15 tháng 12 năm 1901. Ba người nổi tiếng của giáo hội Pháp cũng được lần lượt đăng báo. Nhưng như thế chưa hết. Vào năm 1903, cha Bricourt c̣n đ̣i tôi viết niên biểu lịch sử tu sĩ. Tôi chấp nhận. Lúc đàu có hai bài niên biểu cho mỗi năm. Rồi lên tới bốn bài. Tiếp đến là Consultations, nghĩa là sách tham luận về những điểm đặc biệt của lịch sử các tu sĩ. Tôi trở thành cộng tác viên chính thức cung cấp bài cho tập san ‘Revue du clergé Francais’. Bài viết của tôi đă không làm độc giả chán nản, ít nhất theo cách nói của cha Bricourt, khi cha viết cho tôi ngày 15 tháng hai năm 1906:

 

     ‘Bài viết sau chót của cha về Bossuet, và thần học hiện đại đă được đón nhận nồng nhiệt nhất bởi những tay chuyên môn. Trân trọng cám ơn đối với những nghiên cứu tuyệt vời của cha’.

 

     Ngày 19 tháng chín năm 1906:

 

     ‘Cha viết quá hay trong những bài niên biểu của cha, người ta đ̣i tăng thêm lên. Xin cha vui ḷng cho chúng tôi mỗi tháng một bài thay v́ mỗi ba tháng một bài? Những nghiên cứu của cha rất tuyệt diệu’.

 

     Ngày 15 tháng một năm 1907

 

     ‘Bài niên biểu của cha rất được chiếu cố’.

 

     Ngày 19 tháng hai như sau:   

 

     ‘Bài nghiên cứu về thánh Chryostome, và sự xưng tội rất đặc biệt; những cha Bainvel và cha Odelin, tổng thư kư giáo phận Paris đă nói với tôi rất tốt’.

 

     Tuy nhiên, đôi lúc cha Bricourt cũng lo lắng ngày này, ngày nọ khi cha hỏi tôi liệu giáo quyền của Rennes có khi nào từ chối lá bùa Nihil Obstat (không trở ngại) với chúng tôi không? Trong bức thư ngày 26 tháng chín năm 1906, cha nói với tôi khi đề nghị về một chủ đề tế nhị ‘Có là đề tài khó xử không? Và người ta c̣n chịu cho cha quyền Nihil Obstat không? Tôi trấn an ông. Chính ông cũng công nhận sự tự do của giáo quyền của tôi cũng phải có giới hạn. V́ giữa tháng hai tôi đă gởi bài cho cha với quyền Nihil Obstat, một bài có văn phong Voltaire kèm với quyền Nihil Obstat như đă nói, bàn về ṭa án dị giáo (bài đăng ngày 1 tháng ba). Thật thoải mái, không ngờ khi quan thuế cho qua một loại thú săn bị cấm, nên cha đă viết cho tôi với sự vui mừng trong tâm hồn bức thư ngày 19 tháng hai 1907: ‘Cha Durusselle thật dễ thương. Quyền Nihil Obstat ông ban cho đă giúp chúng ta nhiều lắm’. Vào mùa xuân năm 1907, tôi quyết định ra khỏi tập san để dành hết thời giờ cho những công tŕnh dài hạn đ̣i hỏi phải bận rộn xoay sở nhiều mặt, nên tôi gởi cho ông thư xin nghỉ việc. Cha Bricourt đă trả lời như sau:

 

Paris 30 tháng Năm

 

     Không, cha Turmel, cha không thể làm như thế được. Cha làm như thế là cha gây ra thiệt hại lớn cho chúng tôi, và người ta phê phán cách xử sự của cha là không tốt …Cha đă gây cho tôi một sự đau ḷng lớn …Không, không thể được, đó là một sự yếu đuối nhất trong lúc này. Công tŕnh của chúng ta dành cho tương lai, và cha đă làm được rất tốt; sớm hay muộn, với sự thận trọng, chúng ta sẽ thành công. nếu cha cho rằng mỗi hai tháng một bài niên biểu là quá đáng, xin hăy làm cho tôi như trước là ba tháng một lần …Như thế được không cha? Tôi trông cậy nhiều ở cha.

 

     Hôm qua, trong một buổi tiếp tân, các cha Pisani, Boudhindon, Lesêtre, Hemmer vv …tất cả đều đă thỏa măn về bài viết của cha mang tên L’Intention de la Sainte Croix (Chủ đích của Thánh Giá).

 

     Với sự nài ép đó, tôi đành chào thua. Tôi rút lại sự từ chức của tôi, và nhận được bức thư giá trị sau:

 

4 tháng 6 năm 1907

 

     Kính gởi cha Turmel,

 

     Tôi xin đội ơn cha hết ḷng khi cha đă lại bằng ḷng cộng tác thường xuyên với chúng tôi. Hy vọng là cha sẽ cộng tác được lâu dài. Mỗi một bài niên biểu cho ba tháng, là việc nhỏ, không đến nỗi làm cho cha mệt lắm, và như thế cha đă làm một việc tốt, một công tŕnh rất hữu ích. Thời buổi khó khăn, nhưng với thận trọng và khôn ngoan, chúng ta sẽ có thể làm nên chuyện … Một lần nữa, xin cám ơn cha rất nhiều, và chúc cha can đảm hơn!’

 

    Tuy nhiên, buổi ḥa tấu về những bài niên biểu của tôi không được sự ḥa điệu tuyệt đối. Những tiếng nhạc lạc điệu đă nghe được đó đây. Và cha Bricourt cũng đă biết v́ tôi đọc được thư của ông ngày 16 tháng tư 1907 như sau:

 

     ‘Bề trên của đại chủng viện đă viết cho tôi mới đây rằng sự chỉ trích của cha ‘là một sự soi ṃn kỳ quặc’, coi chừng những cáo buộc nghiêm khắc nguy hiểm’.

 

     Và trong một bức thư khác đề ngày 8 tháng Giêng năm 1908:

 

     Người ta có làm khó cho cha ở Rennes v́ đă cộng tác với tập san này không? Một vài chức sắc trong hội đồng giám sát - nói riêng giữa chúng ta với nhau thôi nhé – đă nhận thấy trong bài niên biểu mới đây nhất của cha viết có dấu hiệu ‘nguy hiểm nhiều lắm’.

 

     Tôi phải nhận là những âu lo này chẳng phải là không có cơ sở. Có khi bằng những đ̣n của bài viết tôi đă xác nhận sự xưng tội không có vào thời của thánh Chrysostome, và cũng có khi cùng một phương pháp tôi đưa dẫn đến sự không biết ǵ về sự hiện hữu thật của thánh Augustinô. Ở đây, tôi c̣n dùng lời của thánh Basile để đánh lại chế độ giáo hoàng. Ở chỗ khác tôi dùng sự can thiệp của thánh Ambroise để bác bỏ lửa hỏa ngục và h́nh phạt đời đời cho giáo dân Công Giáo. Tóm lại, tất cả những niên biểu của tôi, trừ lúc đầu tôi c̣n dè dặt, sau này tôi đă dùng những đ̣n của con thú ít hay nhiều bạo lực đă đánh vào những giáo điều Công Giáo, và những nghiên cứu (của tôi) không ra ngoài chủ đích ấy. Tóm lại, tôi đă hiển nhiên châm biếm độc địa giáo điều trên tập san ‘Revue d’histoire et de littérature religieuses’ (Tập san lịch sử và văn chương đạo). Tôi cũng làm như vậy trong tập san ‘Revue du clergé Francais’ (Tập san của hàng tu sĩ Pháp), mà những bản thảo của tôi đăng lên được là nhờ quyền Nihil Obstat của tổng giáo phận Rennes cho tôi.

 

          Chính nhờ cái Nihil Obstat này tôi mới thoát khỏi cảnh sát của hồng y Richard. Không có ông thần hộ mệnh này bảo vệ, tôi đă bị hội đồng kỷ luật trực xuất ra khỏi tập san là tờ báo tự hào là được vinh dự đặt ḿnh dưới sự vâng phục giáo quyền. Nhưng cách xử dụng khi để trên mỗi bài báo của tôi, chữ kư của tổng giáo phận chứng nhận sự chính thống của tôi. Nihil Obstat: hai chữ mầu nhiệm này là tiếng nói nhằm vào hồng y Richard của Paris để thưa với ông ta: Kính thưa ông, thường thường những bài báo đăng trên tập san Revue du clergé Francais là báo thuộc quyền của ông, chỉ ông mới có độc quyền kiểm soát và phán xét chúng. Và, chúng tôi, thuộc tổng giáo phận Rennes, chúng tôi đă nạp bản thảo kèm theo như đ̣i hỏi của ông được nhắc nhiều lần, và cũng để vâng lời ông nữa. Sau khi bản thảo nói trên đă được duyệt xét, và chấp nhận là không có ǵ chê trách, và trước xác nhận như thế, hội đồng kỷ luật tổng giáo phận Paris chỉ biết rên rỉ hội đồng đă bị tước mất vũ khí. Khi tố cáo với La Mă về những bài viết của tôi trên tập san ‘Revue d’histoire et de littérature religieuses’, hồng y Richard tính sẽ đập cho tôi một đ̣n chí tử, nhưng chính y bị đập ngược lại v́ kể từ nay những bài báo này (của tôi) thuộc trong lănh vực thần quyền của ông. Cái Nihil Obstat, y ngoan cố đ̣i Rennes phải cho tôi bằng được đă cho phép tôi vào tập san ‘Revue du clergé Francais’, đă mang đến cho y một sự rủi ro. Cái vũ khí này đă trở lại quật ngược y như cái trước.

 

     Tôi thuật lại ở đây hai sự việc đă xẩy đến với tôi khi tôi công tác với tờ ‘Revue du clergé Francais’. Việc thứ nhất là cha Vacandard đă đăng trên tập san ‘Revue du clergé Francais’ ngày 15 tháng 10 năm 1905 một bài báo. Khi đọc bài này tôi nhận thấy ông cha tốt bụng này đă mượn đỡ của tôi trong sách Thần Học Tích Cực của tôi nhiều trang đă được sao chép lại; hay có khi c̣n để nguyên từng bài, có khi là những trích dẫn nhỏ, nhưng cha vẫn quên không mở ngoặc, và đóng ngoặc để xác định xuất xứ, hay là cũng không cần nhắc đến tác giả là tôi nữa. Đó là sự đạo văn trên dạng thức đẹp nhất của nó. Ngạc nhiên trước một cây viết bề thế trong giới Công Giáo, tôi khiếu nại với cha Bricourt, là người đă chuyển thư khiếu nại của tôi đến đương sư. Một vài ngày sau cha Vacandard xin lỗi rối rít, và tỏ ra hối hận. Cha đă quên là than phiền của tôi không chỉ là sự trích dẫn bài viết của tôi không để dấu đóng mở ngoặc cho thấy xuất xứ. Trong bài viết về sự xưng tội, ông đă cho ra ít lâu sau cuốn Tự Điển Thần Học Công Giáo, ông đă xác nhận nhiều lần trích dẫn bài của tôi, nhưng ông vẫn quên không chịu để dấu đóng/mở ngoặc đề rơ xuất xứ như đă nói bên trên.

 

     Chuyện thứ hai là dịp tôi nói trong bài nghiên cứu về Bossuet (Tập san ra ngày 15 tháng bẩy 1906, trang 348), về thánh thư Ma-ca-bê-en-nơ, tôi đă nói là sự xác định có thánh thư ấy là của một tu sĩ ḍng Tên, tên là Patrizi. Thật ra có một tu sĩ ḍng Tên Patrizi, đă lập luận án về thánh thư Ma-ca-bê-en-nơ, nhưng không phải là hồng y Patrizi, mà là em của ông ta. Sự lầm lẫn này của tôi được cha Genocchi, giáo sư ở Sapience, trong một bức thư rất chân t́nh giải thích cho tôi là ông có tên là Patrizi đó, sau này đă có một người học tṛ trở thành giáo hoàng Léon XIII. (Tôi nghiêng về sự tin tưởng rằng nếu không có một đệ tử có quyền lực như thế, chắc chắn luận án về thánh thư Ma-ca-bê-en-nơ không thể được xuất bản.

 

     Trong mọi trường hợp kéo dài trong nhiều năm trời, bọn biện hộ, và chạy tội, không một ai dám đi theo tấm gương đó).

 

 

TU SĨ Alfred LOISY

 

     1.Cha Alfred LOISY đă không c̣n đức tin Công Giáo nữa kể từ năm 1885. Cũng từ ngày đó trở đi, cha đă chối bỏ hết tất cả mọi thứ giáo điều, kể luôn:

 

Giáo Điều Thiên Chúa nhập thể!

 

     Điều ấy rất rơ ràng, v́ chính cha Loisy đă cho chúng ta thấy trong sách Choses passés’ (Những việc đă qua), và sách ‘Mémoires’ (Hồi Kư) của cha. Mặc dù có chứng cớ hiển nhiên chắc chắn như đinh đóng cột của đương sự, cha Leblanc đă vẫn cố gắng chứng minh trong một hồi kư biện hộ (p.14, 28, 35,37) rằng cha Loisy cho đến lúc bị phạt vạ dứt phép thông công, vẫn giữ một đức tin theo cách riêng của cha, theo quan điểm của cha khi tin tưởng vào một đức tin tiến bộ trong giáo hội Công Giáo. Nói như vậy là một cách chơi chữ để đưa vào một sự thảo luận nghiêm chỉnh, không đúng, và không có chỗ đứng được. Cái ǵ người ta phải hiểu tuyệt đối về đức tin Công Giáo toàn cầu phải tin, phải giữ trọn mọi giáo điều. Vậy, kết luận, là kể từ ngày ấy, cha Loisy đă không c̣n đức tin nữa.

 

     2. Cha Loisy ở trong giáo hội cho măi đến năm 1908, nghĩa là suốt 23 năm trời, nhưng cha đă bác bỏ hết tất cả những giáo mệnh. Trừ những trường hợp ngoại lệ thô bỉ, là những linh mục mà sự học đă chứng minh giáo điều là những sự hư ảo, huyễn hoặc, viển vông, nhưng vẫn đành phải cắn răng chịu đựng sống trong t́nh trạng không phá hủy được xiềng xích giáo hội Công Giáo đă trói buộc họ. Nếu giáo hội Công Giáo La Mă biết rơ tâm trạng thầm kín trong đáy ḷng của họ, không c̣n có thể như ngày xưa nữa khi giáo hội đưa họ ngay lên dàn hỏa thiêu; th́ bây giờ giáo hội sẽ đào thải họ ra vỉa hè, và bỏ họ chết đói, sau khi đă lừa dối họ bằng những thủ đoạn bất lương. Những linh mục thuộc loại vỡ mộng này đành phải ở lại trong giáo hội sau khi giáo hội đă buộc chặt họ với nghề tu để phục vụ nó, và sau khi đă bị nó che dấu họ sự thật. Đó là quyền sống của họ. Cha Loisy buộc phải sống theo cách ấy! Cha cùng đứng chung đội ngũ với tổng giám mục Meignan, tổng giám mục Mignot, và tổng giám mục Duchesne. Người ta không thể trách cha được. Trách nhiệm về t́nh trạng này là của giáo hội Công Giáo La Mă,

 

ví chính nó đă xử dụng sự dối trá

để tuyển mộ hàng linh mục cho nó.

 

     3. Cha Loisy đă hai lần xưng nhận đức tin: một lần vào ngày 7 tháng Ba năm 1890, trong lời thề cha tuyên thệ sau khi cha tốt nghiệp tiến sĩ thần học; và lần sau là ngày 7 tháng 12 năm 1893; trong một bức thư gởi giáo hoàng Léon XIII. Trong lời thề, cha tuyên bố chấp nhận mọi giáo điều của giáo hội, và cha đă bỏ công ra diễn giải Kinh Thánh theo sự đồng thuận tuyệt đối của các Tổ Phụ. Trong bức thư gởi giáo hoàng, cha đă xác nhận sự trung thành của cha với những huấn lệnh của giáo hội, đặc biệt là những ǵ trong tông huấn của giáo hoàng ‘De tusdis scripturae sacrae’ (Về tất cả những thánh thư thiêng liêng). Trên phương diện pháp lư, giá trị của những lời hứa này, lúc nạn nhân bị ép buộc phải làm, chẳng khác ǵ v́ bị bọn cướp dí dao vào cổ: đó là những lời hứa rỗng, không giá trị ǵ! Những lời hứa đó giúp cho nạn nhân bảo vệ được đời ḿnh, sao cho tránh khỏi được đ̣n thù ác độc của bọn Giáo Hội.

 

     4. Vào năm 1893, cha Loisy, giáo sư trường đạo bị cách chức. Những năm kế tiếp, những trừng phạt khác nhau lại liên tiếp giáng thêm xuống cho cha. Sau hết, vào năm 1902, sách Évangile et l’Église (Phúc Âm và Giáo Hội) của cha lại kéo theo những trừng phạt khác nữa của Giáo hội, dồn dập giáng xuống cha. Cha đă vùng lên chống lại những h́nh phạt này mà cha cho là bất công. Sự chống đối của cha vùng lên sau khi có sự giải quyết số phận của cuốn sách ‘Évangile et l’Église’ (Phúc Âm và Giáo Hội). Để thấy cuốn sách đó đă bị bọn kẻ thù của cha (là Batiffoil và Lagrange) đă mô tả như là vũ khí chiến tranh, dưới bề ngoài biện hộ, nhưng theo bọn chúng, là đă gây khó khăn cho các linh hồn. Chính bọn chúng đă đặt hệ thống giáo quyền vào sự thách thức, kéo sự thức tỉnh để chú ư vào bài viết của cha, và những trừng phạt kết án lẽ ra cha tránh khỏi. Chúng ta chẳng có cách nào để có thể coi những sự phản đối của cha là nghiêm chỉnh. Kẻ thù của cha chắc chắn đă không phải là những kẻ độc nhất tranh căi về cuốn sách nói trên của cha trong một mục tiêu được che dấu, nhưng với mục đích rơ ràng không lẫn lộn được. Duchesne, không phải là kẻ thù của cha đă viết về tác giả cuốn sách ‘Mémoires’ (2,157) như sau:

 

     ‘Cha đă đi trước chúng tôi đến nỗi chúng tôi c̣n chưa hiểu được cha. Hăy chúc cho cha điều ấy, nhờ vậy, may ra nó có thể là lư do duy nhất cứu thoát cha’.

 

     Khi cho biết, hồng y Mát-thi-ơ, tuy chưa đọc hai chương đầu của cuốn sách, cha Duchesne cũng thêm:

 

     ‘Mặc dầu ngài chưa đọc hết toàn bộ, nhưng cũng phải biết Hic jacet lepus’.

 

     Và nó là một cuốn sách hay, có tầm vóc’.

 

     Tắt một lời, có bằng chứng khác mà cha không chối được, v́ chúng là của cha, như người ta đọc được do chính cha đă viết xuống giấy trắng mực đen. Đây là trích đoạn trong sách ‘Choses passées’, trang 246:

 

     ‘Sự bênh vực giáo hội của tôi nhằm vào sự hủy bỏ những luận án tuyệt đối của thần học kinh điển, liên hệ trực tiếp đến định chế chính thức của giáo hội, và những phép bí tích của đấng Ki-tô, những sự ngưng trệ bế tắc của những giáo điều, và nhất là

 

bản chất bạo quyền của bọn giáo phẩm’.

 

     Tôi không giới hạn việc chỉ trích Harnack thôi, nhưng tôi nói thực t́nh rằng, phải có một sự thay đổi cần thiết trong những lời giảng Kinh Thánh, tất cả khoa thần học, và ngay cả Thiên Chúa Giáo nói chung nữa.

 

     ‘… Một phần trong những sách của tôi có thể thích hợp cho tất cả mọi người Công Giáo; phần khác, dầu những thận trọng về phát biểu của tôi, được diễn tả trong sự trú ẩn của phần đầu, cũng vẫn nổi lên những sự chống đối’.

 

     Thật ra cha đă có những dè dặt thật kỹ lúc viết về những ước vọng này của cha (để làm dịu đi trong sách ‘Mémoires’ 2, 168 và tiếp theo), khi đă chú tâm chỉ đặt vấn đề với thần học kinh viện, nhưng trên thực tế, vẫn là tấn công tất cả các giáo mệnh của các công đồng. Ít nhất, người ta có thể nói để bênh vực cha là (đ̣i) như thế vẫn chưa đủ. Đành chấp nhận như thế thôi, viết sao biết vậy! Tác giả xác nhận rằng, dưới mầu sắc để bảo vệ giáo hội chống lại Harnack, đă đề nghị phải có sự cải tổ cần thiết của Thiên Chúa Giáo từ đức tin đến định chế giáo hội và những phép bí tích của Đấng Cứu Thế. Điều này có nghĩa ǵ, nếu không phải là một sự tấn công ngụy trang nhưng lại rất mănh liệt đánh thốc vào tất cả những niềm tin Công Giáo? Cha Loisy tính trông vào chiến thuật khéo léo, để cha có thể qua mặt được sự ŕnh rập của bọn giáo quyền, và phá hủy toàn thể mọi giáo điều. Tất cả những người có tinh thần độc lập đều thương tiếc sự thất bại của cha; bọn giáo quyền có thể bị kích động bởi những kẻ tố cáo, nên đă ra khỏi cơn u mê tŕ trệ. Nhưng không thể đi xa hơn! Cha Loisy, viện lư do bảo vệ Giáo Hội Công Giáo La Mă để chống lại Harnack, dù cha đă không chủ tâm (?), nhưng đă phá hủy hết căn bản của tất cả giáo điều Công Giáo. Cha cũng có một mục đích như thế trong những bài viết của cha từ năm 1893. Cha đă mất công khi không thật ḷng với chúng ta về những ư đồ đó của cha.

 

     5. Vào ngày 10 tháng Ba năm 1904, lương tâm của cha Loisy bị giao động bởi một sự ray rứt, cũng nên kể ra đây, là trích dẫn sách ‘Mémoires’ 2, trang 380, kể lại sự kiện:  

 

     ‘Tôi có c̣n đủ đức tin nữa hay không để được coi là một người Công Giáo? Tôi c̣n ở trong giáo hội không phải là v́ đức tin nữa, mà là v́ h́nh thức đạo đức. Chẳng c̣n bao nhiêu, hay là  c̣n rất ít, để tôi thành thật tiếp tục cái nghề linh mục này nữa. Nếu sự khô cạn ít ỏi này  xẩy ra, tôi cũng chẳng cần phải tức giận. Nếu c̣n ǵ, có ǵ trong sáng rành mạch để tôi tin th́ chẳng phải là những ǵ giáo hội đă dậy, hay là giáo hội không c̣n đủ tư cách để dậy những ǵ cho tôi Tin được nữa. Tôi c̣n sự lương thiện để ở lại trong giáo hội không?

 

Toàn thể hệ  thống Công Giáo,giáo lư cũng như

kỷ luật đă đi ngược lại lư trí,

và đời sống con người.

 

     Không c̣n phải là sự mầu nhiệm nữa, mà là sự điên khùng đă được đúc kết, rút gọn lại rất tài t́nh. Tôi sẽ phải mang sự mập mờ đánh lận con đen này xuống mồ của tôi.

 

     Khi người ta, vào năm 1885, đă bác bỏ những giáo điều, kể luôn cả giáo điều Thiên Chúa Làm Người, người ta chẳng cần phải đợi đến năm 1904 mới lương thiện hỏi người ta có thể  c̣n ở lại trong giáo hội nữa hay không. Câu hỏi này đă đặt ra những vấn đề, và sẽ nhận lănh giải đáp ngay trong ngắn hạn. Tác giả cũng biết từ năm 1885 tại sao vẫn c̣n được ở trong giáo hội khi nó vẫn dùng sự ràng buộc để nó lừa dối cha. Cha quyết định vẫn ở lại trong giáo hội, dẫu chỉ là miễn cưỡng. Chừng nào những đối xử của nó với cha làm cha phải thay đổi thái độ. Ngày nay, cha muốn ra khỏi sào huyệt, và cha đă t́m cách để thoát nạn. Việc cha làm như có một sự mạo nhận ray rứt chỉ là cách giả bộ để tô mầu ư đồ đó của cha thôi. Sách ‘Mémoires’ viết cho công chúng. Ở đấy tác giả đă đóng một màn kịch. Khi biết người ta c̣n tin vào giáo điều Công Giáo nữa không, khi người ta coi giáo điều ấy là một sự điên khùng, thắc mắc này chỉ là một sự lố bịch đưa dẫn đến một sự dửng dưng lớn. Tác giả, trong lúc làm mồi cho sự bồn chồn, đă không kiểm soát kỹ bài viết.

 

     Bây giờ xét đến t́nh cảm của cha Loisy đối với giáo hội Công Giáo La Mă. Ngày 15 tháng Mười năm 1902, trong buổi tối trước khi phát hành sách ‘l’Évangile et l’Église’, cha đă viết trong ‘Mémoires’, chương 2, trang 149:

 

     Giáo hội cần phải tận diệt như một kẻ thù lớn của sự tiến bộ của loài người, nếu nó không đủ sức tu chính. Trái lại, giáo hội phải được chống đỡ, bảo vệ, soi sáng bằng mọi cách, nếu nó c̣n là nguồn gốc của đạo đức và văn minh. Những người thuộc phần thư hai mới thật!

 

 

     Trong những người nghĩ rằng giáo hội không thay đổi được có cha Duchesne, mà chúng tôi ghi ra đây lời nói (2,276) của ông: ‘Tôi rất ít lạc quan. Chúng ta bị kẹt cứng giữa sự cần thiết, và sự không thể nào cải tiến được của giáo hội’. Sau đây lại là một lời nói khác (3,342): ‘Chắc chắn là cái tṛ cũ rất bệnh hoạn … Nhưng có thể nào hy vọng vào một chu kỳ mới của định chế đạo, để tránh cho chúng ta không phải đi đến sự hủy diệt những t́nh cảm tôn giáo không? Cùng với Duchesne phải kể đến Đức Ông Meignan, khi ngài nói (I,229): ‘Tôi nghĩ rằng xă hội của chúng ta không muốn sống không giáo hội, nhưng tôi sợ giáo hội sẽ tự đào thải’. Ngài trả lời (I,230), khi được hỏi về một chương tŕnh cải tổ, ngài đă nói: ‘Điều này rất khó, có thể là không bao giờ có được!’ Cha Loisy, vào năm 1902, cũng không muốn bi quan; ông nghĩ rằng giáo hội vẫn có thể sửa đổi được. Nhưng cha không chối t́nh cảm ngược lại của những suy tư nghiêm chỉnh. Cha công nhận người ta vẫn có thể không tin vào việc không thể có được một sự tiến bộ, nhưng vẫn là người có tinh thần tốt. V́ vậy, tự để ḿnh, một lúc, trong giả thuyết đó, cha không ngại từ đó kéo ra một kết luận: ‘Giáo hội cần phải bị tận diệt như kẻ thù lớn nhất của nhân loại’. Trong khi chờ đợi, cha làm nhục định chế hiện nay của giáo hội, và cha sắp xếp số phận của nó vào những bọn bảo vệ nó. Cha viết vào ngày 16 tháng Mười Một năm 1902 (2,158):

 

     ‘Chắc chắn rằng định chế hiện nay của giáo hội là một ngôi trường gian dối, và hạ cấp … Những kẻ đần độn, những kẻ hèn nhát, những kẻ nói dối đă nắm giữ phần lớn giáo hội, và có dịp là phải bóp chúng giữa hai ngón tay như nghiền nát một con sâu. Điều quan trọng là tương lai của Thiên Chúa Giáo không thể để trong tay đám điên khùng, và nói dối kéo theo sau chúng một chế độ giáo hoàng quá thiên về chính trị, và (có) một giáo đoàn ngu ngốc.’

 

     Nghiền nát những kẻ bảo vệ giáo hội như một con sâu v́ chúng tất cả là bọn điên và bọn nói dối; đó là chương tŕnh vào năm 1902 của một người khoe là không thù ghét, chỉ có t́nh yêu trong trái tim!

 

     Năm 1902, cha Loisy c̣n hy vọng giáo hội thích nghi vào những điều kiện lịch sử và khoa học. Với một t́nh yêu cha đi đến Giáo hội lư tưởng này, mà cha sẽ là một người cầm đầu. Dần dần cha nhận ra ước muốn một giáo hội lư tưởng như của cha chỉ là một giấc mơ, một cơn ác mộng, và giáo hội hiện nay không bỏ được những cố tật của nó! Nên cha không c̣n chống đối một đối lực nào cho việc làm tàn lụi giáo hội La Mă của cha. Ngày 10 tháng năm 1904, cha viết (2,386):

 

     ‘Thiên Chúa giáo thật sự không phải là chất liệu cho sự tiến bộ đạo đức, mà giá trị của nó không hoàn toàn nếu không chịu xét đến những khuyết điểm của nó. Đó là trở ngại rất lớn cho sự phát triển, và đạo đức thật của thế giới hiện nay, chẳng muốn ǵ hơn là đ̣i được tiến tới’.

 

     Đợi thêm hai mươi lăm năm nữa, tư tưởng của cha mới chín mùi. Tác giả ‘Mémoires’ lại một lần nữa, tố cáo sự  ‘ác ôn tàn bạo’ của giáo hội Công Giáo La Mă, khi cha thêm(1,179):

 

     ‘Không phải duy nhất lư trí mới đánh gục được nó, nó chỉ bị thua khi có phản ứng chung của nhiều xă hội chống lại cái ách không thể chịu đựng nổi được nữa, và những tham vọng vô lư của nó.

 

     Người ta cũng đọc được một đoạn khác trong cùng cuốn sách (3, 338):

 

     ‘ Không bao giờ tôi tin nước Ư sẽ cứu thế giới khốn khổ của chúng ta khỏi sự độc ác hung bạo của chế độ giáo hoàng. Nghĩa là chính toàn cầu phải tự cứu với chế độ giáo hoàng ấy, và chỉ như thế mới làm nổi!’

 

     Cũng thế, cha không trông mong ǵ ở các nhà bác học Công Giáo (2, 249)

 

     ‘Bọn ngụy biện chỉ có thể che mặt bằng tấm mạng dối trá che dấu quái tượng chế độ chuyên chế này. Thật vậy, bọn đầu sỏ Công Giáo sẽ không ra khỏi tham vọng vô lư của chúng chừng nào bọn bác học công giáo c̣n tin ở sự thiêng liêng điên rồ’

 

     Tổng kết, bạo quyền giáo hội Công Giáo La Mă là ‘một cái ách chịu không nổi’; ‘những tham vọng của nó rất vô lư’ và ‘sự chuyên chế của nó là một sự quái đản rơ ràng’; bọn đầu sỏ của nó điên khùn; giáo hội công giao La Mă là một cản trở rất lớn cho sự tiến bộ trí thứcvà đạo đức thật; người ta không thể nào chỉ đánh lại được nó bằng trí tuệ, mà trông mong nó chịu nghe. Điều phải làm ‘phản ứng tập thể của tất cả các xă hội; tác giả đưa ra ước vọng để keu gọi phản ứng như thế mới trừ khử giáo hội La Mă khỏi thế giới. Cha thấy cần phải kiên nhẫn chờ đợi cho được một sự thực thi dễ dàng.

 

     Những nhậc xét này rất quan trọng để lượng định giá trị của hai tố cáo người ta đọc trong sách ‘Mémoires’ mà tôi phảinói ra ở đây: cái thứ nhất có lien hệ với nghiên cứu lịch sử giáo điều của tôi. Cha Loisy (3,561), đă che mặt trước t́nh trạng rất đặc biệt của tôi đối với giáo hội Công giáo La Mă: nghĩa là bề ngoài tôi giảng dậy những giáo điều Công giáo, nhưng đă lại chống đối kịch liệt trong những sách xuất bản của tôi. Cha thấy, ở đó một sự nguy hiểm, nhưng v́ ḷng tốt, ông đă làm ngơ không nỡ đề cập đến.

 

     Tôi tin rằng cha Loisy không đủ sức để kiếm chuyện với tôi. Tuy nhiên, vẫn c̣n một điều nhỏ phải làm sáng tỏ. Tôi đánh phá các giáo điều Công giáo quyết liệt thế nào, trong khi bề ngoài vẫn rao giảng chúng? Trước hết là ở trong tập san ‘Revue d’histoire et de littérature religieuses’ (Tập san lịch sử, và văn chương đạo), thành lập bởi cha Loisy năm 1910. Sau đó, trễ hơn vào năm 1925, tôi tiếp tục viết bộ ‘Christianisme’ (Thiên Chúa Giáo), và trong ‘Revue de l’histoires des religions’ (Tập san những lịch sử tôn giáo). Nhưng sau chót, ở trong tập san của Loisy mà Coulange, Lagarde, Vanbeck, Dulac, Lawson, Gaillerand, Michel, Perrin, Delafose đă tiếp sức nhau liên tục từ năm 1910 đến năm 1920 để gây chiến rất quyết liệt với những giáo điều. Nhưng bằng cách nào tôi nhập vào tập san đó? Tôi có vận động ǵ với cha Loisy không? Tôi có yêu cầu ai nhận bài viết của tôi không? Chính cha Loisy đă đi trước, và mời tôi cộng tác. Nhiều lần, cha không dấu diếm cha cần những bài báo dài, và tập san không thể hoạt động được nếu không có sự hợp tác của tôi. Cha Loisy không thể điều hành được tập san cũng như không thể đăng bài nếu không có tôi để tu chỉnh hoàn bị những bản thảo. Cũng vậy, những bài báo của tôi sẽ bị chôn vùi, và nằm măi trong ngăn kéo nếu tôi không có tập san để làm chỗ khai thông cho chúng, mà cha đă dành cho tôi. Loisy được nhận sự biết ơn của tôi về những việc lớn cha dành cho tôi. Tuy nhiên, cha đă cho rằng tôi vi phạm danh dự. Hỏi bằng cách nào cha có thể trả lời về việc, tôi nếu bị lên án, nhưng cha tránh sao khỏi những phê phán v́ đồng lơa bằng sự cộng tác mật thiết của cha với tôi?

 

     Dĩ nhiên, cha Loisy tránh không đặt câu hỏi đó. Ngược lại, cha c̣n đổ vấy cho cha Couchoud và Sartiaux về vụ tôi bị dứt phép thông công. Để tin được việc ấy (3,560), cha tố cáo hai người này đă đóng góp … vào biến cố ấy’. Ở trang 554, cha đă cho rằng vụ dứt phép thông công của tôi là một h́nh ảnh rất tức cười mà cha gọi là một tṛ múa rối thần học lớn, tôi đă dàn dựng lên được nhờ một số người cộng tác trong số có ‘nhà bác học Couchoud’. Tôi rất sung sướng nhận rằng bản án của La Mă đă làm cho cha thích thú. Nhưng tôi phải nói với cha rằng cha Couchoud và Sartiaux chẳng có dính líu ǵ hết. Sự vinh quang của công tŕnh tốt đẹp đó là độc quyền, thuộc về ba ngôi sao sáng của giáo hội Công giáo Pháp, là Rivière, Sallet và tu sĩ Verdin. Nói như cha, là mang tội xúc phạm đến các vị lẫm liệt lừng danh này dù chỉ kéo họ vào bằng một sợi giây liên hệ rất nhỏ. Tuy thế, để đi vào nguyên tắc đă gây cảm hứng cho cha Loisy, mà tôi đồng ư, phải kiếm cho cha một người cộng tác. Ai? Nếu kiếm ra được chỉ cần t́m trong công tŕnh đó những kẻ tố cáo vào những lúc đầu của cha. Nó đă được khởi sự bằng báo cáo là bài viết của Gallerand đă cung cấp tài liệu cho cha. Bài viết này không bao giờ được phát hành, nếu cha Loisy không đề nghị tôi làm một bản sao cho tờ báo. Từ đó, khi tự đứng vào chỗ bất xứng theo quan niệm thô bỉ của cha Loisy, là chính cha đă ‘đóng góp’ vào việc gọi là một ‘biến cố’.

 

     Cáo buộc thứ hai liên hệ đến sự thù hận của giáo hội Công giáo La Mă mà Houtin và tôi đều là những kẻ  bị coi là phạm tội. Với sự cuồng điên của bệnh kinh phong (3,558), cha Loisy đă làm ngộp vấn đề bằng sự chửi rủa cay độc, và cha đă tích tụ những sự khoác lác để giải thích sự thù hận như một sự cuồng nộ quá khích; và sự quá khích nào cũng đi ra khỏi lư trí. Người ta dửng dưng với sự chửi rủa của người say khi cha Loisy viết (3,558): cha đă say v́ tức giận. Tôi không phí thời giờ để căi lại những chửi bới của cha. Tôi cũng chẳng nhắc lại lời nói của cha P. Lagrange (3,532) đă coi cha như một kẻ đạo đức giả. Nhưng tôi chỉ muốn đưa ra một sự thật theo nghĩa b́nh thường là sự uất hận trong con người tự nó không hẳn là xấu, mà có thể c̣n là bổn phận, Giáo hội Công giáo La Mă che dấu một cách có hệ thống bài bản đối với hàng linh mục khi họ gia nhập vào định chế ấy để phục vụ cho nó. Bất cứ khi nào giáo hội có thể làm được, là giáo hội sẽ bẻ cổ bất cứ ai trưng dẫn ra những sự thật gây phiền toái cho giáo hội. Giáo hội che dấu tín đồ những sách báo trong đó dậy những sự thật. Chế độ vô luân của giáo hội để nô lệ hoá những linh hồn đă bẻ gẫy đời tôi. Nhưng nó cũng định hướng cho đời tôi. Nghĩa là tôi sẽ làm một kẻ tử đạo cho sự thật, và c̣n là một bổn phận trở thành một sứ đồ cho sự thật nữa. Chính v́ muốn làm sứ đồ từ năm mươi năm qua, tôi đă cố gắng mang đến một ánh sáng khiêm nhường vào những tâm hồn mù quáng v́ sai lầm. Cùng một lúc gây chiến với giáo hội Công giáo La Mă, tôi đă trở thành kẻ thù của nó, v́ tôi gây chiến với sai lầm để quảng bá sự thật. Tôi chỉ có một sự đố kỵ với một thế lực trong bốn mươi năm qua đă hành hạ tôi, v́ tôi đă lột mặt nạ dối trá bẩn thỉu của nó. Nhưng trong việc bầy tỏ cảm nghĩ này, tôi đứng hàng sau tác giả sách ‘Mémoires’. Trong bất cứ trường hợp nào, người ta không c̣n tư cách rao giảng t́nh yêu của giáo hội Công giáo La Mă nữa khi đă đánh nó bằng những đ̣n nặng, hơn chục lần, khi người ta nghĩ đến việc nghiền nát bọn biện hộ như nghiền nát một con sâu.

 

     Tại sao cha Loisy lại bị đưa dẫn đến cực độ của sự thù hận khi cha đánh mất sự kiểm soát của lư trí? Tất cả được giải thích bằng sự thù hận; thù hận tột độ đối với Albert Houtin. Trong nhiều năm Houtin đă cộng tác chăm chỉ thân thiết với cha Loisy. Ông khâm phục tài của cha Loisy. Nhưng ông cũng để ư thấy ở cha Loisy một vài tật nhỏ. Renan gọi là ‘Souvenirs d’enfance’ (Kỷ niệm tuổi thơ) (Trang 347): ‘Nếu khi nào một tài tử khôi hài muốn làm tṛ cười cho công chúng về những sự kỳ dị của tôi, tôi sẽ xin ông ta một điều, là hăy nhận tôi như một cộng tác viên’. Cha Loisy nghĩ rằng đă đạt đến sựu toàn vẹn, không bị vướng mắc một tỳ vết nhỏ nào. Miễn là cha không biết đến những ghi chú định mệnh của Houtin mà cha là mục tiêu, nên cha đă không c̣n nhân nhượng nể nang Houtin nữa. Cái ngày cha biết được sự xúc phạm ‘thánh thể’ đối với cha, cha đă biểu lộ một sự ác cảm với tội nhân của cha thật khủng khiếp.

 

Chắc hẳn, bạn đọc có thể hỏi v́ lư do ǵ tôi lại phải thừa hưởng sự ác cảm mà Houtin là một nạn nhân? Bạn đọc có thể không hiểu tại sao cái này lại dính líu đến cái kia. Xin thưa! Sartiaux, kỹ sư hỏa xa của Công Ty Hỏa Xa Miền Bắc, có liên hệ với Houtin. Ông này đă viết sách ghi nhận về bạn ông trong cuốn sách tựa đề: ‘Mon Experience, ma vie laique’ (Kinh nghiệm của tôi, đời sống thường dân của tôi), do ông tự ấn hành và ông đă in ra vài ghi chú của bạn ông về cha Loisy. V́ thế mà Loisy đă ghét ông ta, mà sự thù hận ngang hay là c̣n hơn cả sự thù hận với Houtin nữa.

 

     C̣n tôi! Tôi th́ sao? Tôi đă phạm tội đối với cha Loisy. V́ vô t́nh không biết, thật thế, nhưng cuối cùng th́ tôi biết đă mắc phải tội ấy. Lúc đó là vào năm 1926, Albert Houtin vừa mới chết. Sartiaux mà tôi không quen biết, đă báo cho tôi là bạn của ông đă để lại một bản thảo chưa hoàn tất về lich sử độc thân của các tu sĩ. Và ông yêu cầu tôi tíep tụuc hoàn tất. Tôi nhận lời. Độ gần một nửa cuốn sách vắn tắt về ‘Lịch sử đời độc thân của hàng linh mục’ (‘Courte histoire du celibate ecclésiastique’), đă được tôi viết dưới bút hiệu Dulac. Tôi hoàn toàn không biết ǵ về sự thù hận lúc đó của cha Loisy với Albert Houtin và Sartiaux. Nhưng v́ sự cộng tác của tôi với những kẻ thù của cha, là một sự bất kính không thể tha thứ được. Cha Loisy đă cho tôi biết như thế trong một bức thư ngày 19 tháng Mười Một năm 1930, sau khi than phiền về sự liên hệ của tôi với cha Couchoud và Sartiaux. Cha Loisy thêm:

 

‘Tôi rất tiếc về sự cộng tác của Dulac trong sách Courte histoire du célibat ecclésiastique (Lịch sử ngắn gọn về đời sống độc thân của hàng linh mục).

 

     Sau một vài phút ngỡ ngàng, tôi bật cười về sự thù hận, và bản tính hợm hĩnh của cha đă nổ tung ra trong bức thư ấy. Một vài tuần lễ sau, trong sách ‘Mémoires’ tôi được biết tại sao căn bệnh ác độc này đă tàn phá tâm hồn nạn nhân của nó.

 

     Bây giờ, tôi chuyển sang mục khác: ‘L’histoire des dogmas’ (Lịch sử các giáo điều, ‘4 và hết’). Nói về sự đóng góp của cha Loisy về cách giải thích của tôi về thánh thư của thánh Phao-lồ. Sự đóng góp này, tôi vinh danh bằng hai nhận xét:

 

     1. Cha Loisy đă chiếm đoạt một nửa hệ thống tŕnh bầy của tôi mà không báo cho đọc giả biết về sự mượn lầm này của cha. Tôi buộc phải nói cho cha biết cách làm việc rất sai quấy ấy của cha.

 

     2. Sau khi mượn đỡ của tôi một nửa hệ thống diễn giảng, cha Loisy không được phép cắt bỏ đi nguyên con từng đoạn. Tuy vậy, cha đă dùng ngôn ngữ khinh rẻ ở trang 9 trong sách ‘La naissance du Christianisme’(Sự ra đời của Ki-tô giáo), mà những sự vay mượn của tôi đă được xử dụng, sự khinh rẻ kèm theo những sự chửi bới thô bỉ, đă giải thích được, thật vậy’ cơn khủng hoảng động kinh của tác giả đă làm khổ tác giả.

 

 

Ghi nhận về ba tên

tu sĩ Ḍng Tên

 

     Tên tu sĩ ḍng Tên Lebreton (‘Études, tháng ba 1934, trang 627), đă nói về bức thánh thư Polycarpe (mà tôi là người dịch, và phê b́nh), không biết đến một chữ đầu của đề tài này. Nhưng đă lợi dụng cơ hội để phóng vào tôi những xấc xược. Y chỉ làm duựơc những điều ǵ y có thể làm, nghĩa là làm tṛ bịp.

 

     Tên tu sĩ ḍng Tên Donceur, trong một lần điểm sách ‘Études’( tháng Giêng 1934, trang 97), đă hạ cấp chửi bới tôi. Tôi phải đề pḥng kỹ với tên cá nhân bế tắc này.

 

     Tên tu sĩ ḍng Tên Cavallera đă xuất bản ‘Dict. Théol. Cath.’ (Tự điển thần học Công Giáo La Mă – chương 12 trang 2590), được sự tán tụng lên tận trời cao của tên tu sĩ đồng nghiệp Portalié, là kẻ vào năm 1903, đă tiến hành một chiến dịch quá đẹp để tố cáo chống lại tôi. Y gởi cho tôi một bài báo dài lê thê, cũng như đă gởi cho tổng giám mục Rennes, đức ông Dubourg một bài tương tự. Nhưng y không đả động ǵ  đến sự nhục nhă mà đồmh nghiệp của y ở Pa ri s đă phải chịu, cũng như nỗi buồn gây ra cho người anh hung của ỷtong một vụ rủi romà kẻ đo bị coi như một con chó săn bỉ ổi. (Xem ‘Bulletin de Toulouse’ 1931, trang 245, mà những đồng nghiệp này của y được coi là đại diện cho danh dự của khoa học Công Giáo). Sử gia phóng túng Cavallera cũng là một nhân tài ngông nghênh. Thật đúng là cái này bổ túc cho cái nọ.

 

 

Lời Kết

 

     Sách ‘Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo’ (Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes), tác giả là linh mục kiêm giáo sư thần học J. Turmel, thuộc tổng giáo phận Rennes (Pháp), t́nh cờ đến tay người dịch là một giáo dân đạo ḍng. Có phải là một sự may mắn cho người Việt nói chung, và giáo dân Công giáo nói riêng, có sử liệu để nhận ra mặt thật của bọn Công Giáo La Mă không? Đối với độc giả Âu Tây, sách báo viết về đại họa Công giáo La Mă độc tài giáo phiệt hai ngàn năm qua là chuyện thường. Những sách báo đó giúp cho họ  những thông tin chính xác để họ có thái độ, hay lựa chọn với tập đoàn quỷ quyệt mà Đôminic Charlie Nguyễn gọi là bọn đạo Ki, bọn đạo . Bởi thế, đối với giới đọc sách Âu-Mỹ không có ǵ để phải coi là phá đạo, chửi đạo hết. V́ nếu có, không ai chửi đạo, phá đạo bằng các linh mục công ngủ, và nhất là bọn giáo hội gian manh dùng ảnh hưởng giáo quyền, và tiền bạc để dấu diếm, mua chuộc, bao che, chạy tội. Hành xử bất xứng ấy của đạo đến nỗi cựu thống đốc bang Oklahoma, ông Frank Keating, cựu chủ tịch uỷ ban điều tra dâm tội của bọn linh mục đạp mái, phải xác nhận: ‘Công giáo La Mă là tập đoàn La Cosa Nostra (Mafia) (bản dịch bài viết của cựu thống đốc Frank Keating đăng trong sách này).

 

      Không ai không biết Công Giáo La Mă Việt Nam là cái bóng của đế quốc, thực dân. Chẳng khác ǵ Giang Thanh là cái bóng của Mao Trạch Đông. Khi đế quốc, thực dân và Mao Trạch Đông nằm xuống, những cái bóng cũng chết theo luôn, không c̣n nữa!

 

     Bởi vậy, đạo Công giáo La Mă ta nên trở về với dân tộc tổ quốc.

 

     Nếu đúng xưng nhận theo chân Chúa để giữ đức nghèo khó cùng với người dân, th́ khi phải nuốt chén cơm đau khổ với người dân, cũng nên làm với sự thành tâm tự nguyện. Nếu chẳng may, nuốt không trôi chén cơm đau khổ, lại phải chan với bát canh nước phép La Mă, th́ khi nuốt xong chén cơm ấy, phải biết nó là chén cơm ô nhục (le bol de la honte/the bowl of shame)!

 

     Người dịch quê ngoại có Á thánh Phê-rô Tùy, vài năm học trường thầy ḍng, nên khi viết về đạo là hết ḷng hưng đạo, thanh đạo, không bao giờ có ác ư vô ích phá đạo cả! C̣n ǵ hơn, cũng như Đôminic Charlie Nguyễn Bùi văn Chấn viết sách: ‘Công Giáo Bên Bờ Vực Thẳm’.

 

     Thiết nghĩ, giáo dân cũng như mọi người, rất quư mến các đấng các bậc; nhưng chắc chắn họ không bao giờ, và không ở đâu kính trọng các linh mục cùng hội cùng thuyền với hải tặc Thái Lan. Phải vậy không?

 

     Xin giáo hội và quư vị chân tu, bằng mọi cách thoát ra khỏi bọn giáo hội thực dân … giả cầy La Mă.

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC

 

 

Thánh Augustinô

Tác-Dzăng Nổi Giận

 

     Người ta hiểu được sự giận dữ của thánh Augustinô, khi ông hay biết một linh mục thuộc giáo phận của ông, trong đêm Giáng Sinh, thay v́ đến ngủ đêm nhà một trong những đồng đạo, đă giả vờ rời khỏi thành phố, để đến ‘ngủ đêm Giáng Sinh’ ở một quán bên đường có cô chủ quán dễ tính, hạnh kiểm nghi ngờ!  

 

(Báo Historia, số 601, tháng Giêng 1977, trang 41)

    

On peut comprendre l’indignation de Saint Augustin lorsqu’il apprend qu’un prêtre de son diocèse, la veille de Noel, au lieu de loger chez un de ses collèges, a feint de quitter la ville, pour ‘réveillonner’ dans une auberge tenue par une hôtesse aux meours plus légers.

 

(Historia, No 601, Janvier 1977, page 41)

 

Nhà Thổ của các cha xứ

 

(Bordelles pour curés)Tú Bà ở đường Saint-Sulpice

 

     Cho đến năm 1946, có hai nhà thổ ở đường Saint-Sulpice. Một nhà b́nh dân số nhà 15, một hạng sang, số 36.

 

     Hai chỗ sa đọa này thường được lui tới bởi các linh mục. Nhưng những khách làng chơi khác cũng đến nữa. V́ vậy không đúng hẳn khi nói những nơi đó là ‘nhà thổ của các cha xứ’.

 

     Một viên chức cảnh sát kiểm tục về hưu, mà tôi được phỏng vấn để điều tra, và viết cuốn La Fermeture (Nhà xuất bản Robert Lafont, 1986), đă cho tôi cuốn nhật kư của một Tú Bà làm chủ một trong những nhà thổ này. Cái nhà hạng sang, tôi đặt tên là Tu Viện, và được chuyển đổi đến một chỗ không được xác định rơ.

 

     Người chủ này tên là Blandine, đă về nghỉ hưu ở vùng biển Côte d’Azur sau khi luật 13 tháng 4 năm 1946, đóng cửa các nhà thổ, và đă viết lời tự thú trong các tập vở học tṛ.Chính khởi đi từ những tài liệu này, mà tôi viết cuốn sách Tú Bà ở đường Saint-Sulpice (Nhà xuất bản Rocker, 1966). Tôi đă mang vào sách tất cả những yếu tố thu lượm được trong cuộc điều tra của tôi để có sự sống động cho một chuyện rất gần với những biến chuyển thật. Bà Balndine, chủ chứa, là cựu nữ sinh của trường Couvent des Oiseaux. Cả cuộc đời bà có đức tin Công giáo mănh liệt, đánh dấu chủ yếu bởi sự hành đạo nghiêm chỉnh. Người ta thấy h́nh như bà chẳng có một ray rứt ǵ hết khi làm chủ động. Bà giáo dục đứa con trai, bằng kỷ luật Công giáo khắt khe, là đứa con bà có qua mối t́nh đầu với một linh mục đă chết trong chiến tranh 1914. Cũng có thiên chức, đến lượt đứa con của bà cũng đi tu, và trở thành linh mục. Bà là một phụ nữ đảm đang. Bà có uy trong đám chủ chứa. Bà biết xử sự với họ, với cảnh sát và với giáo hội. Đó là một quăng đời êm xuôi. Tôi nghĩ định mệnh của người phụ nữ này xứng đáng giúp tôi cầm bút vết cống hiến một tài liệu đáng t́m hiểu cho độc giả của tôi.

 

(Báo Historia, số 601, tháng Giêng 1997, trang 65).

 

Madame de Saint Sulpice

 

     Il existait jusqu’en 1946 deux maisons closes rue Saint Sulpice. L’une modeste au No. 15, l’autre luxueuse au No. 36. Ces lieux de débauches fréquentés discrètement par des ecclésiastiques. Mais d’autres clients y venaient aussi. C’est à tord qu’on disait ‘bordels pour curés’. Un commissaire de la police mondaine à la retraite, que j’avais interviewé dans la cadre de mon enquête sur la Fermeture (Éd. Robert La font, 1986), m’a confié les mémoires de la patronne d’une de ces maisons. La plus luxueuse que j’ai appelée Abbay, et que j’ai transférée en un lieu indéterminé. Cette patronne nommée Blandine, qui s’était retirée sur la Côte d’Azur après la loi du 13 Avril 1946, se confessait sur des cahiers d’écoliers. C’est en partant de ces documents que j’ai écrit le roman de Madame de Saint-Sulpice (Le Rocher, 1996). J’y ai apporté toutes sortes d’éléments  receullis au cours de mes enquêtes pour donner vie à cette histoire tout en restant au plus près des évenements réels. Madame Blandine a été élevée au Couvent des Oiseaux. Elle a gardé toute sa vie une véritable foi chrétienne, marquée par l’essentiel des pratiques religieuses. On a le sentiment qu’elle a même sans état d’âme son activité de tenancière de bordel. Elle a élevé l’enfant qu’elle avait eu de son premier amour avec un prêtre mort à la guerre de 1914, dans la stricte observance de la morale Chrétienne. Ayant la vocation ce garcon deveindra prêtre à son tour. C’est une femme de caractère. Elle s’impose dans le milieu des proxénètes propriétaires des maisons de tolérance. Elle sait compser aussi bien avec eux, qu’avec la police et l’Église. Parcours sans faute. J’ai pensé que le destin de cette femme valait de prendre la plume pour l’édification de mes lecteurs.

 

(Historia, No. 601, 1997, page 65)

 

 

Hồng Y Los Angeles, Roger Mahoney

bao che bẩy linh mục Công Giáo La Mă đạp mái!

 

     V́ vậy, mới đây hệ thống truyền h́nh CBS đă tố cáo hồng y Los Angeles, Roger Mahoney, một trong số người đi phó hội thượng đỉnh ở La Mă, đă che dấu ‘vụ bẩy linh mục đạp mái’, đă cùng nhau hăm hiếp nhiều lần một phụ nữ trẻ người Nam Mỹ.

 

     (Ainsi, la chaine CBS vient d’accuser le cardinal de Los Angeles, Roger Mahoney, l’un des participants au sommet de Rome, d’avoir couvert sept prêtres coupables d’avoir violé ensemble et à plusieurs reprises d’une jeune Hispanique – Le Point, No 1546, 3 Mai 2002, page 71).

 

Hăy Để Tôi Yên!

 

     Freidrick Nietzche nói với em gái: ’Khi tôi chết chỉ có bạn hữu tôi quanh quan tài của tôi thôi. Không cho một đám đông ṭ ṃ nào có mặt. Nhất là không có một tên linh mục nào, hay bất cứ ai đến nói hươu nói vượn ở bên mộ tôi; hăy để tôi xuống mộ như một người ngoại đạo lương thiện. (Promise me that when I die, only my friends shall stand about my coffin, and no inquisitive crowd. See that no priest or any one else utter false words at my graveside, when I can no longer protect myself, and let me descend into my tomb as an honest pagan’.

 

(Freidrick Nietzche, The Story of  Philosophy, Will Durant, page 413).

 

Ghi chú của người dịch: Nietzche, Freud và Marx được người Đức coi là Ba Ngôi của họ!

 

 

Cựu Thống Đốc Oklahoma,

ông Frank Keating gọi Công Giáo La Mă là La Cosa Nostra (Mafia), tức là băng đảng tội ác tôn giáo

 

By Laurie Goodstein

New York Times

(Houston Chronicle 06/16/03)

 

     Cựu Thống Đốc bang Oklahoma, ông Frank Keating, người đă làm cho các giám mục giận dữ, nhưng cũng lại được cảm t́nh của nhiều giáo dân Công Giáo La Mă v́ những phát biểu mạnh dạn của ông tố cáo sự đồng lơa của các giám mục trong vụ tai tiếng sách nhiễu t́nh dục, và theo vài thành viên của uỷ ban cho biết ông dự tính từ chức chủ tịch uỷ ban theo dơi những nỗ lực của giáo hội để giải quyết cơn khủng hoảng.

 

     Đa số thành viên của uỷ ban gồm những người Công Giáo La Mă nổi tiếng, và được các giám mục tín nhiệm đă đồng ư cho rằng đến lúc ông Keating từ chức, sau khi ông cho tờ báo Los Angeles tuần trước phỏng vấn, và ông đă so sánh các giám mục giống như bọn La Cosa Nostra (Mafia), là tổ chức tội ác trong cách che dấu những trọng tội.

 

     Keating nói về những viên chức không được nêu tên của giáo hội Công giáo La Mă là: Đă hành động giống như tổ chức La Cosa  Nostra che dấu và đàn áp, mà theo tôi là vô cùng bệnh hoạn. Nhưng rồi mọi sự cũng sẽ lộ ra hết.

 

     Linh mục Thomas Reese của tờ báo American, một tuần báo của ḍng Jésuit ở New York đă nói: ‘Sự ra đi của ông Keating là một trở ngại của các giám mục, và là một cản trở nữa trên đuờng bạch hóa danh tiếng của các giám  mục.

 

     Linh mục Thomas tiếp:’ Thống đốc Keating phát biểu, trong đoản kỳ, đă làm cho họ bị nhức nhối, nhưng trong trường kỳ, nếu ông c̣n tại chức th́ những báo cáo của ông đưa ra hẳn được tuyệt đối tin tuởng’.

 

     Sự chạm trán của ông với các giám mục, rất hợp với thái độ của nhiều giáo dân, mà một năm trước đây khi ông được đề cử trong lúc khủng hoảng t́nh dục các tu sĩ lên cao điểm, nhưng bây giờ theo một số thành viên của uỷ ban lại là điều trở ngại cho họ trong việc theo dơi việc làm của các giám mục.

 

     Những thành viên của uỷ ban cho biết họ trông đợi thành công trong việc làm cho các giám mục lănh trách nhiệm bằng cách dịu dàng hơn là gay gắt.

 

     Pamela D. Hays, một thành viên của uỷ ban, và là một luật sư ở New York nói: ‘Đa số thành viên của uỷ ban thấy phát biểu của ông ta không thích hợp, và c̣n có thể làm cho việc làm của chúng tôi mất hiệu lực’.

 

     Với tụ họp của các giám mục tuần này ở Saint Louis, lời nói của Keating cũng là gây ra khó khăn cho giám mục Wilson Gregory, của giáo phận Belleville, Ill., là chủ tịch giám mục đoàn nước Mỹ

 

Giám mục Gregory đă chỉ định ông Keating năm ngoái trong nhiệt t́nh cứu văn niềm tin vào các giám mục bằng sự đề bạt một cựu công tố viên nổi danh làm người canh chừng. Nhưng khi bổ nhiệm ông Keating, giám mục này đă không tham khảo với các giám mục nào khác, như cho biết của các viên chức giáo hội vào ngày chủ nhật, ngoài các giám mục ở Oklahoma, là đă tách ra khỏi sự chậm chạp cố hữu cùng sự tham luận dai dẳng chung để lấy quyết định của hội đồng giám mục. Giáo sư tôn giáo của trường đại học Fairfield, Paul F. Lakeland nói: ‘Ngay từ đầu họ đă phạm một sai lầm chiến thuật khi chọn một người quá cứng rắn để điều hành ủy ban’. Ngoài ra giám mục Gregory có thể quá ưu tư khi muốn chọn một người có tiếng độc lập, nên ông đă đi hơi xa, và đă chọn một người chẳng những độc lập mà thôi, mà c̣n nhiều khi chính ḿnh làm khổ ḿnh nữa.

 

     Giáo sư Lakeland, tác giả cuốn sách The Liberation of the Laity: In Search of Accountable Church (Sự tự do của giáo dân: Đi T́m Một Giáo Hội Có Trách Nhiệm), cũng cảm thấy ông rất tiếc khi hay tin sự ra đi của một người có thiện chí khi muốn kêu gọi các giám mục phải chịu lănh trách nhiệm.

 

     Ông tiếp: ‘Tôi có cảm t́nh với ông thống đốc, v́ tôi cũng đă nghĩ rằng có một số giám mục đă không thực tâm cộng tác như họ có thể có’.

 

     Ông Keating hiện nay là chủ tịch tổng giám đốc công ty American Council of Life Insurers, nhưng đă không liên lạc được để thăm ḍ phản ứng của ông. Nhưng một số thành viên của uỷ ban điều hành cho biết ông ta đă bằng  ḷng từ chức sau nhiều lần điện thoại với họ, và với giám mục Gregory. Phó chủ tịch của uỷ ban là bà Anne M. Burke, một chánh án của ṭa phá án bang Illinois cho biết bà sẽ xử lư chủ tịch trong khi chờ đợi ông Keating chính thức xác nhận từ chức.

 

     Bà cố gắng giảm thiểu sự thay đổi như một thông lệ cho rằng ông Keating quá bận rộn khi di chuyển khỏi Oklahoma, và với công việc mới của ông nên ông chỉ nhận làm chủ tịch một năm thôi.

 

     Tuy nhiên, bà Burke cũng cho bết ‘chúng tôi không bằng ḷng về những lời nói không thích hợp của ông’.

 

     Một số thành viên cũng nói vào ngày chủ nhật rằng họ sợ phát biểu của ông Keating đă có thể có ảnh huởng không tốt cho việc làm của uỷ ban. Thành phần uỷ ban gồm những thương gia, luật sư, phân tâm học, và một tâm lư gia từng là nạn nhân của sách nhiễu t́nh dục bởi một linh mục, và một cựu viên chức tham mưu của ṭa Bạch Ốc là ông Leon Panetta. Tất cả đều là giáo dân Công giáo La Mă, và đă được tín nhiệm bởi giám mục địa phương của họ.

 

     Sau lần tụ họp vào mùa thu năm ngoái, các giám mục đă chọn bà Kathleen McChesney, một cựu viên chức FBI, để điều hành văn pḥng bảo vệ trẻ em và thiếu niên của các giám mục. Việc làm của Văn Pḥng này là theo dơi, kiểm tra mỗi giáo phận của 195 giáo phận trên toàn quốc, để kiểm tra xem những giáo phận có thi hành những biện pháp mà hội đồng giám mục Mỹ đă đề ra trong mùa thu trước để ngăn ngừa sách diễu t́nh dục con nít không.

 

     Văn Pḥng cũng đặt những chuyên gia ở đại học h́nh luật John Jay để nghiên cứu sự sách nhiễu t́nh dục con nít trong giáo hội. Những bản tham vấn được gởi đi đă làm cho một số giám mục phản đối khi họ sợ rằng hồ sơ bị rơi vào tay những người khác, và đă xâm phạm quyền riêng tư theo luật của tiểu bang họ.

     Chính ví sự chần chờ này của các giám mục, nhất là các giám mục ở bang Cali, đă khiến cho ông Keating có lời nói nặng tuần trước.

 

     Nhiều nhóm giáo dân Công giáo La Mă đă bênh vực ông Keating. Nhóm The Survivors Network of Those Abused by Priests (Nhóm những nạn nhân ‘Sống Lại’ sau khi là nạn nhân của bọn linh mục sách nhiễu t́nh dục), nh́n thấy sự từ chức vội vă của ông Keating là bằng chứng của sự chống phá uỷ ban của các giám mục.  Họ nói, vào ngày chủ nhật, nếu chúng tôi tin rằng ông Keating hay các thành viên của uỷ ban đă hành động quá thận trọng trong đốc thúc các giám mục phải cải đổi, - th́ phát biểu của ông Keating rằng một số giám mục đă ngăn cản công tố viên, dấu diếm bằng chứng, và cản trở công lư – đă là điều được đông đảo giáo dân đồng ư chia sẻ. Sự bất măn của ông Keating đă biểu lộ chính xác sự nản ḷng mà nhiều giáo dân hay nạn nhân đă cảm thấy mọi ngày.

 

(The Associated Press contributed to this report).

 

Lời Bàn

 

     Giám mục Gregory, chủ tịch hội đồng giám mục Mỹ, khi đề cử và chỉ định cựu thống đốc Oklahoma, làm chủ tịch uỷ ban theo dơi việc thi hành những quyết định của hội đồng giám mục Mỹ, phải là một chọn lựa và quyết định rất thận trọng của ông. Kinh nghiệm, khả năng và uy tín của một giám mục được bầu làm chủ tịch hội đồng giám mục phải đủ điều kiện về tư cách, kinh lịch và thử thách khó khăn để lănh đạo, nếu người ta không muốn coi chủ tịch hội đồng giám mục là một sự trang trí bề ngoài, một tṛ chơi! Như vậy, việc lựa chọn ông Frank Keating vào chức vụ điều hành uỷ ban phải được coi là chính, xác và nghiêm chỉnh. Hơn nữa, sau khi được đề cử rồi, nếu thấy có trục trặc tại sao không có phản ứng, v́ bất cứ lúc nào ông Keating cũng có thể từ chức được, nếu có chứng tỏ rằng ông không đủ tiêu chuẩn. Phải nhận rằng khi các tu sĩ, nhất là các giám mục phải chịu điều tra, ḍ hỏi theo dơi của một chủ tịch ủy ban, hay uỷ ban  gồm những giáo dân thường, là một điều phạm rất nặng vào cao ngạo tự ái của các giám mục, mà hàng giáo phẩm từ lâu sống trong quyền lực không giới hạn, khi tổ chức đạo, và những ḍng tu hoàn toàn bưng bít như một cung cấm. Nhưng phát biểu của ông Frank Keating đúng hay sai? Thưa hoàn toàn sai. V́ La Cosa Nostra là tổ chức tội ác, họ là những kẻ bất lương sát nhân. Tuy vậy, họ vẫn sợ pháp luật, và nước Mỹ đă bài trừ được tổ chức tội ác đó, và nhiều đầu đảng đă phải vào tù. Nhưng giáo hội Công Giáo La Mă, là một tổ chức xưng nhận là thánh thiện đạo đức, nên khi bị tố cáo có những linh mục công ngủ hiếp dâm, sách nhiễu t́nh dục con nít, khi chúng không có khả năng tự vệ, có thể nói là đồi bại hơn bọn Mafia nhiều lắm! Đă thế hàng giáo phẩm lại bưng bít, bao che, đàn áp và cản trở công lư, th́ phải nhận rằng La Cosa Nostra c̣n thua xa giáo hội ‘thánh thiện?’, Tổ chức Mafia phải vận dụng bạo lực để kiếm tiền. Tổ chức tôn giáo, qua bao đời, nhất là cộng tác được với đế quốc thực dân, đă là ngư ông thủ lợi trong chia chác, tranh giành và phân chia vùng ảnh hưởng, hay tầm gửi vào quyền lực thế gian để bành trướng bá quyền, củng cố đạo quyền tích tụ tiền bạc, hưởng phúc trần gian, nhân danh Chúa. La Cosa Nostra không đáng buộc giây giầy cho giáo hội, về những hoạt động gian manh tàn ác, như đốt người trên dàn hỏa. Vấn đề cốt tủy đặt ra là giáo hội có thực tâm bài trừ những con chiên ghẻ trong hàng ngũ giáo phẩm hay không? C̣n bào chữa chạy tội rằng có hay không, th́ giáo sử và những cáo buộc gây ra tai tiếng t́nh dục, và giáo phận phải bỏ triệu triệu đô la ra bồi thường và điều đ́nh, th́ nhắc lại những bài báo hay những tố cáo cũng bằng thừa vô ích thôi.

 

     Đầu thiên kỷ thứ ba giáo hoàng Gioan Phalồ II đă nói đến Jubilee (Hân hoán đón chào) một thời đại mới, nhưng thời đại đă bắt đầu bằng chiến dịch báo chí toàn cầu tố cáo các linh mục hiếp dâm và sách nhiễu con nít. Đó là may hay không may? Theo chúng tôi đó là điều may, mắn vĩ đại nhất mà theo cách nói của người Công giáo bảo thủ, cố t́nh bào chữa cho Giáo hội là ơn Chúa Thánh Thần tràn đổ để Thánh hóa Giáo Hội!  Giáo hội phải mau lẹ và thành khẩn đón nhận ơn trên đó. Nếu không sẽ xẩy ra như ông Keating xác nhận: ‘Nhưng rồi mọi sự sẽ lộ ra!’

 

     Đừng để La Cosa Nostra thấy giáo hội là mảnh đất mầu mỡ an toàn, và chúng xâm nhập, nấp trong giáo hội để bành trướng, và biết đâu cũng chịu chia chác với giáo hội? Đừng để hải tặc Thái Lan hay các tội phạm h́nh sự than văn v́ chúng không có áo chùng nên chúng bị phỉ nhổ, trừng phạt nặng, c̣n các cha lắp đít dâm dục nhờ có áo chùng nên đă được an toàn thoải mái, và bao che trên đường sa đọa tội lỗi dâm dục của họ!

 

     Đừng quên, giáo hội Vatican từng cộng tác chặt chẽ với Mafia Ư để chống lại đảng CS Ư trong thời chiến tranh lạnh, mà kết quả thảm hại là chúng đă lấy tiền của giáo hội đầu tư vào những dược cuộc sản xuất thuốc phá thai, ngừa thai, là chủ trương ngăn cấm của giáo hội. Đừng quên ngân hàng ṭa thánh đă bị phá sản v́ không trông cậy vào Chúa, mà đă trông cậy vào Mafia! Không phải bốc đồng, và sơ xuất mà một ngày người Công giáo thực ḷng, và có uy tín Frank Keating phải nói lời đau buốt, nặng nề để các giám mục thấy nhức nhối. Nhưng thành thật nói, ông Keating so sánh sai, hay là không bao giờ dù phải cố gắng phi thường lắm La Cosa Nostra mới được coi bằng một chút xíu của Giáo hội Công giáo La Mă. Không bao giờ, không bao giờ và không bao giờ! Hàng ngày báo chí loan tin các phạm nhân t́nh dục bị đưa ra ṭa, và chịu án rất nặng nề. Các giám mục, nếu bao che tội ác dâm dục của bọn linh mục, lấy tiền quyên góp của giáo dân hầu việc Chúa, có cảm thấy đă phản bội Chúa, và bất công không?

 

Uỷ Ban Công Lư của

Giáo hội công Giáo La Mă là

cái tṛ hề ǵ của đoàn xiệc Rô-Ma?

 

 

 

Bôi bẩn Công Giáo làm lợi cho ai?

 

     Bài ‘Bôi bẩn Công giáo làm lợi cho ai?’ của Nguyễn Phi Thọ, trong sách Dưới Một Bóng Cơ là đề tài của bài báo này. Khi viết để tấn công hai ông Trương Trọng Trác, và bác sĩ Nguyễn Đức Tuệ (của báo Ngày Nay-Houston), NPT đă buộc tội họ bôi bẩn Công Giáo, và hỏi làm lợi cho ai, là hai điều rất quan trọng, không thể buộc tội vội vàng hấp tấp, và bắt phải chịu trách nhiệm oan ức, rồi ‘vác búa ra đ̣i đóng đinh ngay vào hai cây gỗ’. Theo tôi là cần phải viết cho có sức thuyết phục trước khi kéo hai ông đó nạp mạng trên núi Sọ!  Như thế, h́nh như NPT đă hạ giá thập tự, dù Charlie Nguyễn Đôminic Bùi Văn Chấn đă viết chính xác là đạo Công giáo lạm phát danh từ ‘thánh’ khi gọi hai khúc gỗ treo thân xác Giêsu chỉ là một h́nh cụ, không có ǵ phải suy tôn quá đáng hai khúc gỗ rẻ tiền ấy là thánh giá. V́ nếu Giêsu bị thắt cổ th́ sợi giây là ‘thánh tḥng lọng’ hay nếu bị chặt đầu bằng mă tấu th́ giáo hội có ngay ‘thánh mă tấu’ sao? Thánh là người có công tu tập trở thành thánh thiện, và gương mẫu đạo đức. Khó có chuyện mấy khúc gỗ hay sợi giây trở thành thánh được, ngoại trừ ‘ngu đạo’! Bọn vatican chưa bao giờ dám phong chân phước, hay phong thánh cho một khúc gỗ, sợi giây, cái búa, con dao nào, phải vậy không?

 

     Bởi vậy, phải xác định thật đúng, thật rơ thế nào là bôi bẩn? Với hai ngàn năm tác quái, lộng hành, dùng Thượng đế để khủng bố, hăm dọa, khống chế, nô lệ hoá con người thực dân đế quốc, xúi bẩy khuyến khích chúng làm chiến tranh uỷ nhiệm … tội ác núi xương sông máu của Công Giáo La Mă, có phải là bẩn hơn bẩn, bẩn vô cùng, bẩn không thể nào tả xiết chăng? Ngày nay lại có tai tiếng t́nh dục của bọn linh mục dâm tặc tục quần phơi chim (priests loosing pants), vậy có cần ai nữa, hay hai ông Trác và ông Tuệ phải bôi bẩn thêm nữa không? Bởi vậy, nếu chỉ viết để thỏa măn bản chất cấm đoán, ‘đánh phủ đầu’ những ai viết về đạo phiệt, hay bợ đỡ nâng bi lố lăng bọn La Mă, NPT có thể vung bút, nhưng thành công thuyết phục không bao nhiêu, chỉ để lại trong bài viết dấu vết của năo trạng cuồng tín ngu nghiện đạo. Thời thực dân hay Cần Lao Công Giáo, NPT làm được, ít nhất là qua giáo hội vận dụng bộ thông tin, nha báo chí, sở kiểm duyệt cấm đoán, tịch thu báo vv … hay cũng có thể xử dụng giáo dân cuồng tín ngu nghiện đạo khủng bố bạo hành. Nhưng ở đây, không có bộ thông tin, nha báo chí, sở kiểm duyệt, luật pháp hữu hiệu nghiêm khắc, đa số kết án bạo động, NPT không thể ngăn cản cấm đoán. C̣n nếu viết, và dùng lư luận sắc bén, nếu không hợp t́nh cũng phải hợp lư, NPT đă không có ng̣i bút để làm người đọc đồng ư, và khâm phục. Khi giáo hoàng Gioan Phaolồ II phải nhiều lần công khai lên tiếng xin lỗi, và sám hối về tội ác của đạo, đương nhiên NPT phải biết địa ngục trần gian: l’enfer c’est l’Église, do giáo hội Công giáo làm ra chứ! Không lẽ, hết việc làm, vô công rồi nghề, y bầy ra màn kịch ăn năn đấm ngực trên sân khấu đạo sao? Do đó, nếu có thể thiết lập ṭa án dị giáo (inquisition) để kết án hai ông Trác và Tuệ, ngọn lửa của dàn hỏa không cháy được, v́ sự ẩm ướt của tầm thường như đại hồng thủy tràn ngập bài của NPT.

 

     C̣n xét về làm lợi cho ai?, có thể trả lời ngay là Làm Lợi Cho Đạo Ki, Đạo Tô nhiều lắm! Thật thế, NPT là người Công giáo, lạ ǵ lời kinh nguyện :’Xin mang yêu thương vào nơi hận thù, mang áng sáng vào chỗ tối tăm!’ Giả thử hai ông Trác và Tuệ vu cáo, hay bôi bẩn, th́ bài viết của họ là thử thách cho đạo và giáo dân qua lời kinh nguyện trên thôi! Phải cám ơn Chúa hay Thánh Thần đă tràn đổ ‘lênh láng’ ơn thử thách cho giáo hội và giáo dân để từ đó được thánh hóa và trở nên xứng đáng với xưng nhận là ‘người có đạo’, ‘người có đạo chân thật (Christian)!’ NPT sao có thể viết một câu quá sơ hở như: ‘Có ghét đạo cũng vừa vừa thôi chứ!’ Thế nào là ít, là vừa là quá? Đạo Công Giáo La Mă thù ghét dân Do-Thái suốt hai ngàn năm, đốt hàng triệu người trên dàn hỏa là h́nh phạt man ri mọi rợ không kém, hay c̣n hơn xa nhục h́nh đóng đanh vào hai khúc gỗ nữa, vậy theo NPT thế nào là ít, là vừa, là quá? Sao NPT không nhắc các cha dâm tặc vừa vừa thôi chứ! Hăm hiếp các bà sơ lớn tuổi thôi cũng được, sao quá đáng đến nỗi bắt con nít chổng mông lên cho các cha hải tặc lắp đít?

 

     Đă thế NPT c̣n lạc đề nữa, khi viện dẫn các sắc dân Anh, Pháp, Mỹ, Tầu, Nhật vv… vào bài viết để làm ǵ vậy? Bài viết của bs Tuệ chỉ là về tai tiếng của bọn linh mục dâm tặc tụt quần phơi chim thôi, không cần phải đặt chuyện mầu da săc tộc. Nhất là bây giờ, thế giới trở thành thôn xóm (the village world), với những tổ chức ‘Bác sĩ không biên giới’, ‘Luật sư không biên giới’, ‘Truyền thông không biên giới’ (meida without border). Hơn nữa, báo Việt ngữ ở ngoài này, hầu hết không có các hăng thông tấn, nên phải dịch lại hay trích dẫn báo ngoại quốc để làm công tác truyền thông, bao năm rồi, có ǵ phải ngạc nhiên? Là người Công Giáo La Mă, NPT lại cố t́nh không biết giáo hội đạo phiệt ấy muốn xoá bỏ mọi ranh giới sắc tộc để trói chặt mọi người vào một định chế hà khắc độc tài là nước Chúa Vatican sao? Con người phải khốn khổ làm dân Chúa cho một đế quốc thực dân đạo, đến nỗi giáo dân ta thường hănh diện đặt để tổ quốc dưới đít thối của bọn Vatican bằng cách tâng bốc nịnh bợ nâng bi lố bịch Vatican, có lẽ hơn hết mọi dân tộc khác, khi phát biểu vô liêm sỉ, không biết ngượng Thiên Chúa, Giáo hội và Tổ Quốc! Nếu không có chiến thắng Điện Biên Phủ, Tây Công giáo sẽ, vẫn c̣n là thực dân đô hộ, và câu hát của TCS sẽ thành :’Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu, một vạn năm nô lệ giặc Tây hay lâu hơn nữa’. NPT đưa ra một ‘cấm đoán’ bệnh hoạn là báo Playboy có thể chỉ trích, hay buộc tội giáo hoàng, Đức Đại Lạt Ma, nhưng báo Việt ngữ không làm được? Giáo hoàng hay Đức Đại Lạt Ma là những tu sĩ, nếu có những lư do đúng/sai để chỉ trích hay buộc tội sao không làm được, hoặc không được làm? Muốn ngăn cấm phải có luật cấm, c̣n cá nhân chỉ là góp ư thôi, không ràng buộc hay có giá trị ǵ về pháp lư cả! C̣n tu sĩ, bất cứ cấp bậc nào, nếu phạm tội, đều phải chịu phê phán của công luận hay xa hơn là phải đưa ra ṭa xét xử, và bị phạt tù, hay phạt tiền như tư pháp Mỹ đă, đang và sẽ làm vv… NPT c̣n độc đoán ‘báo phiệt’ hơn khi cái buộc ông  Trác chỉ chơi với bác sĩ, luật sư, chính khách. Tại sao và v́ những lư do nào ông Trác không được quen biết, và liên hệ thân thiết với những người như thế? Theo tôi, th́ nên hỏi ngược lại là tại sao các bác sĩ, luật sư, và chính khách không chịu chơi với NPT? C̣n nếu bị tức điên lên v́ bác sĩ, luật sư, và chính khách chơi với ông Trác nhưng ‘không thèm’ chơi với NPT, sao không mang bác sĩ, luật sư, và chính khách ra đóng đinh, ở đây đinh và gỗ 2x4 rẻ ề?

 

     Lư do chính để viết bài tấn công hai ông Trác, và ông Tuệ v́ họ dám viết bài về tai tiêếg của bọn linh mục Cômh Giáo La mă dâm tặc tụt quần, phơi chim hăm hiếp các bà sơ, các nữ tu tập sự, và vác dương vật ra đưa ra hậu môn các trẻ em. Nhưng khi lập luận NPT đă càng sa đọa hơn như bắt lỗi tại sao viết là đưa dương vật vào hậu môn? Như vậy là tục tĩu sao? NPT nên ra ṭa xin các biên bản đă được công bố cho công chúng (public records) hay những án lệ, th́ tội danh (charge) họ viết rất chính xác dù đọc nghe sống sượng, nhưng bắt buộc phải viết thật đúng về tội danh để chiếu theo luật mà phạt nhẹ hay nặng, phạt đúng hay phạt không đúng mà thôi! Bởi thế, sodomy là đưa dương vật vào hậu môn, hăm hiếp là sexual assault, đưa dương vật vào miệng là oral sex, như một màn tŕnh diễn thổi kèn trên xa lộ North 45., NPT ở Houston, chắc phải biết vụ một ông cha cố ḍng Đa-Minh đă để cho nữ giáo dân rất ngoan đạo thổi kèn ở một băi đậu xe công cộng ấy chứ!  Xin đọc biên bản … the defendant places his genitals into the mouth of … như vậy là rơ ràng là đưa dương vật vào miệng … những tội phạm như thế, nhân viên công lực bắt quả tang không thể viết khác được. Ví dụ, nhân viên công lực viết đưa dương vật vào âm hộ nữ giáo dân, th́ phải viết là hăm hiếp, rape hay sexual assault. Nhưng tội đó nặng hơn, và bị phạt tiền và tù nhiều hơn. Như vậy là gây ra oan ức cho bị can, phạm một tội lại bị phạt v́ tội khác nặng hơn! Cứ cho là ông cha hăm hiếp nữ giáo dân, dẫu không bị bắt, nhưng Chúa biết (?), vẫn có di lụy nặng hơn, khi nữ giáo dân mang bầu, và đẻ con riêng, con rơi của cha! Từ đó sẽ có biển thủ tiền bạc của giáo phận để chu cấp cho con riêng, giáo hội sẽ bị thiệt tḥi hơn nữa v́ mất của, thêm với tai tiếng dâm ô của ông cha. Ông Trác nói đến việc đưa mẹ ông ấy đi Chùa, đó là chuyện riêng của ông ta. Không nên nhắc lại trong bài viết với ngầm ư mang mẹ người khác ra để làm áp lực, để xách mé, không đúng tư cách của người có đạo, của báo đạo. Trừ trường hợp đạo … tặc! Mẹ ông Trác hay mẹ NPT đều phải được tôn trọng, và các bà mẹ không có liên hệ, trách nhiệm ǵ đến việc viết báo của ông Trác hay NPT.

 

     Nhưng NPT đă xuống hố khi đưa ra một ví dụ trong đó có việc giả tưởng ông Trác đưa dương vật vào miệng một gái măi dâm, bị cảnh sát hạt Harris County bắt quả tang! Thật vậy, như đă nói về một cha cố ḍng Đa-Minh ta bị bắt ở băi đậu xe của nhà hàng Walgreens bên xa lộ 45N., khi ông cha cố này đưa dương vật vào miệng một nữ giáo dân. Đó là sự thật có biên bản cho công chúng (public records), và bên trên chúng tôi đă nhắc lại bút lục … to place his genitals in the mouth of … Lấy ví dụ ấy ra, và thay tên ông cha, và nữ giáo dân rất ngoan đạo vào, hẳn có một VÍ DỤ tuyệt vời, đặt căn bản trên sự việc xẩy ra, không phải là tưởng tượng (fiction)! C̣n viết thế nào khác để vừa ḷng NPT? Chúng tôi xin cố găng, dù biết khó được như ư, để viết là: ’Sáng sớm ngày … tại… một nữ giáo dân rất ngoan đạo tên là … đă thổi kèn chào b́nh minh cho một đấng bậc của ḍng … thế danh làthánh danh là …’.Cả hai can phạm cung xúc tu sỉ tại chỗ công cộng được ghi rơ ngày giờ, tên tuổi, địa chỉ và nghề nghiệp.

 

     Chúng tôi đă thắc mắc là ví thử nữ giáo dân rất ngoan đạo cùng một lúc chịu ḿnh thánh, và thổi kèn có được không? Người được hỏi không trả lời, nhưng chúng tôi nghĩ Chúa cũng như cha, cha cũng như Chúa, nên không có ǵ trở ngại hết. A-lê-luia!!!

 

     Tiếp theo là cũng đưa được tên của Giêsu, và tên của Magdalena vào được thí dụ đó, v́ họ là hai người yêu nhau. Phải công nhận ng̣i bút của NPT đă mở tung ra cánh cửa đập (the floogate) để cho ḍng nước ví dụ tràn ra khắp nơi, và với nhiều nhân vật nổi tiếng, và có thật, không phải là một ví dụ giả tưởng (fiction) nữa!

 

     Các ông Trác và ông Tuệ trả lời hay không là việc của họ, ĐDTB lên tiếng v́ thấy lập luận của NPT quá nông nổi yếu đuối, không có sức mạnh của ơn Chúa Thánh Thần tràn đổ lênh láng. Việc làm của ĐDTB không hề do ác cảm ác ư, v́ chúng tôi không hề quen biết, hay có cạnh tranh với nhau, hoàn toàn đặt cơ sở bài viết trên lư luận của NPT. Chúng tôi chỉ làm bổn phận để bầy tỏ ư kiến, và phản đối việc ‘đánh phủ đầu’ bất cứ ai viết về Công giáo La Mă, nhất là về vụ tai tiếng t́nh dục của bọn linh mục dâm tặc tụt quần phơi cu (Priests loosing pants), báo chí ngoại quốc gọi là điếm (pimp), linh mục hoang đàng (rogue priests), và bỉ ổi (sordid).

 

     NPT hay đạo nên nhớ những giảng dậy yêu thương kẻ thù, công bằng bác ái, khoan dung tha thứ … nếu không nhận ra được sự thật ‘trần truồng, lơa lồ bẩn thỉu’ trong vụ tai tiếng bỉ ổi của bọn linh mục gian dâm phóng đăng, mèo mả gà đồng, cũng nên tự chế im lặng th́ phải hơn. Nếu Vatican độc tài giáo phiệt (cách gọi của Tản Vên Cư Sĩ) coi thường khinh rẻ giáo phẩm và giáo dân ta v́ chúng là bọn thực dân đạo bóc lột khai thác, và lộng quyền. C̣n đối với các ông Trác, ông Tuệ, là người đồng hương, cùng da vàng với nhau, không nên dựa hơi ngoại nhân để ngăn cản cấm đoán họ đăng báo, và thật ra ông Tuệ viết chưa bằng một đầu kim nhỏ trên tảng băng tội ác dâm dục xa đọa nhiều đời của bọn linh mục Công Giáo La Mă. Xin đọc sách bán ở Vatican, ở Pháp, Ư là sách ‘Cuốn theo chiều gió ở Vatican’ (ấn bản trên 700,000 cuốn) của đức ông Luigi Marinelli, hay sách Saints and Sinners, cũng bán khắp Âu Châu, để thấy chính những tu sĩ can đảm, và những nghiên cứu gia dầy kinh nghiệm viết ra những điều ghê tởm của đạo, có thể nói quỷ dâm dục mặc áo tu đưa dương vật lung tung của đạo có mặt khắp nơi, đánh bật hẳn sự có mặt khắp nơi của Đức Chúa Trời. Hơn xa bản tóm lược quá vắn tắt của bs Tuệ. Nếu trách bs Tuệ, th́ chỉ có một cách là buộc tội ông ấy viết quá ít về tôi ông ấy viết quá ít về tai tiếng dâm dục của bọn linh mục Công Giáo La Mă hăm hiếp các bà sơ, nữ tu tập sự, và đưa dương vật vào hậu môn các chú bé giúp lễ … Đáng thương, và cần bảo vệ bằng mọi giá là các em thơ, c̣n các bà sơ, các nữ tu tập sự, dầu sao họ cũng đă khá khôn lớn để biết cách tự vệ. Hoặc họ ‘đồng thuận’, nên không buộc tội các cha hiếp dâm được! Đă thế, họ phải biết Cha cũng như Chúa, Chúa cũng như cha chứ nhỉ! Sao có thể ngớ ngẩn không biết:’ Thà mất trinh chẳng thà mất Cha, mất Chúa!’ phải vậy không?

 

     Thêm một điều nữa là NPT đă cho biết đạo đức Âu Mỹ khác đạo đức Á Đông, Việt Nam ta. Hoàn toàn sai lầm. H́nh thức, tập quán phong tục, luật tắc khác nhau, nhưng trong cốt tủy vẫn cùng một thứ đạo đức luân lư thôi. Không nơi nào đồng ư khuyến khích giết người. Dù h́nh phạt hay điều tra xét xử khác nhau. Vượt xa trên hết mọi sự giết người là đạo Công giáo La Mă, trong h́nh phạt man ri mọi rợ, không có một chút xíu nào ơn nhân từ tràn đổ của Chúa Thánh Thần là thảm họa đốt người trên dàn hỏa để tranh giành, cướp đoạt quyền lợi, danh vọng, tiền bạc tài sản của bọn Bạch Quỷ Vatican. Và hưởng phúc trần gian của bọn linh mục Tề Tuyên, Lê Ngọa Triều, Tây Môn Khánh. Hay là loạn luân nổi bật nhất trên hoàn cầu từ xưa đến nay, và măi măi về sau của Ba Ngôi sài chung một phụ nữ là bà Maria. NPT hăy viết bài bênh vực vụ khám phá ra Bốn Ngôi (Quartet) của báo Newsweek, được kể lại trong một bài viết của Charlie Nguyễn Đôminíc Bùi Văn Chấn!

 

     Do đó, bài viết của bs Tuệ hay những bài báo ngoại quốc lật tẩy bọn linh mục dâm ô, mới đọc có thể đau buồn, nhưng là phát giác để biết bọn lưu manh tu hành nấp sau áo tu đưa đạo xuống Vực Thẳm. Đừng quên đạo có Uỷ Ban Công Lư, nếu tất cả mọi người phải chịu tuân hành luật pháp, các tu sĩ của đạo Công Giáo cũng phải tuân hành luật pháp, và hơn hết tránh không để Uỷ Ban Công Lư Công Giáo La Mă phải chịu tai tiếng là một Uỷ Ban Tṛ Hề! Một Uỷ Ban Bịp! Một Uỷ Ban Đại Bịp!

 

     Khi nói đến các độc giả Công Giáo bỏ tiền ra mua báo Ngày Nay để bị ông Trác coi là bọn ngu, chúng tôi thấy ngay áp lực hạ cấp bao vây kinh tế nhằm đánh bể nồi cơm của người khác, nhằm bảo vệ lập luận què quặt của ḿnh. Triết gia hàng đầu của thế giới là Ngài Bertrand Russell, cũng từng bị đạo Công Giáo áp lực, băi chức giáo sư trong những đại học của đạo. Nhưng ông vẫn viết và thành công cuốn: ‘Why I am not a Christian’, cũng đă thấy dịch sang Việt ngữ, và bầy bán nhiều nơi để đồng bào Công giáo ta có sách báo tư liệu nghiên cứu, phát hiện ra thân phận phải làm nô lệ cho bọn Vatican, trong cách gọi bọc đường, nhưng mất nhân phẩm, là con chiên, đúng là một con vật, là con người đă bị tước đoạt lư trí để phải sống ngu nghiện đạo trong Đức Tin Mù! Từ bỏ ông cha tổ tiên để hướng về nước Chúa Vatican, tôn thờ sợ hăi bọn thực dân giả cầy La Mă, sao lăng anh hùng liệt sĩ, đất nuớc dân tộc, để chỉ mong được về với các thánh tổ Abrham, Môi-se, Gia-kốp, cũng lại chỉ là bọn thánh tổ giả cầy, chỉ v́ đồng bào Công giáo đă quá quen thuộc với truyền thống ‘ăn thịt chó!’

 

     Tóm lại, hăy bênh vực nghiêm chỉnh, không nên chạy tội bằng ngôn ngữ uất hận thù ghét!

 

     Hăy tranh luận trên cơ sở lập luận của bài báo, không nên lôi kéo cha mẹ, họ hàng anh em bà con bạn bè của tác giả bài viết để làm áp lực

 

     Là người có đạo, tin thờ Chúa, nên trông cậy quyền phép vô cùng của Chúa. Các tu sĩ và các báo đạo hay cá nhân có đạo, nên chứng tỏ đời sống có Chúa, hơn là dùng Chúa làm dáng, trang điểm thẩm mỹ bên ngoài. Để bên trong đúng là tổ chức tội ác tôn giáo (the religion organized crime), th́ bẩn quá, ai c̣n bôi bẩn được thêm nữa? Xin đón đọc:

 

Tích Tiểu Thành

Đại… Họa hay là

Tai Tiếng t́nh Dục của

bọn linh mục

Công Giáo La Mă dâm tặc

 

     Giuse PHT trích dẫn các bài báo ngoại quốc và dịch sang Việt ngữ, ĐDTB sắp ấn loát & phát hành. Tất cả mọi người yêu tự do ngôn luận, bất kể ngoài Công Giáo La Mă hay không, đều được viết về mọi sinh hoạt có ảnh hưởng hay gây tác hại cho nhiều nạn nhân, nhất là trẻ thơ bị các cha lắp đít!

 

     Đừng nghĩ những người có đạo Công Giáo La Mă, đương nhiên phải về phe, vào hùa để chạy tội, bao che, làm ngơ cho bọn linh mục lưu manh công ngủ. Đó là đóng đanh Chúa lần nữa đấy, thấy không?

 

 

ĐDTB

PHT

 

 

Đức Mẹ Chẩy

Nước Mắt Máu

 

     Một giám mục nh́n thấy tượng đồng trinh khóc, đă xác nhận là một hiện tượng hiếm có. (Ghi chú của người dịch: Từ lâu đức mẹ chỉ dám hiện ra với … con nít thôi!) Chỉ riêng giáo hoàng Piô XII, là người độc nhất vào lúc cuối đời, đă được thị kiến Đấng Cứu Thế (?) Khi tôi ôm tượng trong tay, một giọt nước mắt chẩy ra từ mắt phải. Người đă xác nhận hiện tượng đó, không phải là bất cứ phó thường dân nào. Nhưng chính là giám mục ở Civitavecchia-Tarquinia, cách La Mă 100 cây số. Người ấy, bên ngoài không có ǵ tỏ ra là một người nổi tiếng. Chuyên viên về nhân chủng này cũng lại là một người rất thực tiễn không lẫn lộn bong bóng với đèn lồng. Như vậy là 12 năm qua, sau khi giữ bộ trưởng ngoại giao ṭa thánh của triều Phalồ VI, rồi giám mục của giáo phận Cassano Ionio, miền Calabre, đức ông Girolamo Grillo, 65 tuổi, cầm đầu một giáo phận của một hải cảng nhỏ ở Địa Trung Hải, có độ 60,000 dân. Tượng nào? Đúng ra là một loại tượng thạch cao nhỏ. Cao 43 phân, giống bất cứ một bức tượng nào khác người ta bầy bán thừa mứa tại những tiệm bách hóa ở những trung tâm hành hương. Một nữ Đồng Trinh khóc như điên. Chẳng có ǵ khiến cho giám mục phải xúc động, v́ khắp nước Ư đă có rất nhiều rồi! Nhưng chẩy nước mắt máu mới hiếm. V́, đây là hiện tượng ông thấy tận mắt, và người ta công nhận rằng đây là sự cả thể lần thứ 14. Cũng v́ lư do đó, giám mục phải mang cất  tượng thánh trong nhà riêng của giáo phận, v́ ngày 2 tháng 2, khi người ta xác nhận lần đầu ’phép lạ’, những tín đồ đă không ngừng đổ dồn tới. Như vậy, là có  ǵ để cho những thừa kế của các tông đồ có việc bận rộn.

 

     Tất cả thực ra đẫ xẩy ra ngày 2 tháng 2. Ngày đó giáo hội cử hành lễ Chandeleur, tức là lễ tiến dâng Chúa nơi đền thờ, con trẻ tên là Giê-su theo luật Do-Thái, phải làm 40 ngày khi sinh ra.

 

     Ngày đó, đứa con gái 5 tuổi, tên là Jessica Gregori chạy vội vào cha nó. V́ một tượng Đức Bà, do cha sở giáo xứ Saint Augustinô là cha Don Pedro, 48 tuổi, mang về theo lời xin của nó, năm tháng sau khi cha đi hành hương Medjugorje về, tượng đă chẩy ra những gịng nước mắt. Măi cho đến khi ấy, vẫn chưa có chuyện ǵ xôi đọng. Cũng theo con gái, Fabio, 32 tuổi, công nhân hang Enel l’E.d.f. của Ư, đă chỉ có thể xác nhận như sau: tượng chẩy nước mắt mầu đỏ từ đôi mắt. Tin đồn loan đi mau hơn thuốc súng. mảnh vườn nhỏ khiêm tốn của Gregori trong khu vực lkỹ nghệ Scaglia bị tràn ngập. Cha sở Pedro  tỏ ra ngờ vực. Cha biết rằng có nhiều chỗ đă làm ra các tṛ phịa ma quỷ để gây ra tin rằng phép lạ xẩy ra nhằm kiếm tiền (như kháng chiến chống Cộng).

 

     Nhưng trong đám đông không có nhiều người biết suy nghĩ chính chắn, ngay thẳng, nên mù quáng tin bất cứ cái ǵ. Có một sĩ quan cao cấp, trưởng ty cảnh sát, cũng là ông thị trưởng Petrio Tidei, một người Cộng sản trung kiên, một người giác ngộ, như nhân vật Peppone trong chuyện cha xứ Don Camillo. Ông xoa tay thoải mái, liên tưởng đến nguồn lợi nhờ chuyện này có thể mang tới. Ông nghĩ đến việc cấp một miếng đất để dựng lên một nhà thờ để thờ tượng, rồi chờ những khách sạn được xây lên chung quanh, và dĩ nhiên chắc chắn không thiếu những con buôn trong đền thánh. Trước sự hăng hái đó, cha xứ Pedro cũng không thể nào dửng dưng được. Cha quyết đi gặp giám mục của cha để báo cáo chuyện đă xẩy ra. Giám mục đón nhận với sự trang trọng. Nhưng với thận trọng và cần phải có lư; giám mục đề nghị mang tượng đến nhà ông, để tránh khỏi con mắt của đám đông. Nhưng chính v́ cũng bởi khi dang tay ra đón tựông, giám mục Grillo cũng là nhân chứng hiện tượng phép lạ: một giọt nước mắt chẩy ra từ mắt bên phải của tượng. Sững sờ, ông mang tượng đến La Mă, cho hai bác học của hai đại học y khoa uy tín, là đại học Sapienza, và đại học Gemelli, nơi giáo hoàng Gioan Phaolồ II đến khám bệnh, trị bệnh nhiều lần. Biên bản của những giáo sư Ronchi và Fiori không thể bài bác được; h́nh chụp và khám xét cho thấy không nghi ngờ có một chút giả mạo nào, v́ đó là máu người nhưng thuộc về nhóm (A, B, hay O) th́ không sao biết được. Giám mục Grillo không chịu ngừng tại đó. Ông xin yết kiến nhân vật số hai của giáo hội, hồng y Joseph Ratzinger, phụ trách thánh bộ bảo vệ và trưyền bá Đức Tin, một giáo phẩm rất nghiêm khắc. Hồng y này đă ân cần lắng nghe, và quyết định  thành lập một ban điều tra gồm các chuyên viên, và các nhà thần học. Người ta tiến hành việc ấy. Trừ ra việc,dân chúng v́ mất tượng làm phép lạ, nổi tiếng đó, nên đă đ̣i phải mang trả lại tượng cho nhà thờ Augustinô. Áp lực đến nỗi giám mục phải mang trả. Được hứa trả lại, tượng sẽ trở về vào thứ Tư tuần thánh, ngày đó, người ta đợi một biển người tràn ngập, bất kể sự giận dữ của những người chống đạo, những phe phái, những ông đạo đủ loại đă bất măn v́ bị mất khách hàng.

 

     Ở nước Ư, người ta khỏi cần đếm những tượng nữ đồng trinh khóc nữa. Từ năm 1991, đă có ít nhất bẩy vụ. Ở Tarquinia, ở Terni, ở Sabacio, ở Chieti, ở Castrovillari. Một số bi quan nói cũng dễ hiểu thôi khi kinh tế mùa thu ở bán đảo (Ư), là dịp cho Đức Mẹ khóc ngất. Trong một điều tra rất khách quan, và nồng nhiệt,sách của tác giả Yves Chi ron tựa là ‘Điều tra của những hiện ra của Nữ Đồng Trinh’ (Nhà xuất bản Perrin-Martin) đă đếm chỉ riêng thế kỷ XX đă có 362 lần hiện ra, mà từ 1983 dến 1993 đă có 60 lần, coi như một kỷ lục. Trong khi ấy, thế kỷ XIX đă có những hiện ra đáng kể, tiêu biểu như hiện ra ở Lộ Đức (1858) là chỗ Đức Mẹ hiện ra 18 lần với cô Bernadette Soubirous. Đến lần thứ 15, Đức Mẹ mới cho cô biết: ‘Ta là Vô Nhiễm nguyên tội’. Kể từ đó, mỗi năm có khoảng 5 triệu người hành hương chỗ đó, trước kia là một quận hạt không tên tuổi, trong miền Pyrénnée. Ba triệu cây nến được đốt trong hang, và 400,000 khách hành hương đă tắm nước suối với hy vọng được lành bệnh. Nhưng trong 5,000 trường hợp được lành bệnh được cho biết, chỉ có 64 trường hợp được giáo hội công nhận là phép lạ. Con số ấy thật là ít, và chứng tỏ giáo quyền rất nghiêm ngặt trong vấn đề đó. mười hai năm trứoc Lộ Đức, ở Salette cũng có nữ Đ̣ng Trinh hiện ra với Mélanie Calvat 15 tuổi, và Miximin Garand, nhưng giáo hội dấu, không chịu ra công khai thông điệp của Đức Mẹ, dù văn sĩ Huysmans trong sách nổi tiếng ‘Nữ Đồng Trinh dàn dụa nước mắt’ của ông, đă thỉnh cầu  (giáo hội) tiết lộ. Gần thời điểm đó, đă có hiện ra ở Pontmain (1871), rồi ở Pellevoisin (1876), và nhất là ở đường Bac năm 1830, tại số nhà 140 đường ấy, ngay giữa thành phố Paris, Đức Mẹ hiện ra với một nữ tu ḍng Bác Ái, là người được Piô XII phong thánh năm 1947. Nữ Đồng Trinh truyền phải làm một tấm mề đay trên đó có khắc ḍng chữ: ‘Ôi! Ma-ri, đấng chịu thai vô nhiễm, xin phù hộ cho chúng tôi, những người chạy đến kêu xin bà!’

 

     Rồi từ khi biết đến huy chương phép lạ đó, rất nhiều binh sĩ của hai cuộc thế chiến đă mang theo người như bùa hộ mệnh. Đến nỗi hàng triệu tấm huy chương như thế luôn luôn được sản xuất và tràn ngập thị trường. Ở nhà nguyện đường Bac, lại có cái ghế Nữ Đồng Trinh đă ngồi trong những lần hiện ra, và đă là một trong những ‘trung âm’ thu hút nhất của thủ đô sau tháp Effiel, và nhà thờ Đức Bà Paris. Những việc này xẩy ra trong thế kỷ của Các Mác, và của những thứ khác nữa…Có phải nhắc đến Fatima, một thứ Lộ Đức của Bồ Đào Nha không? Ở nơi đó, hàng tẳm ngàn người đă nh́n thấy, năm 1917, mặt trời nhẩy múa. Trong một quận lỵ, cách Lisbonne độ một trăm cây số, Nữ Đồng Trinh đă hiện ra với ba mục đồng, và đă đ̣i phải cầu nguyện để nước Nga trở về. Ngày nay cũng thế, lại có Medjugorje, thuộc miền Bosnie, gần Mostar, một miền đất thiêng. Tất cả bắt đầu năm 1981, sáu trẻ em, bốn gái hai trai, đă thấy Nữ Đồng Trinh hiện ra với chúng lên cả ngàn lần. Rồi điệp khúc cứ như thế măi. Nhưng phần nhiều không có đặc ân cần thiết, v́ không hẳn chỉ có ở Medjugorje họ mới gặp nhau được. Nhưng theo giám mục Mostar hiện thời, chẳng có ǵ phải thắc mắc, v́ đó chỉ là một hiện tượng của ảo giác. những trẻ em thấy được hiện ra chẳng qua đă bị lũng đoạn thao túng bởi bọn tu sĩ Phan-xi-cô nổi loạn chống giáo phận. Đại khái, chỉ là lục đục của bọn tu sĩ dưới mái lầu chuông. Nhưng chẳng sao, vẫn có 30 triệu tín đồ đă đến, và con số c̣n tiếp tục, mặc xác chiến tranh tu sĩ, chiến tranh nhà thờ. Rồi cha Jozo Zovko, linh mục Phan-xi-cô, không bị ân hận ray rứt ǵ hết. Ông tin sắt son, và đi khắp thế giới để cổ động nhiệt t́nh cho Medjugorje, cho biết thành phố nhỏ này đă thoát được pháo kích, trong khi nhà thờ Mostar, tư dinh của giám mục không tin đă bị phá hủy. C̣n, giáo hoàng Gioan Phaolồ II giữ trung lập, đợi kết quả điều tra của giáo hội đang tiến hành.

 

     Trước những hiện tượng siêu nhiên này, giáo hội luôn luôn thận trọng. Do đó, những hiện tượng hiện ra như ở Garabandad, Tây Ban Nha (1961-1965), ở San Damiano, Ư (1964), và ở Kerizinen, Anh quốc (1968) vẫn bị gác bên, và có thể chúng cũng không hơn ǵ những kinh cầu nguyện Thánh Nữ đầy nước mắt vẫn nổi lên, thỉnh thoảng chỗ này, lâu lâu chỗ khác, xuyên suốt thời gian.

 

     V́ La Mă luôn luôn muốn có: bằng chứng cụ thể về sự hiện ra; biết chắc những kẻ thấy hiện ra không bị lũng đoạn, hay là do những yếu tố tâm lư, kể cả do không phải của sự lừa bịp. Như thế có nghĩa là giáo hội bỏ Chúa quyền phép vô cùng, nhưng sao Chúa phải vận dụng những phương thức vượt ra ngoài trật tự thiên nhiên, tự nhiên (nghĩa là phải dùng phép lạ thay phép thường); dù qua thị giác hay thứ nào khác.

 

     Cũng cần phải biết dù giáo hội xác nhận một số hiện ra là có thực, nhưng lại không bắt phải tin. Ai tin  cũng được, ai thấy rồi bỏ qua không tin cũng được luôn, không sao hết! Như vậy tin có (phép lạ) Lộ Đức cũng chẳng khác ǵ không tin (phép lạ) ở những chỗ khác, v́ không phải là giáo điều bắt buộc phải tin. Như thế, nếu có Chúa th́ cái ǵ cũng làm được, hay ngược lại. (Ghi chú của người dịch: Vậy th́ hiện ra coi là chuyện đứng đắn cũng được, hay là tṛ nghịch ngợm đùa rỡn cũng không sao!)

 

     Ở Civitavercchia, đám đông dân chúng chuẩn bị trong dịp Phục Sinh đến thờ lạy bức tượng. Hy vọng được thấy phép lạ. một phép lạ không phải chỉ có ở những kẻ nghèo khổ cùng cực mới làm chứng nhân như vẫn thường thấy. Nhưng hăy nghĩ có một giám mục. Một giám mục ôm trong tay tượng Nữ Đồng Trinh chẩy nước mắt máu.

 

(Báo Paris Match số 3615)

 

Lời Bàn

 

     Đọc xong bài trên, độc giả khỏi cần bận óc thêm về phép lạ hiện ra, v́ giáo hội không bắt tin. Nếu hiện ra được coi là giáo điều, th́ nó là giáo điều tùy hứng, tùy hỉ.

 

     Chỉ thắc mắc là sao Mẹ Thiên Chúa mỗi lần hiện ra cứ khóc như mưa, cứ dàn dụa nước mắt, và c̣n chẩy nước mắt máu nữa. Người con thương mẹ, thấy mẹ ḿnh mỗi lần hiện ra cứ mếu máo,  không cầm ḷng được, phải xin mẹ, lạy mẹ thôi mẹ đừng xuất hiện nữa. V́ h́nh ảnh sụt sùi khiến cho người ta không hiểu v́ sao con mẹ đối xử với mẹ tệ bạc  thế nào, đến nỗi mỗi lần mẹ hiện ra là mẹ khóc như cha chết. Kỳ quá!

 

     Nhưng thường mẹ hiện ra với con nít, ít khi nào mẹ hiện ra với người lớn, hay nói rơ hơn là với hàng giáo phẩm, chức sắc đạo, tu sĩ linh mục vv... Trước kia th́ không biết tại sao mẹ không hiện ra với người lớn, tu sĩ linh mục, là con cái ruột thịt của mẹ. Nhưng nay, sau nhiều đợt truyền thông lật tẩy các cha dâm tặc, hăm hiếp các sơ, lắp đít con nít như điên nên những khi mẹ hiện ra, và thấy tận mắt các cha đóng phim XXX ngay mắt mẹ, nên mẹ khóc quá trời quá đất.

 

À ra thế!!!

 

Giuse Phạm hữu Tạo

 

 

 

Nỗi Buồn Công Giáo

Nỗi Nhục Hôn Chân

 

      ‘C̣n đối với bọn cha Tây … giáo phận quyết định ban quyền cho bọn chúng thay mặt giáo phận kiểm soát, phối kiểm, và trông coi việc thi hành những luật lệ tổng quát, hay riêng của mỗi giáo xứ, các ḍng tu, và các giáo dân. Tất cả phải kính trọng, và vâng lời bọn chúng, bởi v́ bọn chúng là ‘bọn sứ thần thừa sai’, là cha ông của giáo dân, và cả của bọn linh mục An-Nam nữa!

 

     ‘Thưo quy định của các bề trên thuộc các giáo phận, bọn ‘CỤ’ phải quỳ lạy bọn ‘CỐ’. Từ nay chúng tat ha cho chúng bay phải làm bổn phận quỳ lậy đó. Nhưng chúng bay vẫn phải tiếp tục làm bổn phận kính sợ bọn CỐ, là các đáng thay mặt về trên để cai quản dẫn dắt chúng bay!

 

(Trích thư chung của giáo phận miền Tây Kẻ Chợ (Hanoi), năm 1908, trang 142)

     Quand aux pères Occidentaux … l’évêché a décidé des les autoriser à le représenter pour examiner, reviser et faire appliquer les règlements généraux et particuliers du diocèse, dans les couvents et parmi les fidèles… que tout le monde les respecte et leur obéisse. Car ils sont les ‘missionario apostoliques’, les pères des fidèles et même des prêtres annamites.’

 

     ‘Selon les coutumes établies par les supérieurs dans tous les évêchés, les ‘CỤ’ devaient se prosterner devant les ‘CỐ’. Dorénavant, je vous dispose de ce de voir. Cependant, il faut que vous continuez à leur manifester le respect du à ceux qui représentent les supérieurs pour s’occuper de vous’.

 

(Recueil des lettres communes du vicariat apostolique du Tonkin Occidental, édité à Kẻ Chợ (Hanội)  page 142)

 

Lời Bàn

 

     Người Pháp hay nói ‘Le blues des Catholiques’, nghĩa là ‘Nỗi buồn Công Giáo’, nhưng có lẽ chỉ là những chán chường v́ giáo điều bế tắc hay giới tu sĩ hoang đàng dâm dục vv … như truyền thông quốc tế dồn dập loan tin về linh mục dâm ô lắp đít, bóp vú nữ con chiên, trong danh sách có cả linh mục Việt Nam, kể từ khi Giaon Phaolồ II chào mừng đệ tam thiên kỷ bằng một Jubilee! Nhưng nếu nói ‘Nỗi buồn Công Giáo’ của người ḿnh như cách nói của người Pháp, muốn cho đầy đủ phải thêm ‘Nỗi nhục Công giáo’ nữa mới đúng.

 

     Thật vậy thư chung của bọn bề trên Tây, là bọn giáo sĩ thừa sai điếm đàng cho thấy giáo sử ô nhục Công Giáo La Mă VN, khi các linh mục ta, Tây cho lên đến bậc CỤ nhưng vẫn phải quỳ lạy chùn chụt hôn chân liếm gót bọn ‘CỐ’ Tây. Thật là theo chân Chúa, ở chỗ nào, và con người bị tủi nhục như bọn linh mục an-nam-mít vậy! Đến nỗi các bà mẹ sinh ra con làm CỤ, đă đau khổ và bị xúc phạm khi biết con ḿnh hôn chân Tây, đă tự tử ttạp thể, và để lại thư tuyệt mệnh như sau:

    

     Các con linh mục hàng cụ của các mẹ,

 

     ‘Công giáo cấm tự tử, nhưng khi các mẹ nh́n các con hôn chân Tây, mẹ thấy nhục nhă chịu không nổi, nên các mẹ chọn cái chết để thức tỉnh các con. Các con hăy mau mau nhận ra thân phận tôi đ̣i nô lệ, tay sai thủ túc cho bọn thừa sai Tây ngày trước, và bọn Giặc Áo Đen La Mă quốc tế ngày nay, mà trở về với dân tộc tổ quốc! Một trăm năm các con làm Giặc Áo Đen bản địa bán nước cho Tây, và Tây giả cầy La Mă chưa đủ sao, các con? Bọn thực dân, và ngay cả bọn tu sĩ linh mục ngoại đă ban cho các con ǵ? Có đáng để các con phản quốc không? Vết nhơ hôn chân liếm gót đi vào giáo sử và lịch sử làm sao xóa được. Nhưng cũg có một cách xóa là tách rời bọn chúng, nhất là ngày nay phải xa lánh bọn Thực Dân giả cầy La Mă. Chúng từng chửi CS là loài quỷ đỏ, nhưng ngược ḍng lịch sử, xuyên suốt lịch sử, giáo sử Âu Châu, chính chúng là loài quỷ đen tham tàn ác độc vô cùng. Cái hay của chúng là biết gian dối ngụy trang áo ḍng, áo tu thôi.

 

     Các con thân yêu, đây là tiếng nói nghẹn ngào nức nở từ trái tim, đáy ḷng của các bà mẹ Công Giáo có các con hôn chân liếm gót Tây gởi các con! Ngày nay nước nhà độc lập thống nhất có chủ quyền, mà chúng vẫn không tha các con, sang triều cống Thiên Tử La Mă, theo như thư trong nước viết ra cho biết, các con vẫn phải chịu nhục ngửi rắm chúng và bầy tỏ hạnh phúc bằng cách khen thơm. Có người c̣n nói, lệnh hôn chân đă chấm dứt, song v́ quen uốn gói cong lưng, các con không bỏ được. Nên vẫn mắt la mày lét hôn gió chân của chúng. Chẳng biết đúng sai, nhưng cứ theo đạo dậy: ’Phúc cho ai không thấy mà tin!’ Th́ sự cố hôn chân liếm gót Tây giả cầy La Mă có lẽ có thật, v́ các con dễ ǵ bỏ qua ‘ân sủng hôn chân Tây’ đă thấm nhập xương tuỷ các con!

 

 

Hồng Y Bỉ, Danneels Godfried,

chỉ trích thiếu tự do ở La Mă

 

     Vatican City - Một hồng y thuộc hàng lănh đạo đă ném một sự chỉ trích rất nhức nhối vào bọn thư lại của giáo hội Công Giáo La Mă, nói rằng :’Vatican không cho phép một môi trường thảo luận’ giữa các hồng y, và rất nhiều (hồng y) đă sợ (teo) không dám thách đố những chính sách của giáo hội v́ chỉ lo bảo vệ sự an toàn của nghề nghiệp, hay đă chịu áp lực bên trên.

 

     Sự phản đối của hồng y Danneels Godfried, tổng giám mục Brussels, nước Bỉ, được biết là một trong những phản đối mạnh nhất mà giáo hoàng Gioan Phaolồ II phải (nhức nhối) nghe thẳng từ một thành viên trong hàng tu sĩ (cao cấp) của ông. Phản đối đó vang dội những lời kêu gọi trong buổi họp 135 hồng y, về đ̣i hỏi phải tản quyền trong thời kỳ lănh đạo c̣n lại của giáo hoàng (ngủ gục) này, và tiếp sau đó nữa!

 

     Ông nói với báo chí: ‘Chúng ta phải có những hồng y, những giám mục thực sự được hoàn toàn tự do’. Ông nhắc lại toàn bài thuyết tŕnh của ông trong buổi họp kín. ‘Tự do ngôn luận là điều kiện tuyệt đối phải có để điều hành tốt giáo hội!’

 

     Sự công khai chỉ trích trong hàng lănh đạo cao cấp của Công Giáo là một điều bất thường. Được coi như là biểu hiệu của sự suy sút sức khoẻ của giáo hoàng, sự yếu kém của ông không nắm được bọn thư lại đầy quyền lực của Vatican, và sự bất lực của ông đối với những thuộc cấp đă không bưng bít được sự phân hoá rạn nứt.

 

     Các hồng y, đă chấm dứt buổi họp bốn ngày vào hôm nay với một thánh lễ do giáo hoàng chủ tế ở vương cung thánh đường Phê-rô, đă tụ tập theo lệnh giáo hoàng để cố vấn cho ông về những phương cách trong việc phục hoạt chiến dịch truyền giáo cho một tỷ giáo dân của giáo hội vào thiên kỷ mới.    

 

     Trong khi những biểu ngữ đề cao ‘sự thánh hoá toàn cầu’ chế ngự các viên chức Vatican, những chi tiết về những bài diễn thuyết đă lọt ra ngoài hội trường, và có ít nhất hai viên chức, và sáu hồng y đă lên tiếng trong nghị hội chỉ trích đường lối điều hành của giáo hội. Một vài thành viên đă qua mặt Vatican bằng cách e-mail những bài diễn thuyết của họ cho báo chí.

 

     Hồng y Danneels c̣n đi xa hơn nữa bằng cách chính thức cho một buổi thuyết tŕnh ngắn tại chủng viện Bỉ ở Vatican, cách giáo đô Vatican vài dậm. Sự phán xét của ông rất có giá trị, v́ ông là một tổng giám mục, 67 tuổi, rất được kính mến, và thường được nhắc đến như một ứng viên chức giáo hoàng.

 

     Danneels đă thống trách các đồng lieu, ông nói, họ đă ngậm miệng (ăn tiền) để chờ được thăng chức. Ông nói hồng y và giám mục chỉ ưu tư về bảo đảm nghề nghiệp không phải là những hồng y và giám mục tốt. Ông thêm: ‘Có lẽ tôi quá lư tưởng’.

 

Cardinal criticizes lack of debatein the Vatican

 

(Los Angeles Times)

 

    Vatican city – A leading cardinal hurled a stinging criticism at the Roman Catholic hierachy Wednesday, saying the Vatican does not allow a real culture of debate among bishops, and that many are ‘scared’ to challenge official policies because of careerism or pressure from above.

 

     The protest by cardinal Godfried Danneels, archbishop of Brussels, Belgium, is believed to be one of the strongest Pope John Paul has ever heard directly from a member of his clergy. It echoed several appeals here at a gathering of 135 cardinals for a more decentralized leadership during the rest of his papacy and beyond.

 

     ‘We have to have cardinals and bishops who are really free and not pressured by others’. Danneels told reporters repeating much of the speech he gave Tuesday behind closed doors. ‘The freedom of speaking is an absolute condition for good management of the church’.

 

     Such a public airing of criticism, within Catholicism’s senior ranks is unusual. It was viewed as a symptom of the 81 years old pontiff failing health, his weakening grip over a powerful Vatican bureaucracy and the inability of his handlers to muffle dissent.

 

     The cardinals, who end their four-day gathering today with papal Mass in St. Peter’s Basilica, we re summoned by John Paul to advice him on ways to revive the billion member church’s missionary drive in the new millennium.

 

     While slogans including’ s globalization of holiness’ dominated the Vatican’ s officials and at least six other cardinals rose in the Synod Hall to criticize the way the church is run. Some of them circumvented Vatican secrecy by e-mail their speeches to reporters.

 

     Danneels went a step further and gave a formal briefing at Rome’s Belgium seminary several miles from the Vatican.  His remarks are significant because the archbishop 67, is widely respected and often mentioned as a candidate for the papacy.

 

     Danneels was scathing of peers who, he said, hold their tongues so they can get promoted. ‘Bishops and cardinals who have career concerns are not good bishops and cardinals, and that is the problem’, he said. ‘Perhaps I’m too idealistic!’

 

Chính sách ngu dân của bọn Giáo Hội Công Giáo La Mă

 

     Phân khoa thần học của đại học Sorbonne cấm học tiếng Hy-Lạp, v́ biết ngôn ngữ này là cơ hội dẫn đến hiểu biết một thứ văn hóa phạm thượng. Sự học ngôn ngữ này cho phép đọc, hiểu những kinh thánh khác, đương nhiên ngược với bản dịch Vulgate của giáo hội.

 

(Báo Le Point, ngày 31 tháng 12 năm 1993, số 1111, trang 60)

 

 

 

Cháy Nhà (Thờ) Ra Mặt Chuột

Giáo Phận Los Angeles

đă điều đ́nh bồi thường xong những vụ

sách nhiễu t́nh dục của bọn linh mục

Công Giáo La Mă dâm tặc

(Associated Press – Houston Chronicle 12/04/04)

 

     Los Angeles – Giáo Phận Công Giáo La Mă quận Cam (Orange County), đă điều đ́nh xong với 87 nạn nhân bị bọn linh mục dâm tặc sách nhiễu t́nh dục. Theo nguồn tin của hăng thông tấn Associated Press, giáo phận đă chịu bỏ ra số tiền bồi thường lớn hơn so với số 85 triệu Mỹ kim bồi thường của giáo phận Boston đă bỏ ra. Những điều trong bản thỏa thuận đă được giữ kín. Vào cuối ngày thứ Năm qua, ông chánh án cũng chưa cho biết rơ khi nào sẽ công bố được hồ sơ cho công chúng biết. Ông chánh án Owen Lee Kwong, cũng ban lệnh cho các luật sư và các nguyên cáo không được bàn về chi tiết của nội vụ. Tuy nhiên một nhân chứng dấu tên đă cho hăng Associated Press biết số tiền sẽ vượt quá số bồi thường kỷ lục 85 triệu Mỹ kim giáo phận Boston đă phải trả cho 552 nạn nhân vào năm 2003. Báo Los Angeles Times và Boston Globe  cho hay sự điều đ́nh có thể lên tới 100 triệu Mỹ kim. Giám mục Tod Brown đă nói muốn nhân dịp này nhân danh giáo phận Quận Cam bầy tỏ sự thành thật ăn năn tạ lỗi, và với hy vọng từ thâm tâm đạt được sự ḥa giải, và hàn gắn được vết thương.

 

Không đóng cửa giáo xứ

 

     Vụ dàn xếp cũng không gây ra phá sản hay đóng cửa 56 giáo xứ như viên chức nhà thờ cho biết. Những luật sư chính của nội vụ đă cho hay hồ sơ liên hệ đến vụ các tu sĩ sách nhiễu t́nh dục chỉ sẽ được phổ biến cho công chúng sau khi ông chánh án đă duyệt xét xong.

 

     Luật sư Ray Boutcher nói: ‘Không một số tiền nào có thể thay thế được tuổi thơ và tuổi thanh niên, nhưng sự dàn xếp này giúp cho họ chấm dứt sự tranh tụng để có khả năng và cơ hội tiến tới đời sống mới. Điều đ́nh đă kéo dài hai năm, nhưng gần đây đă có tiến hành tích cực hơn sau hai năm bế tắc v́ giám mục đề nghị chỉ chịu bồi thường 40 triệu Mỹ kim thôi.

 

     Chánh án Kwong triệu tập các nguyên đơn, và các luật sư đến ṭa ngày thứ hai là dấu hiệu cho thấy một sự kết thúc tính đến ngày nay.

 

     Vào ngày thứ năm các nguyên đơn, và gia đ́nh đă mất hàng giờ để đợi kết quả.

 

     Khi kết quả được thông báo, nhiều nạn nhân và thân nhân đă ôm nhau khóc. Họ đă đợi 30 giờ để được biết kết quả.  Các luật sư và các nguyên đơn đă quây quần  từng nhóm bàn bạc về những chi tiết của vụ kiện. Ông David Rhombers, 40 tuổi, ở Santa Ana cho biết có rất nhiều xúc động, vui mừng và cả sững sờ tê tái nữa.

 

     Giáo phận Quận Cam lănh thay mặt cho 850 vụ c̣n đang tranh tụng về việc các linh mục dâm tặc sách nhiễu t́nh dục thuộc 10 giáo phận, và hai tổng giáo phận ở Cali.

 

     Có thể là tiền lệ cho 500 vụ của tổng giáo phận Los Angeles, là giáo phận lớn nhất nước Mỹ, và kể như là bước tiến đến khiếu nại sách nhiễu t́nh dục của bọn linh mục Công Giáo La Mă đă bùng nổ ra như ở Boston năm 2002.

 

     Cũng c̣n 25 vụ khác liên hệ đến tố cáo giáo phận quận Cam, trước khi tách rời khỏi tổng giáo phận Los Angeles năm 1976. Những nguyên cáo đang đâm đơn kiện tổng giáo phận Los Angeles.

 

Hai linh mục Công Giáo La Mă, 20 vụ sách nhiễu

 

     C̣n 25 vụ liên hệ đến sách nhiễu t́nh dục gồm có 11 vụ của linh mục Eleuterio Ramos, đă thú nhận trước khi chết là trong ṿng 10 năm làm cha xứ đă sách nhiễu 25 nạn nhân, và 9 vụ khiếu nại linh mục Siegfried Widera, đă sách nhiễu một em trai, trước khi được chuyển đến Quân Cam năm 1977.

 

     Widera đă bị đuổi khỏi việc mục vụ ở   quận Cam vào năm 1985. Tối cao pháp viện bang Milwaukee đă phán quyết có thể kiện tổng giáo phận ấy v́ đă thuyên chuyển đương sự đến bang Cali nhưng đă không tiết lộ tội sách nhiễu t́nh dục của y.

 

     Widera chết năm 2003, sau khi đă nhẩy lầu tự tử ở một khách sạn ở Mexico.

 

(Houston Chronicle 12/04/2004)

 

 

 

Đức Mẹ Hiện Ra

 

     Dưới đây là đoạn văn viết về Đức Mẹ hiện ra của linh mục Hồng Phúc, trích báo Hiệp Nhất, số 68, tháng 8 năm 1998, trang 14:

 

‘Bỗng nhiên Đức Mẹ hiện ra trong ánh hào quang rực rỡ. Mẹ ẵm Chúa Hài Đồng trên tay. Hai bên lại có hai thiên thần cầm đèn chầu. Mẹ tỏ vẻ nhân từ ưu ái, an ủi bổn đạo vui ḷng chịu khó. Mẹ dậy lấy lá xung quanh nấu nước uống sẽ lành các bệnh. V́ thế, sau mỗi lần đại hội, cây cối trong khuôn viên đền thờ mẹ, đứng trơ trụi hết lá’.

Bạn đọc thấy ǵ qua bản tin trên?

 

     Linh mục Hồng Phúc có thấy tận mắt Đức Mẹ hiện ra không? Nếu không, căn cứ vào đâu để liều lĩnh, và vô trách nhiệm xác nhận như thế? Nếu không, ông phịa ra, có phải ông là một linh mục lưu manh, man trá, dối gạt đồng bào và giáo dân trong mục đích truyền đạo bất lương không? Giáo lư đạo quá tầm thường đến nỗi phải lừa bịp sao?

 

     Mẹ lại ẵm Chúa Hài Đồng nữa. Bài viết về phép lạ La Vang, và các thánh tử đạo vào thời hoàng đế Quang Trung, khoảng năm 1798. Giêsu lúc đó ít nhất cũng 1798 tuổi rồi! Mẹ có ẵm nổi không? Nếu nổi h́nh ảnh một Giêsu mặc tă, lúc Giêsu Hài Đồng mắc đi tè th́ sao? Chưa kể Giêsu lớn như thế c̣n bắt mẹ bế, thật rất tàn nhẫn bất hiếu! Đây là một đứa con mất dậy!

 

Tại sao Mẹ không hiện ra lúc hai bên, quân triều đ́nh và quân phản loạn sắp giao tranh? Mẹ hiện ra lúc đó, chăc chắn không có đánh giết nhau, sát hại sinh linh, đổ máu vô ích, mà quân triều đ́nh thấy phép lạ, sẽ vào đạo ngay cùng với quân giáo dân phản loạn. Mẹ đă cứu được cả hai bên phải lâm ṿng chinh chiến, phơi xương đổ máu! Mẹ Thiên Chúa quyền phép, thay mặt Chúa, thiếu ǵ cách cứu giáo dân, để họ phải chạy vào khu Lá Vằng, thiếu thốn đủ mọi thứ? Mẹ làm được phép lạ, sao không cho giáo dân ăn uống đầy đủ, lại xúi dân lấy lá cây đun nước chữa khỏi các bệnh? Chữa bệnh, lúc đó, sao bằng cứu đói? Chữa được các bệnh sao không chữa được bệnh ‘ngu đạo cuồng tín’? Hay là Mẹ muốn giáo dân cứ ngu muội măi để nuôi sống các cha? Nếu lấy lá đun sôi chữa khỏi các bệnh, sao giáo dân, ngu thế, không lấy đun sôi làm thuốc chữa bệnh bầy bán, sẽ sống đời no ấm đầy đủ. Bỏ uổng kho …vàng lá chữa bệnh cứu nhân độ thế, danh Mẹ vang khắp nơi, triều đ́nh cũng đến xin lá về làm thuốc, cần ǵ phải đánh nhau với quân Công giáo phản loạn nữa?  Người Mỹ ở nước ta hơn chục năm, đă quần thảo hết đất nước để t́m kiếm tài sản. Nếu có kho tàng chữa các bệnh bằng lá rừng ở Lá Vằng, họ ngu dại ǵ không mua đứt công viê Mẹ để lấy lá làm thuốc chữa bách bệnh (trừ bệnh cuồng tín ngu nghiện đạo) cho toàn thế giới? Vừa làm phúc, vừa làm giầu, khỏi tốn tiền nghiên cứu chế dược phẩm, không kiến hiệu bằng lá cây nơi công viên Mẹ. Đun lên chữa bách bệnh, quá rẻ, lại bán đắt như tôm tươi.

 

     Linh mục Hồng Phúc, viết không có chứng cớ, và báo đạo Hiệp Nhất  đăng lại là lừa bịp. Dùng Đức Mẹ để gian manh kiếm chác câu cơm, bất xưng với một nhà tu, một tờ báo đạo, và một tôn giáo nhận là thánh thiện. Thời buổi này, sự gian dối khó lừa bịp được!

 

     Sự man rợ, dă man, và lợi dụng cơ quan truyền thông đạo để lừa bịp giáo dân ngu muội,  dễ tin và cả nể sợ hăi … v́ đạo biết dựa vào sức mạnh của đế quốc thực dân, hay bạo quyền Cần Lao Công Giáo, là vô cùng lưu manh, đàng điếm trên hết mọi sự đàng điếm, hay trên hết mọi sự đĩ điếm (the highest form of prostitution). Linh mục Công Giáo La Mă chân tu, và báo đạo chân chính không được làm! Hăy cố gắng chấm dứt tṛ lừa bịp,

 

nhay gấu quần một người

đàn bà Do-Thái đáng thương.

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

Bản Chất Thật Của Giáo Hội Công Giáo La Mă

 

     Giáo hội Công giáo La Mă, rơ ràng nhất là chỉ dám cường bạo khống chế những cá nhân, chống đối những kẻ yếu đuối cô thế; ngoài ra giáo hội ấy lúc nào cũng chỉ có:

 

Cái Sống Lưng Mềm Nhũn

 

trước những kẻ thay mặt nhà đương quyền.  (Linh mục Eugen Drewermann, sách Dieu En Toute Liberté, tảng 42).

 

(Cette Église, la chose plus claire, prendra toujours  parti pour ce qui ont le pouvoir, elle n’est forte que contre les individus, contre les faibles,

 

Toujours elle a l’échine souple

 

devant les représentants du pouvoir rétabli).

 

(Dieu En Toute Liberté, page 42,

linh mục Eugen Drewermann).

 

 

 

Chữa Trị BệnhDâm Dục Của Bọn

Linh Mục Công Giáo La Mă Dâm Tặc

Không Phải Là Việc Làm Tuyệt Vọng!

 

Bài của cựu Thống Đốc bang Oklahoma, ông Frank Keating

 

    Ngày thứ hai, tôi từ bỏ chức vụ t́nh nguyện làm chủ tịch Uỷ Ban Quốc Gia của giáo dân có nhiệm vụ thi hành quyết định về sự không tỳ vết (zero tolerance) do các giám mục Công Giáo La Mă Mỹ đồng thuận năm ngoái.

 

     Tôi từ chức sau gần một năm làm nhiệm vụ v́ hai lư do kể sau: tôi cần dành hết thời giờ cho việc làm của tôi, và tôi bất măn v́ một thiểu số bọn lănh đạo giáo hội đă cản trở việc làm của uỷ ban.

 

     Nhưng tôi rất lạc quan vệ giáo hội của tôi - sẽ tất nhiên bảo vệ trẻ thơ, và buộc bọn phạm tội dâm dục phải lănh trách nhiệm. Uỷ Ban Toàn Quốc dù do bất cứ ai lănh đạo cũng biểu hiện cho những hy vọng của hàng triệu giáo dân. Với tư cách ấy, ủy ban có thể, và phải tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ.

 

    Sự lạc quan của tôi đặt căn bản trên sự tiếp xúc của tôi với bọn giáo phẩm, và những giáo dân trong năm qua. Chúng hiểu sự thử thách của giáo hội, và chúng không cho phép trốn chạy sự thật. Những người này, cùng nhau hợp lại chẳng những để giải quyết cuộc khủng hoảng, mà c̣n là sự cứu nguy cho đức tin chung của chúng nữa.

 

Nhiệm vụ của chúng thành một cao tṛ khó có thể phủ nhận:

 

     Như thế, những giám mục khi họp hàng năm vào thứ năm này ở thành phố St. Louis phải đặt vấn đề vi phạm t́nh dục của bọn linh mục (dâm tặc) như phần chính yếu của chương tŕnh nghị sự, như chúng đề ra năm ngoái tiêu chẩn không tỳ vết (no tolerance), và đă thành lập Ủy Ban Giám Sát của giáo dân.     Vấn đề vi phạm t́nh dục này đă mất cả mười năm mới phát hiện được, như vậy không thể giải quyết xong trong 12 tháng qua, hay 12 tháng tới. Nếu bọn giám mục như đă thấy, coi như đă giải quyết xong, và chạy làng sang vấn đề khác, th́ khi trở về giáo phận, bọn chúng sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề khó khăn hơn.

 

     Một số đă cho rằng Ủy Ban không thể nào thành công được, và nhiệm vụ rửa sạch tai tiếng của giáo hội là một việc làm tuyệt vọng. Tôi không đồng ư như thế. Trong năm qua, tôi đă hoàn thành được nhiều việc với những vị lănh đạo đă hoàn toàn cộng tác với tôi.

 

     Ủy Ban đă và đang là một nhóm làm việc trong tinh thần của một đội ngũ gồm những người thiện chí, và sẽ tiếp tục làm công việc.

 

     Một số người chống đối Ủy Ban đă cho biết chúng tôi đi quá trớn, như một tờ báo giáo phận chống đối khi dùng ngôn ngữ là chúng tôi sa vào sự săn lùng ác ư nhằm triệt hạ nạn nhân (witch hunt). Tôi không đồng ư. Đây không phải là chuyện lặt vặt phá đám những cuộc chơi bingo mỗi thứ bẩy ở nhà xứ.  Đây là ưu tư về một bọn trong đội ngũ linh mục đă gây ra hàng trăm nạn nhân – có lẽ là hàng ngàn nạn nhân trẻ em hay thanh niên, và chúng đă coi thường giáo hội trong khi giáo hội cứ rêu rao (nói dóc) việc phục vụ!

 

     Sự lạm dụng t́nh dục để lại những vết thương suốt đời trong tinh thần. Tôi đă gặp nhiều nạn nhân của lạm dụng t́nh dục. Tôi đă nghe những chuyện thương tâm của họ về cuộc sống tan tác, và niềm tin đổ vỡ. Tôi đă hứa với họ là họ sẽ có tiếng nói, và tôi tin rằng họ sẽ được lắng nghe, với điều kiện đa số giáo dân biết rằng lẽ phải ở về phía họ.

 

     Nhưng thật là buồn, khi một số những lănh tụ tôn giáo, gồm cả những kẻ thuộc những giáo phận lớn đă chống đối và cản trở việc làm của Ủy Ban. Khi chúng tôi đặt ra những câu hỏi hữu lư, bọn chúng trả lời ít hay không chịu trả lời ǵ hết. Khi những thong tin, và sự cộng tác cần có, bọn chúng đă tŕ hoăn hay thẳng tay từ chối.

 

     Một số trong bọn chúng trông cậy vào luật sư, trong khi đúng ra, chúng phải nh́n vào tâm can chúng, phải nh́n vào tấm ḷng chúng – Tôi cảm thấy khinh thường ghê tởm chúng. V́ tôi là người coi trọng sự thật. Và điều đó làm chúng bất măn. Bọn chúng như thế th́ đành chịu thôi!

 

     Cản trở công lư, viện cớ chạy tội hay che dấu. Đó không phải là hành xử của người thánh thiện. Đó là tội lỗi – đó là h́nh tội. Chúa có thể bắt chúng chịu trách nhiệm ở đời sau, nhưng chúng ta phải bắt chúng chịu trách nhiệm ngay đời này!

 

     Bọn người t́m cách chống đối Ủy Bán, theo tôi nghĩ, chúng không có bao nhiêu, và chúng không thể nào thành công được. Với giám mục Wilson Gregory, chủ tịch hội đồng giám mục Mỹ, với nhiều cha xứ, và nhiều giáo dân đă gọi điện thoại ủng hộ, ủy lạo tôi, tôi rất ảcm ơn sự yểm trợ của họ. Nhưng điều quan trọng hơn hết, xin hiểu rằng, là sự tái lập ḷng tin vào giáo hội của chúng ta.

 

     Ḷng tin này phải tiếp tục. và với ơn Chúa, nó sẽ thành công trong việc rửa sạch vết nhơ khủng khiếp, và khổng lồ của Giáo Hội (Công giáo La Mă).

 

Frank Keating

Cựu Thống Đốc Oklahoma, và

hiện là chủ tịch công ty

American council of Life Insurance

 

(Bản dịch của Giuse PHT)

Báo Houston Chronicle 6/19/2003

 

 

Bản Chất Xâm Lấn Thô Bạo Của Bọn

Công Giáo La Mă

 

     Tiêu diệt tôn giáo khác cho tôn giáo ḿnh độc trị, tiêu diệt văn hóa bản địa cho văn hóa Thiên Chúa Giáo độc diễn, tiêu diệt sinh lực của dân tộc chậm tiến cho các thế lực đế quốc xâm lăng; đó là truyền thống của bọn La Mă.

 

(Linh mục Trần Thái Đỉnh: ’Cái nh́n về Phật Giáo trong Phép Giảng tám ngày’ của A. de Rhodes).

 

 

 

 

Thư Mục Giao - Điểm

 

 

 

1. Đối Thoại Với GH Gioan Phaolồ 2                            15 Mỹ Kim

 

2. Tuyển Tập Phật Giáo Trong thế Kỷ Mới       

    Tập 1, gồm 18 tác giả                                                    15 Mỹ Kim

    Tập 2, gồm 12 tác giả                                                    15 Mỹ Kim

    Phê B́nh Về Những Bài Phê B́nh

 

4. Tập 1, Trả lời ông Dương Ngọc Dũng                       12 Mỹ Kim

    (trong nước) HẾT, Nguyễn Kha,                       

    Trần Chung Ngọc, Trần văn Kha

 

5. Tập 2, Trả lời ông Đỗ Mạnh Tri                                 10 Mỹ Kim

    Nguyễn Đăng Lâm & Trần Chung Ngọc 

 

6. Đối Thoại Với Giáo Hoàng (bản tiếng Anh)              15 Mỹ Kim

 

7. L.A De Rhodes, người đầu tiên vận động                  14 Mỹ Kim

    Pháp chiếm Việt Nam và chữ quốc ngữ

    9 tác giả                                                                  

 

8. Nguyễn Trường Tộ, con người, thực chất                  10 Mỹ Kim

    và di thảo (Hết) Bùi Kha, Trần Chung Ngọc                   

 

9. Trần Lục, Thực Chất Con Người và Sự Nghiệp         12 Mỹ Kim

      Bùi Kha & Trần Chung Ngọc

 

10. Công Giáo Chính Sử (Tái bản lần 2):                        18 Mỹ Kim

      Trần Chung Ngọc

 

11. Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo                 14 Mỹ Kim

      Thích Nhật Từ & Trần Chung Ngọc

 

12. Vatican Thú Tội và Xin Lỗi (6 tác giả)                      14 Mỹ Kim

 

13. Đức Tin Công Giáo Trần Chung Ngọc                           15 Mỹ Kim

 

14. Bước Đầu học Đạo (4 tác giả)                                      7 Mỹ Kim

 

15. Công Giáo Huyền Thoại và Tội Ác (Hết)                    15 Mỹ Kim

      Charlie Nguyễn (Đôminic Bùi Văn Chấn)          

 

16. Công Giáo Bên Bờ Vực Thẳm (Hết)                            15 Mỹ Kim

      Charlie Nguyễn (Đôminíc Bùi văn Chấn)

 

17. Bản Chất Các Phản Ứng Về Bài Giảng                         10 Mỹ Kim

      (nhiều tác giả)

 

18. Pétrus Trương Vĩnh Kư, Nh́n Tư Những                     16 Mỹ Kim

      Khía Cạnh & Nhận Thức Khác Nhau (7 tác giả)

 

19. Chúa Giê su là ai? Giảng dậy những ǵ?                         15 Mỹ Kim

      Trần Chung Ngọc

 

20. Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước                                         12 Mỹ Kim

      Bùi Kha & Trần Chung Ngọc

 

21. Thực Chất Đạo Công Giáo và các Đạo Chúa                   16 Mỹ Kim

      Charlie Nguyễn (Đôminic Bùi Văn Chấn)

 

22. Sáu Tháng Pháp Nạn 1963: Vũ Văn Mẫu                           20 Mỹ Kim

 

23. Giáo Sĩ Thừa Sai và Chính Sách Thuộc Địa                     20 Mỹ Kim

      Cao Huy Thuần

 

24. Búa Phù Thủy: Trần Quư Nhu                                           15 Mỹ Kim

 

25. Bốn Mươi Năm Nh́n Lại 1963-2003                                 20 Mỹ Kim

      (20 tác giả)

 

26. Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay                                          15 Mỹ Kim

      Charlie Nguyễn

 

27.Bàn Về Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo                               12 Mỹ Kim

     Đặng Thái Việt

 

28. Kitô Giáo, Những Khuyết Điểm                                         12 Mỹ Kim

      Trần Quư Nhu

 

29. Chất Độc Da Cam: Nguyễn văn Tuấn                                15 Mỹ Kim

 

30. Kitô Giáo, kế Hoạch Cải Đạo Á Châu

      (NT, NTL & TCN)

 

31. Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo                                 15 Mỹ Kim

      Giuse Phạm hữu Tạo

 

Ngân Phiếu xin đề: Giao Điểm P.O. Box 2188 Garden Grove, CA 92842

 

 

Trọn bộ, ĐDTB. Ngày 24/9/06

NDVN, ngày 24/12/06



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend