NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TẠI SAO TÔI BỎ GIÁO ĐIỀU CÔNG GIÁO: Giuse Phạm Hữu Tạo


Lời Phi Lộ: ĐDTB, được nhà xuất bản Giao Điểm của Tổ Chức Giao Điểm nhận phát hành cuốn Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo (Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes) của linh mục Abbé J. Turmel, do Giuse Phạm Hữu Tạo chuyển dịch. Giao Điểm đă phát hành vào khoảng 1000 ấn bản cuốn này ở Việt Nam,  đem qua Mỹ chỉ có trên 300 cuốn và đă hết, cho nên sách không đến tay một số độc giả mua sách, mong quư độc giả rộng ḷng tha thứ, ĐDTB sẽ gởi đến trong kỳ tái bản này. V́ hầu như. Sách đă biếu tặng các học giả, nhà nghiên cứu và thân hữu trong nước và Mỹ và chỉ lấy lại được vốn vào khoảng 1/4.

 

Sách sẽ được tái bản vào năm 2007, kỳ tái bản này rất hoàn chỉnh do  Giuse Phạm Hữu Tạo hiệu đính, sau khi đọc kỷ lại cuốn sách Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo do nxb Giao Điểm phát hành. Nhà Xuất Bản Đông Dương Thời Báo, đă thưa cùng Bạn đọc và Thân hữu có thể không cần mua những sách do nxb ĐDTB, là v́ chúng tôi sẽ cống hiến toàn bộ những sách do nxb ĐDTB trên websites ĐDTB.

 

Chính thế, ĐDTB cho lên mạng ba kỳ trọn bộ cuốn sách Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo rất hoàn chỉnh cống hiến bạn đọc, trước khi sách tái bản vào năm 2007. Sách có tất cả 10 Chương – Lời kết – Nguyên bản tiếng Pháp – Phụ lục ( 8 phụ lục lư thú ).

 

Ba kỳ trọn bộ sách gồm có 10 Chương – Lời kết – Phụ lục:

 

* Kỳ I: Từ trang b́a đến trang 67 ( chương I đến chương IV )

 

* Kỳ II: Từ trang 69 đến trang 140  ( chương V đến chương IX )

 

* Kỳ III: Từ trang 141 đến trang 172 ( chương X) và Phụ lục (tr 316 đến tr 361)

 

Kính chào bạn đọc ghé thăm trang nhà dongduongthoibao.com & net đọc kỳ I, sẽ đọc tiếp kỳ II và kỳ IỊI Hy vọng bạn đọc có thêm chứng liệu về hiểm họa Kytô giáo ( Công giáo La Mă – Tin lành ) đối với Nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng, để sẽ đồng tâm và thấy rằng đường hướng và lập trường ĐDTB trên 20 năm là quyết tâm: giải trừ và giải hoặc Giặc Áo Đen Vatican – Giặc Áo Đen Khuyển Sinh* Việt Gian Bản Địa – Giặc Khuyển Sinh Tin Lành – Giặc Mỹ Ngụy DBHB. ( Từ Khuyển sinh = Chó đẻ này có vào năm 2001, do Đôminicô Bùi Văn Chấn Charlie Nguyễn gọi bọn tu sĩ Kytô Việt gian bản địa ( linh mục Công giáo và mục sư Tin lành ) )

 

 

 

 

 

Giuse PHẠM HỮU TẠO

 

 

Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo

 

(Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes)

 

Abbé J. Turmel

 

 

 

 

Pope Saint Leo IX (1049-1054) and Michael Cerularios,

 Patriarch of Constantinople, illumination from a Greek

15th century manuscript, National Library, Palermo

 

 

 

 

  

 

 

 

GIAO ĐIỂM – THU 2005

 

 

             

 

 

 

Abbé J. Turmel

__________________________________

 

 

 

 

TẠI SAO TÔI BỎ GIÁO ĐIỀU CÔNG GIÁO

(COMMENT J’AI DONNÉ CONGÉ AUX DOGMES)

 

 

Pope Saint Leo IX (1049-1054) and Michael Cerularios,

 Patriarch of Constantinople, illumination from a Greek

15th century manuscript, National Library, Palermo

 

 

 

AUX ÉDITIONS DE L’IDÉE LIBRE HERBLAY

(Seine-et-Oise)

 

 

Người dịch: Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

 

 

  

 

La Bibliothèque du Libre Penseur

 

Tủ Sách Người Suy Tưởng Tự Do

 

 

Abbé J. TURMEL

Tu Sĩ J. Turmel

 

  

 

 

 

Comment J’ ai donné congé aux Dogmes

 

V́ Sao Tôi Bỏ Những Giáo Điều Thiên Chúa Giáo

 

 

 

 

 

 

 

 

AUX EDITION DE L’IDÉE LIBRE

Những Ấn Bản Của Tự Do Tư Tưởng

 

 

 

 

 

Đạo Là Ǵ?

 

 

Đạo trước hết là phần nội tâm, và đ̣i hỏi gắn bó vào

 

Sự Thành Thật Và Ḷng Thành!

 

 

 

 

‘La Religion est d’abord intérieure, et demande une adhésion à la

Vérité, la sincérité du Coeur!’

 

 

 

 

(Le nouveau Testament – Société catholique de la Bible, page 228.

245 Rue Est Boulevard, Dorchester/Montréal)

 

 

 

 

(Sách Tân ước - Hiệp hội Kinh Thánh Công Giáo La Mă

số 245 đừong East Boulevard, Dorchester/ Montréal, trang 228)

 

 

 

 

  

 

Lời Giới Thiệu

 

 

     Trong lịch sử tôn giáo trên hai ngàn năm qua tại nước ta đă có rất nhiều người thuộc tôn giáo độc thần quay trở về với chính đạo, với tổ quốc. Cựu thẩm phán Charlie Nguyễn (Đôminicô Bùi Văn Chấn, đă qua đời) được kể là người hiếm quư đầu tiên trong lịch sử v́ ông đă để lại cho đời bốn tác phẩm đồ sộ về Kitô Giáo và giá trị về nhân văn. Người thứ hai là giáo sư Stê-pha-nô Nguyễn Mạnh Quang, cũng đă xuất bản một số sách độc đáo để nói lên cái lịch sử oan nghiệt trong quá tŕnh truyền giáo của độc thần giáo. Và người thứ ba là Giuse Phạm Hữu Tạo, một giáo dân đạo ḍng, tên thánh là Giuse, hiện đang là chủ nhiệm những trang  web:www.donguongthoibao.com và Tạp chí Đông Dương Thời Báo tại bang Texas.

 

     Cuốn ‘Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo’ là dịch phẩm đầu tiên của Giuse Phạm Hữu Tạo từ cuốn ‘Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes’ do Linh Mục Abbé J. Turmel, người Pháp viết. Qua tác phẩm này, độc giả càng thấy rơ bản chất dối trá truyền kiếp của Giáo hội Công giáo Vatican La Mă (độc thần giáo) được tŕnh bầy bởi chính một linh mục người Pháp.

 

     Để tiện việc nghiên cứu và đối chiếu, dịch giả kèm theo nguyên bản tiếng Pháp ở phần giữa cuốn sách. Phần cuối là những phụ lục lư thú, và hiện thực để độc giả rơ thêm về bản chất của tôn giáo này.

 

     Giao Điểm hân hạnh giới thiệu cùng độc giả bốn phương thêm một tác phẩm quư giá vừa ra đời trong mùa thu 2005. Đây cũng là một cuốn sách thuộc loại thâm cung bí sử thứ 31 của Giao Điểm nghiên cứu về Kitô giáo mà chúng tôi rất hân hạnh để được giới thiệu.

 

 

 

 

Giao Điểm

Thu 2005

 

 

 

 

 

 

 

Đôi ḍng về cuốn sách Pháp:

‘Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes’

(Tại Sao tôi bỏ giáo điều Công Giáo)

của linh mục giáo sư thần học J. Turmel

 

 

     Một người bạn đưa cho tôi cuốn sách tựa đề ‘Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes’ của tu sĩ Pháp J. Turmel. Khi đọc xong cuốn cổ thư này, tôi thấy nếu Đoạn Trường Tân Thanh là tiếng khóc đứt ruột của Nguyễn Du, th́ cuốn ‘Tại Sao Tôi Bỏ Giáo Điều Công Giáo’ là tiếng khóc Đoạn Trường Thất Thanh của những giáo dân Công Giáo khi họ có đại phúc nhận ra sự gian manh, bóc lột và khủng bố khắp nơi của bọn đầu sỏ Công Giáo La Mă tại Rô-Ma, và khắp nơi! Như nỗi thống khổ của linh mục J. Turmel khi biết được sự thật, và giáo dân nghe được tiếng nói bất năng khuất của các giám mục Nhật Bản đă gọi Công giáo La Mă là: ‘Một Đại Công Ty Đa Quốc’.

 

     Người dịch không khỏi sót xa cho số phận của một nam Thúy Kiều J. Turmel, đă uổng phí một đời làm nạn nhân cho bọn quỷ xứ độc tài giáo phiệt La Mă. Là bọn Pha-ri-siêu chính gốc, luôn luôn không biết ngượng, trơ trẽn và giả dối đ̣i tự do tôn giáo. So với các tu sĩ, linh mục Pháp, Đức, Bỉ ngày nay vv ... tiếng nói của linh mục  J. Turmel đầy máu, và nước mắt nghẹn ngào tức tưởi hơn nhiều. V́ cách đây cả trăm năm, giáo hội Công Giáo La Mă c̣n kinh hoàng khiếp đảm hơn bây giờ nhiều, dù xét kỹ, th́ xưa cũng như nay, nó vẫn là một con rắn độc muôn thuở!

 

     Sự huấn luyện tu sĩ của bọn chúng ở các chủng viện, chẳng qua là những nhà tù chung thân, v́ nhiều người lầm lẫn được Chúa gọi, hay được giao cho một sứ mệnh (vocation). Chúa nào? Chúa có biết nói đâu mà gán oan cho là Chúa gọi! Nhưng khi đă lỡ, đành mang mối hận xuống mộ sâu. Dĩ nhiên, chúng tôi cũng đặt sang một bên loại linh mục dùng đạo để kiếm sống, tạm gọi là ‘nghề tu’. Cũng chẳng chê trách được họ, v́ nếu họ và giáo hội đều biết tẩy của nhau, giống như chiếc boomerang của thổ dân Úc Châu, sẽ bay ngược về giáo hội ấy, nhưng v́ quyền lợi, miếng ăn của hai bên, nên đều câm nín, miễn sao biến được khối giáo dân là khách hàng cho cái chợ Buôn Thần Bán Thánh Đời Đời!

 

     Riêng trường hợp của linh mục J.Turmel đă can đảm lên tiếng để quư vị độc giả, và chúng tôi được đọc, và biết Sự Thật! Hơn một trăm năm qua, bút đă xuống giấy (once written is always), không c̣n là tiếng nói lạc lơng mất hút trong sa mạc. Sự thật linh mục J.Turmel cho biết đă từ lâu là ánh sáng nhấp nháy trong bầu trời đen tối của đạo Công Giáo La Mă. Một ngày không xa, chẳng những giáo dân Âu Tây, mà giáo dân bất cứ ở đâu khi biết rơ sự gian dối lừa bịp của đạo Công Giáo La Mă, họ cũng tẩy chay xa lánh, như mhững nạn nhân Âu Tây trước họ.

 

     Người bạn c̣n đề nghị tôi dịch sang Việt ngữ để cống hiến độc giả ‘Một Công Tŕnh Vô Giá’ của một tu sĩ đă can đảm viết về sự thô bỉ không chối căi được của đạo.

 

     Bao năm qua, chữ thầy đă trả thầy, tôi không khỏi ngại ngùng. Nhưng đề nghị của người bạn rất đúng, v́ làm truyền thông, viết sách báo là ǵ nếu không phải là bằng mọi cách, vượt khó khăn, phục vụ độc giả.

 

     Riêng giáo hội Công Giáo La Mă, và các tu sĩ Việt Nam nên khuyến khích giáo dân học, biết về lịch sử giáo hội, ngoài kinh sách giáo sử, để tránh cho họ bị bọn ngoại nhân mê hoặc lợi dụng, (như trường hợp bọn giáo sĩ của Hội Thừa Sai Pháp quốc hải ngoại truyền đạo để biến giáo dân ta thành nô lệ, phục dịch cho thực dân Pháp, mà giáo hội bản địa thời đó là một tay sai đắc lực!), và là một cách giúp cho họ khỏi phải ‘Chịu Nạn!’

 

     Nước nhà đă độc lập thống nhất, thực dân Pháp đă bị đuổi đi, c̣n lư do ǵ nữa để ôm chân thực dân ‘giả cầy’ Rô-Ma?    Mấy triệu giáo dân không nuôi nổi mấy ngàn linh mục sao, phải sang La Mă đóng màn kịch gà què ăn quẩn cối ... Vatican?

 

     Trong sách ‘Trời Chưa Cho Nghỉ’ của bà Nguyễn Thị Hồng Diệp, có một đoạn văn rất hay:

 

     ‘Nhà thờ Đức Bà hiện ra trước mặt hai người. Côn Minh là một tỉnh lớn giầu có nên nhà thờ được xây cất rất nguy nga đồ sộ, mặc dù số giáo dân chẳng có bao nhiêu. Người Trung Hoa có một nền văn hóa cổ kính, và có những truyền thống gia đ́nh, và đạo đức lâu đời nên những hạt giống tin mừng những người Ki-Tô giáo gieo trồng không có môi trường thích hợp để nẩy mầm bén rễ. Mỗi sáng chủ nhật chỉ lèo tèo chừng vài chục người Trung Hoa đi lễ, c̣n phần lớn là người Pháp. (Trời Chưa Cho Nghỉ, NTHD, trang 304).

 

     Đoạn văn ấy có thể là vô t́nh hay cũng là một cách khéo léo tế nhị, để mở mắt giáo dân ta, khi người Trung Hoa và người Việt Nam đồng văn, đồng chủng, sao bà thấy gieo mầm tin mừng ở Trung Quốc không thành công bén rễ. Lại bén rễ ở nước ta? Phải chăng nếu dịch từng chữ (word by word), sự bén rễ ở nước ta là do đất mầu mỡ của thực dân (colonial fertile soil) đến nỗi đạo trở thành Giặc Áo Đen Việt Gian phản quốc! Nghĩa là làm sao để giáo dân đồng lơa với giáo hội tay sai; hoặc v́ không biết nên ‘ngu hiếu’ trở thành ‘ngu đạo’! 

 

     Những thái độ khác nhau của độc giả là khi th́ phản đối những ǵ sách báo viết ra, và cũng lại có khi th́ phản đối ‘những ǵ sách báo không dám viết ra.’

 

      Chúng tôi chỉ biết hết sức cố gắng, và thành tâm cống hiến quư độc giả bản dịch ‘Comment J’ai Donné Congé Aux Dogmes’ (Tại sao tôi bỏ giáo điều Công Giao’ của linh mục giáo sư thần học Pháp J. Turmel.

 

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

 

 

 

 

 

 

Lời nói đầu

của linh mục J. Turmel

 

     Ngày 18 tháng 12 năm 1880, đến sau năm ngày (1), là ngày tôi đủ điều kiện để được nhận chức phó tế. Năm muơi năm sau (1930) giáo hội Công Giáo La Mă đă ồn ào tố cáo tôi với toàn thế giới tôi là kẻ ‘rối đạo’ để tất cả các bổn đạo đều phải xa lánh tôi. Hai mươi mốt tuổi là b́nh minh của cuộc đời, bẩy mươi mốt tuổi là hoàng hôn đời sống. Từ đâu đă dẫn đến sự đối chọi hung dữ xen kẽ cào buổi b́nh minh và lúc xế chiều của đời tôi như thế? Đó là chủ đề của những điều tôi muốn kể ra trong tập sách này.

 

 

 

(1).Tôi sinh ra ngày 13 tháng 12 năm 1859, ở Rennes, số 142 đường Saint-Malo (nay là số 136). Năm 1868, cha mẹ tôi có một cửa tiệm buôn nhỏ dời đến số 21 đường Penhoet, nay gọi là đường Poulaillerie. Tháng 10 năm 1870, cha Gendron, cấp bậc tu viện trưởng, cha xứ họ đạo Saint-Aubin, sau vài tuần dậy tôi chữ La-tinh, đă gởi tôi làm một dự thính viên ở Saint-Martin. Vào lễ Phục Sinh năm 1871, cha đă cho tôi vào học lớp đệ thất.

 

 

 

 

 

 

 

Chương I

Ở Phân Khoa Thần Học Angers

 

 

     Sáng hôm sau ngày chịu chức của tôi, bề trên Đại Chủng Viện (Rennes), cha Guillois đă gọi tôi tŕnh diện và nói với tôi: ‘Con ơi! Đức Tổng Giám Mục đă quyết định gởi con đi Phân Khoa Thần Học Công Giáo ở Angers để hoàn hảo việc học thần học của con. Cha lănh nhận việc báo tin này cho con. Cha Gendron cũng được báo tin này rồi, và con sẽ chuẩn bị việc ra đi của con ở nhà cha ấy. Cha không nghi ngờ ǵ việc con sẽ giữ được long tin cậy của chúng ta, khi chúng ta đă chứng tỏ cho con thấy rồi. Rồi cha với lấy ba cuốn sách để trên bàn của cha, cha nói thêm: ‘Đó là sách dậy thần học cha P. Hurter vừa mới ấn hành xong, và rất được khen ngợi. Khi nói thế, cha đưa cho tôi ba cuốn sách dậy thần học đó. Tôi ngỏ lời cám ơn cha, và hứa sẽ chăm chỉ học. Rồi tôi rời khỏi chủng viện, để 20 tháng sau tôi mới trở về làm giáo sư thần học.

 

     Cha Gendron, là linh mục, vào ngày 6 tháng tám năm 1870 đă khai tâm cho tôi môn La-tinh. Cha đă thương yêu tôi như một người cha đối với đứa con. Hai lần trong đời tôi, nhờ sự giúp đỡ của cha, tôi đă được cứu thoát. Khi biết tôi, cha đang làm cha xứ của giáo xứ Saint-Aubin, rồi đến cuối tháng 10 năm 1875, cha về làm tuyên úy của dưỡng viện của những người bị bệnh thần kinh ở Rennes. Như thường lệ, cha đón tôi, trong khi tôi phải chờ đến ngày 28 tháng 12, tôi mới đi Angers.

 

Khi tôi tới Angers, phân khoa thần học đă khai giảng vào tháng 11 năm 1879 rồi, và khởi sự vào niên khóa thứ hai của trường. Những giáo sư của nhà trường có tŕnh độ không đồng nhất, và nhiều người trong số không nên nói đến th́ tốt hơn. Nhưng tôi phải chịu ơn cha P. Billot là người đă dậy tôi về giáo điều năm 1881, và sau đó là người kế nhiệm của cha vào năm 1882, là cha P. Peultier. Ít lâu sau, tôi có thể nhận ra được là khoa học mà các cha đă dậy tôi hoàn toàn đến từ Suarez, và với cha P. Billot là đến từ Pétau. Ngay trong thời kỳ tôi là đệ tử của các cha, tôi đă có cảm nghĩ ‘déjà vu’ (đă biết rồi), v́ với tôi, khi ở chủng viện Rennes, tôi đă đắm ḿnh vào sự nghiên cứu Billuart. Nhưng cuối cùng, họ cũng đă khai mở sự hiểu biết của tôi về khoa học kinh viện; họ đă cho tôi những ǵ tôi cần hỏi họ; họ có khả năng cao trong nhiệm vụ của họ.

 

     Vào năm thứ hai của tôi ở chủng viện Rennes, bề trên giao cho tôi một việc làm trong thư viện. Nhờ thế, tôi có ch́a khóa của thư viện, và tôi đă lợi dụng việc làm đó của tôi để đọc một số lớn sách. Tôi đă khai thác triệt để đặc quyền này; sự nghiên cứu riêng của tôi đă trở thành một sự đam mê đến nỗi tôi bỏ lại đàng sau những khóa giảng của các thầy tôi. Khi về Angers, tôi cũng mang theo cùng một tâm trạng ấy. Ở đó, những lớp học về thần học cũng vậy, dù tôi cũng học được vài thứ, song không có ǵ chiếm hữu được sự chú tâm của tôi nữa. Chỉ c̣n có sự nghiên cứu riêng tư của tôi là được quan tâm đến thôi.

 

     Tôi quơ hết sách bên tay trái tay phải của tôi. Trước hết là bộ sách gồm mươi cuốn của Tổng Giám Mục Fréppel viết về các Tổ Phụ đầu tiên của giáo hội. Những tập sách này đă mở ra trước mắt tôi một lănh địa mới, mà từ trước đến nay tôi chưa hề biết đến. Một lănh địa đă gây ra cho tôi những sự thích thú tuyệt vời: tất cả mọi thứ, gồm cả chứng minh sự xác thực về những bài viết của Aréopagite. Tổng Giám Mục Fréppel đối với tôi như một thần đồng của khoa học, gần như một siêu nhân, và tôi hứa sẽ noi theo gương của ông, dù từ xa, những thí dụ kỳ diệu ông đă đặt dưới mắt tôi. Khỏi cần phải vô ích nói rằng tôi đă phân tích rất kỹ mười cuốn sách của vị Giám Mục bác học miền Angers đó.

 

     Một cuốn sách khác tuy không gây ra cùng một sự nồng nhiệt đối với tôi như những cuốn sách nói trên, nhưng cũng đă để lại một ấn tượng sâu đậm với tôi, đó là cuốn La Lumière Intellectuelle (Ánh sáng của trí thức) của cha P. Zigliara. Trí tuệ con người biến hóa những tư tưởng là do tự nó hay sự tiến hóa của chúng đă hoàn toàn được ban xuống từ Chúa Trời? Trong hai cách giải thích về sự biến hóa của nguồn gốc tư tưởng, cách đầu được dậy cho tôi ở chủng viện và nhũng lư luận theo sự ưu đăi của thánh Thomas, là người đă dựa vào Aristote để coi như là có thể chấp nhận được. Nhưng cách thứ hai, mà sau đó tôi đọc được của Descartes, Bossuet, Fénelon, và những nhà triết học tân tiến khác, đă được tŕnh bầy rất sáng tỏ rơ ràng; và tôi đă nhiều lần chấp nhận cách sau đó, tuy rằng đôi lúc cũng đă có những sự gián đoạn.

 

Nhưng cuốn sách của Zagliara đă

chấm dứt sự do dự của tôi.

 

     Sau khi nghiên cứu rất kỹ cách sau này, tôi thấy rơ ràng tư tưởng của con người đến từ trái đất chứ không phải từ trên trời xuống. Từ đó, tôi chối bỏ luôn thuyết bản thể và thuyết bẩm sinh. Nói đúng hơn là tôi đă chấp nhận thuyết bẩm sinh của Spencer, chứ không phải là thuyết bẩm sinh cartésien.

 

    Angers, đa số những đồng môn của tôi biết tiếng Do Thái. C̣n tôi, tôi không biết. Đối với tôi điều quan trọng là phải chấm dứt sự thua kém đó của tôi. Tôi thành công trong việc t́m ra được cuốn sách ‘Chestomathie’, là sách trong đó có nhiều phân tích văn phạm rất chi tiết trong các văn bản Do ngữ. Với cuốn sách chỉ dẫn quư báu đó, việc học Do ngữ của tôi đă qua được những ngăn cản tưởng như không vượt nổi. Chỉ bắt đầu vài tuần lễ, tôi đă có thể dùng sách ‘Lexicon’ của tác giả Gesenius để giải nghĩa những văn bản Do ngữ của Kinh Thánh.

 

     Song song với việc học Do ngữ, tôi cũng học Đức ngữ, mà lúc c̣n ở đại học, tôi đă lượm lặt được những tiếng tạp nhạp. Trên đường học Đức ngữ của tôi, tôi gặp được cuốn sách ‘Geschichte der Religion Jésu–Christi. (Histoire de la Religion de Jésus-Christ - Lịch sử của đạo Giêsu-Kitô.) của bá tước Stolberg. Tôi lấy tập đầu của bộ sách chính thống này, và bắt đầu đọc. Cuốn sách này giúp cho tôi làm quen với việc giải nghĩa tiếng Đức, nhưng đă không dậy thêm cho tôi được ǵ khác, v́ những lịch sử căn bản mà ông thuật lại trong sách, tôi đă biết từ lâu, và đă rất quen thuộc với tôi rồi. V́ vậy, tôi phải đi t́m một cuốn sách Đức nào khác, sao nội dung có chất lượng giáo huấn hơn. Vào thời kỳ này, giáo sư dậy Thánh Thư là cha Litter, một linh mục thuộc miền Alsace, và cha đang dậy chúng tôi về tiên tri Isaie.  Tôi nhờ cha kiếm cho tôi một cuốn Đức văn b́nh giảng về nhà tiên tri này. Cha đă đưa cho tôi cuốn sách của Gesenius. Cha có lấy cuốn sách đó từ trong thư viện cá nhân nghèo nàn của cha không? Tôi nghĩ rằng có lẽ cha đă mượn cuốn sách đó ở thư viện của phân khoa Công Giáo. Và cũng như khoa Thánh Kinh của cha mới có gần đây thôi, nên tôi có cảm nghĩ cha chưa đọc cuốn sách ấy. Dù thế nào, tôi cũng rất vui mừng khi được cha đưa cho ba cuốn sách. Nhờ chúng, tôi đă có thể đáp ứng với sở nguyện của tôi để cùng một lúc học tiếng Đức, và học lời giảng Kinh Thánh; quả thật là một viên đá tôi đă ném trúng hai mục tiêu. Tôi c̣n có thể nói là trúng ba mục tiêu nữa. V́ Gesenius mà bảng ‘Lexicon hebraicum’  đă để cho ông trong sự nghiên cứu của ông về tiên tri Isaie những kho tàng về khoa học Do ngữ mà ông là bậc thầy. Như vậy là tôi có thể khởi sự phát triển môn học Do ngữ của tôi. Tôi ở tuyệt đỉnh của sự thỏa măn.

 

     Nhưng tôi đă không tiên đoán được sự thách đố đang chờ đợi tôi. Tất cả những b́nh luận ở chủng viện đều coi Kinh Thánh là cuốn sách từ trên trời xuống, và như thế phải là một cuốn sách thiêng liêng. Nhưng dưới ng̣i bút của Gesenius, nguồn gốc trên trời của Kinh Thánh

 

chẳng những phải bác bỏ không thôi,

mà c̣n chẳng cần phải biết đến nữa.

 

     Như thế, cuốn sách (Kinh Thánh) này chỉ là sản phẩm của con người, đương nhiên nó mất hết tính chất thiêng liêng được gán cho nó. Từ hai căn bản trái ngược này dẫn tới hai hậu quả rất quan trọng. Trước hết, nếu sách đến từ Chúa Trời, nó phải có tất cả những sự thiêng liêng trong mọi thành phần của nó. Và trời đă ban cho con người cuốn sách uy nghi đó, cuốn sách phải bảo đảm được mọi sự trao truyền chính xác trong tất cả mọi văn bản của nó. C̣n nếu ngược lại, cuốn sách là sản phẩm của con người, nó không thể nào tránh được những thêm bớt hay lạm bàn mà tất cả những cổ thư đều phải chịu. Tiếp đến, nếu sách là của Chúa Trời ban cho, nó phải loan báo sự giáng lâm của Chúa Cứu Thế, khổ h́nh, và sự sống lại vinh hiển của ngài. Nhưng, trong giả thuyết ngược lại, tất cả những lời tiên tri về Cứu Thế, mà những nhà thần học đă tin khi đọc tiên tri Isaie hay những sách khác của Cựu ước, lại đều đặt căn bản trên những sự sai lầm, và vào sự hoang tưởng nghĩa là

 

vào sự hư không

 

     Gesenius đă hiểu như vậy. Ông loan báo đó đây, những văn bản thực sự của tiên tri Isaie có những lạm bàn, mà theo ông, đă bị nhồi nhét vào bởi những người đọc, và không hề là của nhà tiên tri ấy. Mặt khác, ông kịch liệt đả kích những lời sấm truyền về Cứu Thế. Ông tuyên bố sự tiên tri mạo nhận về Đức Bà đồng trinh (7, 14) chỉ là kết quả của một sự đồn nhảm. Theo ông, Isaie chẳng khi nào loan báo cho Achaz về việc thụ thai đồng trinh của Giê-su, chỉ nói giới hạn rằng: ‘Những kẻ thù của các người sẽ bị nghiền nát trước khi con trẻ được thụ thai bởi một phụ nữ đă đến tuổi khôn ngoan’.

 

Chẳng bao giờ trong những b́nh giảng mà tôi có trong tay đă báo cho tôi biết bất cứ một trường hợp lạm bàn nào trong những văn bản Kinh Thánh. Hơn nữa, công đồng Trente không để ra ngoài những lạm bàn hay thêm bớt trong đoạn IV mà công đồng buộc giáo dân phải tin, và phải coi như giáo luật ‘với tất cả mọi thành phần của nó’ (cum omnibus suis partibus), bao gồm tất cả mọi sách như chúng đă được thấy trong bản dịch Vulgate?  C̣n về lời tiên tri Đức Bà đồng trinh, chẳng những chỉ có sự đồng thuận tuyệt đối của các Tổ Phụ, mà thánh Mát-thi-ơ c̣n cho nó một sự bảo đảm, sau khi kể chuyện về sự thụ thai đồng trinh của Giê-su, đă thêm (1,22): ‘Tất cả sẽ xẩy đến để hoàn tất điều Thiên Chúa đă báo qua tiên tri là: ‘Một nữ đồng trinh sẽ thụ thai và sinh ra con trẻ và người ta đặt tên cho nó là Emmanuel’.

 

     Như thế, hai xác quyết của Gesenius, cái đầu đụng với công đồng Trente, cái thứ hai đụng phải sự lên án của Thánh Kinh Mát-thi-ơ, đă nghịch lại cả hai truyền thống, cùng triệt để nổi lên những chống đối dữ dội. Nhưng mặt khác, làm thế nào để không thấy những lạm bàn vụng về đă rơ ràng cắt đứt gịng tư tưởng (ví dụ như những đoạn 7, 8, 9, 12)? Và làm thế nào để tin được rằng nhà tiên tri khi thấy Achaz sợ hăi về liên minh của Syria với Ephraimites đă phải trấn an Achaz bằng loan báo một sự cả thể sẽ hoàn tất bẩy trăm ba mươi năm sau? Sau khi đọc Gesenius, tôi thấy, h́nh như, lần đầu tiên, có một bức màn giả dối đă che dấu tôi nhiều sự thật cho đến lúc đó.

 

 

     Nhưng cùng một lúc tôi nghe những trách mắng, những hăm dọa của các Tổ Phụ, của công đồng Trente, và của Giê-su đối tượng t́nh yêu của tôi.

 

     Choáng váng  bởi sự xung đột giữa lư trí và đức tin, tôi hỏi giáo sư về Thánh Thư của tôi. Ông đă trả lời tôi rằng công đồng Trente không cấm chúng ta tin vào những lời bàn lặt vặt trong Thánh Kinh, và v́ tôi đă giải thích quá chi ly tỷ mỷ giáo luật của công đồng. Nhưng c̣n về lời tiên tri về nữ đồng trinh, ông cũng ngụp lặn như ông đă thường làm trong những lớp dậy của ông. Có thể những giải thích khó hiểu của ông muốn nói rằng sau khi tôi đă đọc Bossuet (Explication de la prophétie d’Isaie - Giải Thích lời tiên tri Isaie): ‘Đa số các nhà tiên tri chẳng có trách nhiệm ǵ đối với phần bị xen kẽ trong những bản văn; (hơn nữa) Chúa Thánh Thần  đă có cách vượt qua những giới luật của các văn bản tầm thường. Và, kết luận, Isaie khi trấn an Achaz có thể đă bị Chúa Thánh Thần dẫn đến thời kỳ của Chúa Cứu Thế. Sợ hăi bởi viễn tượng rối đạo, và chịu ảnh hưởng của văn phong kỳ diệu của Bossuet, tôi đă chịu nhận kết luận của vị giám mục lớn theo những phát biểu sau: ‘Nếu tất cả đă sáng tỏ, ta hăy đi theo từng phần dưới ánh sáng của sự thật, và khỏi cần đến sự hướng dẫn . . . Hăy đi trong những lời Thánh Thư bằng sự khiêm tốn và run sợ’.

 

     Tháng năm năm 1882 đă gần hết. Tôi trở lại Rennes để chịu chức linh mục vào ngày 3 tháng sáu; trước tuổi giáo luật 6 tháng, và cũng do được một đặc ân. Năm sáu tuần lễ sau khi tôi trở về Angers, tôi lại đọc sách của Gesenius. Nhưng chẳng hiểu v́ lư do nào tôi không rơ (Có thể v́ ngôn ngữ quá chọn lọc? Câu văn quá rắc rối? Hay là những b́nh luận đă cắt đứt gịng tư tưởng, đến nỗi có sự khó khăn trong việc theo dơi văn bản để tinh thần được sự sáng suốt lănh hội bài đọc chăng?) Tôi đă đọc sách của Gesenius chậm hơn là sách của Stolberg. Sau khi tôi rời khỏi Angers luôn, tôi chưa đọc hết một trăm trang b́nh luận. Cũng có thể v́ tôi không giữ một kỷ luật khắt khe; hay là tôi đă bỏ sang một bên nhiều chương mà tôi cho là không quan trọng để đọc các trang kế tiếp. Trong mọi trường hợp, tôi đă bỏ không đọc Gesenius, trước khi có sự ngờ vực thứ hai về nhà tiên tri Isaie. Và sự khó khăn mà tôi thành công vượt qua, chẳng nghĩa lư ǵ so với những điều tôi không biết.

 

     Đức tin của tôi đă thắng được những sợ hăi nó phải chịu trong năm 1882. Nhưng nó đă phải trả cho sự thắng lợi đó bằng hai vết thương nặng tôi xin kể ra đây. Vết thương đầu là đối tượng của sự không tin. Trước khi đọc Gesenius, tôi có một niềm tin tuyệt đối là sự phủ nhận giáo điều là kết quả hoặc do sự đam mê của con tim, hoặc do sự kiêu ngạo, hoặc do sự đố kỵ với siêu nhiên. Niềm tin này được nhồi nhét trong tôi bởi bọn thần học, và bọn biện luận khi chúng trách mắng những người không tin v́ sự ngoan cố của họ khi chối bỏ sự hiện hữu của các lời tiên tri, mặc dù đă có những bằng chứng rơ ràng. Hay là sự tranh căi những lời tiên tri mà Nữ Đồng Trinh là đối tượng, chẳng bao giờ tôi có sự nghi ngờ nào hết; chẳng bao giờ tôi có ư nghĩ là Chúa Trời không thể tiết lộ cho con người tương lai của họ; chẳng bao giờ tôi buông thả cho kiêu ngạo, hay bị thôi thúc bởi nhục dục(trong  khi sự sùng kính của tôi rất nồng nàn, có lẽ c̣n rất mănh liệt nữa.); cũng chẳng bao giờ tôi có một tham vọng chống lại sự siêu nhiên. Vấn đề độc nhất trước mắt tôi là sự hiện thực. Trong văn bản (7, 14) Isaie có phải đă thực sự tiên đoán rằng 730 năm sau Giê-su được sinh ra bởi một nữ đồng trinh không? V́ vậy tôi đă xác nhận theo kinh nghiệm của tôi vào năm 1882, là sự không tin có thể là một khởi điểm cho sự nghiên cứu nghiêm chỉnh những văn bản (Kinh Thánh); rằng bọn thần học đă vu cáo những người không tin, và bẻ cong những t́nh cảm riêng tư của họ để có thể chiến thắng sự không tin; rằng sự ngờ vực của họ với những xác quyết của chúng là hợp lư. Đó là vết thương đầu tiên của tôi.

 

     Tôi chịu vết thương thứ hai do sự lượng định giá trị của những lời giảng Kinh Thánh. Khi tôi thấy hố sâu ngăn cách Gesenius với bọn thần học trong lời sấm truyền 7, 14 của Isaie; tôi t́m cách để hiểu làm sao hố sâu đó có thể h́nh thành được? Tôi đă thấy rơ ràng nó là sản phẩm của hai cách giảng giải khác nhau. Một là cách giảng giải bằng cô lập chúng ra khỏi môi trường chung quanh của chúng; hai là giảng giải bằng cách ngược lại là chúng phải được t́m hiểu ở trong môi trường của chúng. Cách đầu là cách bọn thần học bám víu lấy, và cách thứ hai là của Gesenius. Mỗi cách đă làm phận sự của nó. Tôi đă nói về sự sợ hăi v́ sự rối đạo do uy quyền của Bossuet đă áp đặt cho tôi về liên hệ đến lời tiên tri Nữ Đồng Trinh, theo hướng đi của truyền thống.

 

Tôi xin thêm ở đây là hành vi bạo lực của sự tuân phục

không thể khuất phục tinh thần của tôi trong

những lời giảng Kinh Thánh.

 

     Ngày mà tôi lănh nhận một đ̣n nặng của Gesenius, tôi chỉ c̣n có với những lời giảng Kinh Thánh một sự khinh khi không bài bác được, dù mới chỉ ở trong phần tiềm thức của tôi thôi. Những lư luận của bọn thần học cũng vẫn c̣n được sự chú ư của tôi; cũng như tôi không c̣n sự tôn trọng dành cho những lời giảng Kinh Thánh nữa. Đó là vết thương thứ hai của tôi. Không phải là tất cả, mà là sự ngây ngô của nó. Những giáo điều vẫn c̣n sự chấp nhận của tôi, một sự chấp nhận nhiệt t́nh. Nhưng tôi đă có với những lời giải thích chính thức về giáo điều một sự tôn sùng bị suy giảm đi. Một sự sùng kính không thoát khỏi sự đố kỵ của tôi. Tôi được biết qua Gesenius rằng một linh mục người Đức tên là Isenbiel bị nhốt tù về tội chối bỏ tính cách sấm truyền Cứu Thế của Isaie 7,14. Cảm thương của tôi đến với linh mục Isenbiel và tôi tức giận bọn thần học mà tôi quy trách cho sự khốn khổ của linh mục bất hạnh đó.

 

Nhưng trên thực tế đó là biện pháp man di mọi rợ

của bọn giáo hội Công Giáo La Mă.

 

     Nhưng tư tưởng buộc tội giáo hoàng chưa đến với tôi. Trái lại tôi đă gạt nó ngay đi ngay khi nó vừa manh nha trong tôi như một sự phạm thượng.

 

     Vào khoảng giữa tháng bẩy năm 1882, tôi rời khỏi Angers không bao giờ trở lại nữa. Đôi khi tôi thấy lại kỷ niệm đi trên đại lộ mà từ tháng giêng năm 1882, đă đưa tôi hàng ngày, sau bữa cơm trưa, đến nhà nguyện Nôtre-Dame-sous-terre. Khi đi tôi đọc kinh, đến nhà thờ tôi cũng cầu xin nữa; trên đường về tôi đọc những ghi chú Đức ngữ trong một tập vở nhỏ. Vào một giờ trưa, tôi về đến nhà nội trú và không trở ra nữa.

 

 

Chương II

Ở Đại Chủng Viện Rennes

Trước ngày 18 tháng ba 1886

 

 

     Tôi được bổ nhiệm giáo sư đại chủng viện Rennes ngày 14 tháng tám năm 1882; giảng dậy của tôi bắt đầu vào ngày khai trường của tháng mười. Những môn dậy của tôi gồm Biện chứng thần học, sự Mạc Khải, Giáo hội Công giáo, và khoa luân lư cơ bản. Về những môn dậy khác nhau này, tôi không hề biết ǵ khác ngoài chỉ dẫn trong sách giáo khoa. Năm đầu tiên của tôi gồm sự nghiên cứu chăm chỉ trong thư viện của chủng viện. Tôi đă không được hướng dẫn hay có địa bàn để t́m đường đi. Trong những sách tôi có trong tay, tôi phải nói ở đây, là cuốn ‘Những thảo luận về sự chứng minh Công giáo và sự thật Công giáo’ của cha P. Dechamps, một hồng y tương lai. Sách ‘chứng minh’ này chỉ dẫn duy nhất theo những dữ kiện triết lư, và không có một sự trích dẫn nào của Kinh Thánh để cho tôi có cảm hứng sâu đậm, và là khởi điểm của sự suy ngẫm mà tôi chưa từng bao giờ trải qua.

 

     Tôi được biết, ngay từ lúc nhỏ, Chúa là người cha ân t́nh của chúng ta. Lần đầu tiên, khi tôi biết như vậy, Chúa nếu đúng như thế, dẫu ở bậc thấp hơn, chẳng hạn, chỉ là sự tạo dựng. Và sự thể này dẫn đến sự kết luận tiếp theo, đối với tôi, được coi là tất yếu. Với con người, người cha không bao giờ bỏ mặc đứa con người cha đă sinh ra nó. Người cha cho con những chăm sóc, những lời khuyên nhủ; người cha chỉ cho đứa con đường phải đi theo, và những nguy hiểm phải tránh: sự ân cần với đứa con của người cha phải luôn luôn bén nhậy. Như vậy Chúa không thể nào thua kém con người được. Hơn nữa, Chúa không được phép dửng dưng với các đứa con của Chúa. Chúa phải cung cấp cho con cái của Chúa những sự trợ giúp cần thiết. Sự Mạc Khải mang đến những sự trợ giúp là sự bổ túc, và trong một cách nh́n nào đó, chính là sự tiếp nối của sự tạo dựng. V́ con người được Chúa ban cho đời sống, con người phải chấp nhận sự Mạc Khải của đấng sinh thành. Bởi v́, trong tất cả nhũng tôn giáo hiện có, chỉ có Thiên Chúa giáo tự nhận là kế thừa của Do Thái giáo; từ đó đạo Thiên Chúa cũng linh thiêng như đạo Môi-se, huynh trưởng của nó. Cũng v́ thế, những chuyện của Sáng Thế kư xứng đáng được nhận sự tin tưởng hoàn toàn vào Chúa, v́ Chúa đă lănh nhận bổn phận chu toàn cho con  người ngay từ lúc đầu.

 

     Trước những thành quả đó, những lời tiên tri và những phép lạ của Kinh Thánh không thể nào mất đi được sự quan trọng của chúng. Nhưng nhiệm vụ chính xác rơ ràng là phải nhận những quy luật của lư trí. Những văn bản đă dậy cho chúng ta thấy ǵ Chúa làm; nguồn gốc linh thiêng của chúng ta cho thấy cái ǵ Chúa đă làm. Hai sự thể này phải ăn khớp chặt chẽ với nhau. Nhưng trước khi đi vào sự học chăm chú, và những phức tạp của văn bản, chúng ta phải biết chắc chắn rằng trời đă hướng xuống đất. Sự hiện hữu của Mạc Khải như là một hệ luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và người ta không thể nghi ngờ sự Mặc Khải mà không kéo theo sự nghi ngờ về Chúa. Tôi đă hoàn thành năm dậy học đầu tiên của tôi với sự yên tâm, v́ đă đặt được đức tin của tôi của tôi trên một cơ sở vững chắc.

 

     Kỳ nghỉ hè năm 1883, tôi đă mở lại tủ sách Do Thái của tôi đă đóng kín trong suốt năm học, và tôi đă dịch những thánh thư. Chủ tâm của tôi là phát triển kiến thức về tiếng Do Thái. Bản dịch chiếm mất một trang của các tập vở của tôi (tập b́a cứng, chừng hai trăm trang); trang bên mặt dành cho những ghi chú về triết học, nhưng đôi khi cũng có vài chỗ dành cho ghi chú về lịch sử niên biểu. Tôi có người hướng dẫn về thánh thư là cha Lesêtre, sau này là cha sở họ đạo Saint-Étienne-du-Mont, và là một trong những tay giảng sấm truyền chuyên môn của hàng giáo phẩm Pháp. Tác phẩm của ông có vẻ là một sách chính thống hoàn hảo. Sách có rất nhiều tài liệu về Do Thái mà tôi đă đón nhận rất thận trọng. Tôi theo học sách ấy của ông với một sự tuân phục triệt để.

 

     Việc học này chậm chạp, và mất nhiều công sức đă chiếm hết buổi sáng của tôi. Buổi chiều, sau khi đọc kinh ban chiều, nghĩa là từ hai giờ trưa trở đi, tôi dùng cho việc đọc lẹ nhưng điều dành cho những câu hỏi về Kinh Thánh, trong phần của những vấn đề thuộc về thần học. Tôi lột trần sách ‘Kinh Thánh của Lethielleux’, một tuyển tập vừa mới xuất bản xong toàn bộ; rồi tôi chuyển sang việc chống lại bọn duy lư và bọn Tin Lành.

 

     Những đúc kết đối với tôi h́nh như lúc nào cũng chắc chắn. Tuy nhiên, có một lần, một t́nh cảm chống đối đă bất ngờ xâm chiếm tôi. Tôi đọc lời phê b́nh thánh thư của thánh Jude. Tác giả đương nhiên yểm trợ những lư thuyêt tốt. Ông đă thận trọng tách ra những sai lầm trong văn bản của vị tông đồ này, những sai lầm do bọn giảng Kinh Thánh đă ghi lại trong những bài đó. Thảm hại cho chúng là thay v́ bắt chước một số lớn bọn biện hộ khi xuyên tạc vô liêm sỉ nhưng bài bác, ông đă phơi bầy ra bản chất lương thiện nửa mùa của ông. Những điều đó thật kinh hoàng. Thánh tông đồ Jude, không hơn không kém đă bị cáo, là phạm tội, trước hết là quy cho các thiên thần cái tội trơ trẽn. Thứ hai là đặt căn bản trên quyền lực của sách Héron và sách Assomption, toàn là những sách giả mạo không có giá trị ǵ hết. Hay là, có bao nhiêu chống đối rơ ràng rành mạch th́ cũng có bấy nhiêu trả lời méo mó. Nhưng với thiện chí tôi vui ḷng chấp nhận. Nhưng một lần thứ hai, tôi phải công nhận rằng những tấn công vào Thiên Chúa giáo không phải lúc nào cũng do cảm hứng của thành kiến hay sự ngu dốt thô bỉ, nhưng phải nhận là cũng đă có nhũng chống đối đúng mặt ngoài.

 

     Đó là một lư do thêm nữa để tôi giải quyết vấn đề. Nhưng như vậy cần phải có một ư niệm chính xác. Lúc này là cuối năm 1883. Tuổi 24 của tôi vừa đến và năm thứ hai làm giáo sư của tôi tiếp tục. Kích động bởi t́nh yêu giáo hội mẹ, tôi muốn chống lại những tấn công không đém xuể giáo hội phải chịu làm mục tiêu. Nhưng muốn chống trả hữu hiệu phải biết những bài viết của đối phương, biết hết những bài viết của chúng, không thể dùng những trích dẫn lặt vặt nghèo nàn, mà bọn ngụy biện rất ưa thích đưa ra. Tôi xin phép Index (cơ quan kiểm duyệt sách báo của giáo hội). Thỉnh cầu rất chính đáng của tôi được bề trên của tôi gởi lên tổng giáo phận để nhờ chuyển đến La Mă. Thật vậy, đối với ai Index mới cho phép, nếu không phải là các giáo sư thần học, và hai tháng sau, La Mă đă ban cho tôi điều tôi rất cần.

 

     Ngay tức th́, lănh vực đọc sách của tôi có một sự bành trương rộng lớn. Trong lănh vực thứ hai đó, tôi gập trước hết sách ‘Discours du vicaire Savoyard’ (Những bài giảng của giám mục miền Savoy). Tất cả bọn ngụy biện chỉ cung cấp cho tôi được những trích dẫn, nhưng bây giờ, lần đầu tiên, tôi có được sự t́m hiểu đầy đủ trọn vẹn của sách đó. Tuy thế, sự tiếp xúc này cũng chẳng tăng thêm ǵ cho sự vững chắc đức tin của tôi. Sách lịch sử Horaces và của Curiaces đă dậy cho tôi biết rằng những tấn công cách quăng, lẻ tẻ và rời rạc sẽ không đạt được kết quả mau chóng thay v́ phải là những trận tổng công kích toàn diện. Sách ‘Discours’ thiếu mạch lạc, và bị cắt quăng tôi đă biết từ năm sáu năm qua chẳng có ǵ đáng sợ. Khi những xuyên tạc, và cắt xén đến nay chính chúng lúc này trở thành nạn nhân, đă biến hết, nên khi tôi thấy bộ mặt thật của nó, tôi cảm thấy nó không được ǵ ngoài một sự khinh thường của tôi với nó. Trong mọi trường hợp cái đ̣n tệ hại là chứng cớ của Dechamps lại chính là cuốn sách của ông ấy đă cho tôi một ư nghĩ. Sự Mạc Khải của linh hồn chúng ta đă đặt thành một định lư, rằng Chúa đă sinh ra chúng ta th́ Chúa phải chu toàn cho chúng ta, một việc tốt lành cho mọi cá nhân chúng ta, không ai phải chịu thiếu xót. Nó không có ǵ liên hệ với sự mạc khải nguyên thủy khi Kinh Thánh cho biết loài người ngoại trừ một số gia đ́nh, hoàn toàn không biết đến; không có ǵ liên hệ đến sự mạc khải của Môi-se, giới hạn trong vài quận hạt của nước Syria; không có ǵ liên hệ đến một phần ba nhân loại không bao giờ biết đến. Chúa đă không thỏa măn định luật cho linh hồn con người, lẽ ra thượng đế phải làm được. Có một cái ǵ tương phản giữa những điều phải có, và những điều luôn luôn trong mọi thời. Như vậy là một ước mơ một hệ luận về sự hiện hữu của mạc khải cũng như sự hiện hữu của Chúa, và kết luận lư thuyết tất yếu đó h́nh như chỉ là ảo ảnh viển vông.

 

     Tôi bác bỏ như một hoang tưởng sự chứng minh của P. Dechamps, mà trước kia đă gây cho tôi sự nhiệt t́nh, và tôi đă rút vào sự trú ẩn của bằng chứng truyền thống, có điểm khởi hành là những lời tiên tri, và phép lạ. Chính là nhờ Reuss đă giúp cho tôi trút bỏ và thoát ra khỏi chỗ ẩn nấp tối cao đó. Trong nửa năm đầu của năm 1884, tôi đă dần dần lột trần hầu hết ‘Kinh Thánh của Lethielleux’, là người đă cho ra những lời giảng Kinh Thánh chót. Gom tất cả những vũ khí của những người bảo vệ Kinh Thánh, tôi có thể sẵn sàng đối diện kẻ thù. Thời này, kẻ thù trong lănh vực Kinh Thánh là Reuss, một giáo sư miền Strasbourg, vừa mới xuất bản cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Pháp. Tôi quyết định đọc sách của Reuss. Và như vậy tôi đă bỏ ra một thời lượng lớn để dịch những thánh thư Do Thái, tôi bắt đầu dùng vào việc làm của tôi để chống lại vị giáo sư của miền Strasbourg.

 

     Sự đụng độ đưa đến những kết quả thật bất ngờ. Tiếp sau Lesêtre mà tôi là một đệ tử tuân phục, tôi sắp đặt những thánh thư gần nhất của những năm kề cận ‘sự trở về sau khi bị giam cầm’ (536 thời đại của chúng ta). Ngược lại, Reuss cho tôi biết, là đó đây, của những người làm thánh thư như ảo ảnh rơ rang về sự bách hại Antiochus (168 trước thời đại chúng ta). Hay là, không nghi ngờ ǵ nữa, v́ sự vâng lời mù quáng của tôi trước những ảo ảnh này. Nhưng, kể từ khi Reuss đă chứng minh, tôi không thể hoặc không chịu thấy, hoặc không dám thách đố lại. Những ảo vọng đó đă đặt lên tôi bằng chứng của chúng. Ví dụ như, trong câu thánh thư 43 của bản  Vulgate người viết thánh this au khi mô tả những khổ cực của dân nó, đă thêm:

 

‘V́ mày mà chúng tao bị thảm sát hàng ngày;

‘Chúng tao không chối bỏ liên kết với mày.

‘V́ mày mà chúng tao bị thảm sát hàng ngày;

‘Chúng tao bị đối xử như loài súc vật.

 

     Trước cuộc bách hại Antiochus bùng nổ ra vào năm 168, dân Do Thái bị Iahvé trừng phạt v́ đă bất trung với ngài. Chỉ có vào năm 168, mới là lần đầu tiên họ bị bách hại v́ có liên hệ với đạo Môi-se. Câu thánh thư 43 chỉ có thể viết ra bởi một nạn nhân trong cuộc bách hại Antiochus.

 

     Những ám chỉ về sự bách hại Antiochus mà tôi thấy rơ rang trong câu thánh vịnh 43 và trong một vài câu thánh thư khác không cần phải vô ích kể ra đây. Chính Lesếtre cũng thấy chúng nữa: v́ chúng đă được báo cho ông biết bằng những sự nhận xét phê b́nh do chính ông đă đưa ra, nghĩa là ông biết chắc. Ông đă thấy rơ. Nhưng v́ sợ hăi phường giảng giải Kinh Thánh Công Giáo có thể la toáng lên, nếu không bị buộc là rối đạo, ít nhất cũng là gây cho kẻ yếu ḷng phạm tội; và cũng sợ hăi Ṭa Thánh có thể kết tội ông, nên ông đă không dám để lộ ra ư nghĩ thầm kín của ông; ông đă phải dối gian che dấu. Và từ cái kinh nghiệm này, tôi đă rút tỉa ra được những kết luận như sau:

 

     1.Ngày nay cũng như thời Galilée, giáo hội vẫn ngoan cố bám vào những truyền thống không có căn bản, và nó muốn áp đặt những lời giảng Kinh Thánh; khi nó không áp đặt được, nó sẽ đề cao chúng; hay là nó nh́n bằng con mắt dơ bẩn ác ư với những ư kiến mới.

 

     2.Bọn linh mục ngụy biện, để tránh con mắt soi mói ŕnh rập của Ṭa Thánh; hay giản dị nhất là không gây tai hại khốn khổ cho tương lai nghề tu của bọn chúng, chúng đă phải chối bỏ sự thật rơ ràng, một cách ‘tinh ranh’. Trong những vấn đề nguy hiểm, chúng nói ngược lại với tư tưởng của chúng; chúng không c̣n xứng đáng được tin cậy nữa

 

     3. Những lời giảng Kinh Thánh của nhóm duy lư chưa hẳn là đă không sai lầm, và những xác quyết của họ chỉ được chấp nhận sau khi phải có kiểm chứng nghiêm chỉnh. Nhưng ít ra họ cũng thành thật, v́ họ có sự độc lập; người ta biết được họ nghĩ ǵ, trong khi người ta chẳng biết ǵ ngay trước mặt bọn biện hộ, bọn chạy tội.

 

     Bây giờ, tôi ở vào cuối hè năm 1884. Giáo hội giống như là một kẻ vùi dập, và bọn giảng Kinh Thánh cũng bị lên án là bọn lường gạt. Đức tin của tôi vẫn c̣n sống, v́ vấn đề những thánh thư ma-ca-bê-an-nơ không đụng chạm trực tiếp ǵ đến giáo điều; nhưng một con sâu trong tôi đă bắt đầu gậm nhấm đức tin của tôi. Trong tâm trạng này, tôi khởi sự năm thứ ba đời giáo sư của tôi.

 

     Việc dịch thánh thư đă xong,  tôi chuyển sang đọc những sách sử; tôi làm công việc dịch tiếng Do Thái với sự giúp đỡ của Reuss. Nhưng công việc này v́ những tiến tŕnh rất chậm, tôi kết hợp lại, như trong quá khứ, những bài đọc. Trước tiên, tôi làm việc giải thích rành mạch lời tiên tri nổi tiếng của bẩy mươi tuần lễ trong sách tiên tri Daniel (9,22,27) mà tôi có nhiệm vụ dậy cho các chủng sinh của tôi. Soi sáng bởi Reuss, tôi không gặp khó khăn để công nhận lời sấm truyền có chủ đích vào việc sát hại thầy tu Onias III, bị giết vào năm 170, và để đặt vào đó sự chết của đấng cứu chuộc, người ta đă dùng đến mánh khóe của những sự mâu thuẫn thô bỉ, trong khi sự quan trọng nhất, sự nổi bật nhất chỉ là một tṛ đổi chác? Nhưng tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên. Daniel tự cho ḿnh là bạn của những người Do Thái bị giam cầm ở Babylone, đă giả mạo nhận viết vào năm 533, trước khi chấm dứt sự giam cầm, mà trên thực tế, ông là người đồng thời với Antiochus Epiphane, nghĩa là ông viết vào năm 168. Dưới danh nghĩa tiên tri ông mô tả những biến chuyển của thời ông mà ông biêt rơ từng chi tiết. Nhưng ông đă phiêu lưu vào những năm kế cận 538, và khi ông viết ông đă rối trí và lúng túng hết sức. Tóm lại ông không hề biết ǵ về những năm 538; Nhưng thật ra lại đă không có ǵ thuộc nhưng năm kế cận của 168 thoát khỏi ông được. Daniel là một người giả mạo là kết luận không chối căi được đă dẫn đến sự nghiên cứu về những lời tiên tri của Daniel. Và với kết quả đó, đặt căn bản trên những bản văn rất rơ ràng, đón nhận được của truyền thống những sự nương tựa vững chắc; v́ vào khoảng những năm 180, tác giả sách Ecclésiastique, khi nói đến những sự vinh quang của dân Do Thái, đă giữ im lặng về cái tên Daniel mà họ không biết đến. Và, trong khi những sự đọc sách của tôi đưa dẫn tôi vào trạng huống của Daniel, sự dịch thuật của tôi đă cho tôi đương đầu nổi được với những sách lịch sử về Kinh Thánh. Như trong trường hợp của Daniel, chỗ nào cũng có lầy lội và có những sự phục kích. Tôi dịch sách lịch sử Samuel, và tôi nhận thấy ông thánh này đă dâng cúng lễ vật ở Rama, ở Mispa, ở Guilgal, không quan tâm đến luật của sách Deutéronome đă ra lệnh phải phải dâng cúng ở Kiriath-Iarim, là nơi có chiếc tầu của ông Noé, chứ không được làm ở chỗ nào khác. Tôi dịch sách Vua Đa-vít, và tôi cũng biết nhà vua lớn này, cũng thế, đă phạm luật Deutéronome, khi dâng cúng xa con tầu, ở trong băi Arauna-Jébuséen. Sau đó, tôi c̣n nghe được tiếng tiên tri Élie than khóc về sự phá hủy những bàn thờ của Iahvé (3 sách các Vua) không ngờ rằng  những sự phá hủy những bàn thờ Iahvé này, ở rải rác khắp nước Do Thái đă bị buộc tội bởi sách Deutéronome, nhưng ngược lại theo quan điểm về luật lệ của sách Deutéronome, sự biến mất những bàn thờ đó lại là điều tốt. Tôi cũng thấy tiên tri Élisés (3 Vua 19, 21) đă dâng cúng của lễ, không được làm  ở Giê-rusalem, cũng trái với luật của sách Deutéronome. Và tóm lại, tôi thấy những người ngoan đạo này đă không được vi phạm hay không thể không biết đến những luật lệ căn bản của đạo Môi-se, tôi buộc ḷng phải kết luận rằng sách Deutéronome khi được cho như là công tŕnh của Môi-se, mà thật ra không được viết vào những năm gần với 1500 trước thời đại chúng ta, và cũng chẳng có trong thời đại cũ vào thế kỷ thứ chín. Ở đây, cũng giống như với Daniel, truyền thống xác nhận là chứng nhân của sách, v́ sách đă được tôi biết (4 Các Vua 22,8) rằng Deutéronome đă được ‘t́m thấy’ trong đền thờ Giê-ru-sa-lem dưới thời vua Josias vào năm 622. Được ‘t́m thấy’  nghĩa là tạo ra vào năm 622, bởi một kẻ giả mạo, nhưng muốn cho việc làm đó có uy tín (cho sách), nên phải dựa vào sự bảo trợ của Môi-se.

 

     Sách Daniel là sách giả mạo! Sách Deutéronome cũng là của một kẻ làm giả! Danh sách này cũng không chậm trễ kéo dài thêm nữa. Tôi đọc các tiên tri, luôn luôn cùng với Reuss. Và tôi biết trên miệng họ ngôn ngữ không dung ḥa được với luật lệ của sách ‘Lévitique’.

 

     Chỉ cần lấy một thí dụ, là Jérémie đă không sợ hăi ǵ khi đặt vào miệng Iahvé những lời nói (7,22):

 

Ta chẳng cho cha các người một lệnh nào.

Ngày mà ta cho những đứa con trai ra khỏi Ai-Cập;

V́ bị diệt chủng hay phải chịu hy sinh.’

 

     Vào khoảng những năm 620, Jérémie đă không biết rằng Chúa đă điều chỉnh những dâng cúng trong thời gian dân Do Thái sống trong sa mạc. Sự không biết này của ông là định mệnh cho cuốn sách ‘Lévitique’ ở trong đó có biết bao nhiêu điều lệ công bố ra bởi Chúa về những lễ hy sinh! Ở thời điểm của Jérémie, cuốn sách ‘Lévitique’ chưa có. Và, như là ông đă đổ vấy cho nó là của Môi-se, nên nó chỉ là một cuốn sách của một kẻ làm giả. Cũng bởi những lư do tương tự, kết luận này cũng áp dụng được cho sách ‘Nombres’ (Dân Số kư). Những sách ‘Sáng Thế Kư’ và ‘Xuất Kư’ lại cho tôi một h́nh ảnh khác: đó là những sự nhắc đi nhắc lại mâu thuẫn nhau. Có rất nhiều mâu thuẫn trong những sách này, (và cũng thế ở trong sách Các Vua, và sách Vulgate - cuốn sách đầu của Samuel bằng Do ngữ), những chuyện bị nói tới nói lui khi người ta đọc đă thấy sự dùng lại hai lần. Như thí dụ, khi nói về cơn đại hồng thủy, đă có hai sự nô tả với những lư do phơi bầy ra của đại họa này, hai huấn lệnh lúc đầu của Chúa cho ông Noé, hai cách khác nhau về việc (cho súc vật lên tầu), hai cảnh lũ lụt, hai lời hứa của Chúa sẽ không làm lụt lội trái đất nữa. Cũng vậy, trong những chương đầu của ‘Xuất Kư’, những tai họa ở Ai-Cập được báo cáo hai lần. Hay là những sự lập đi lập lại đă xuất hiện có những tù ngữ đặc biệt, mà chúng không khi nào ăn khớp được với nhau; lúc nào cũng có những khác biệt có thể tách rời nhau ra. Trong sự mô tả cơn lũ lụt, một chuyện gán cho tên Chúa là Iahvé, trong chuyện khác lại có tên là Élohim. Trong chuyện Iahvé, đă có việc cho lên tầu bẩy cặp thú sạch và chỉ có một cặp thú bẩn; và chuyện Élohim gán cho ngài con tầu mang lên mỗi loại thú một cặp. Cuối cùng, trong chuyện mang tên Iahvé, nước mưa đổ xuống trong bốn mươi và mười bốn ngày rồi mới ngưng. C̣n trong chuyện mang tên Élohim, nước mưa đă tràn ngập trái lại là hai trăm năm mươi ngày. Cũng cùng một hiện tượng trong chuyện tai họa ở Ai-Cập, mà Chúa giữ độc quyền về những phép lạ, khi th́ cho Môi-se quyền làm, khi th́ cho Araon làm. Như vậy, hai chuyện đă tréo cẳng ngỗng nhau. Và, kết luận tôi rút ra được là những khác biệt nhắc tới nhắc lui, là sách ‘Sáng Thế Kư’ và sách ‘Xuất Kư’ không tính đến các sách khác có những mâu thuẫn đầy rẫy, có ít hoặc chẳng có giá trị lịch sử nào cả.

 

     Trong phần lớn của năm 1885, tôi đă giới hạn trong việc học Cựu Ứơc. Tuy vậy, một ngày đến, không ngưng việc dịch thuật của tôi, tôi đă quyết định khám phá lịch sử Kinh Thánh. Tôi đă tính học thật kỹ, và lâu sau tôi đă giới hạn vào chuyện Chúa Hài Đồng (những chương đầu của các sách Mát-thi-ơ và của Lu-ca, bọn chúng đă cố gắng ḥa hợp những khác biệt, nhưng chính chúng cũng lại đă làm cho chuyện rất khác. Reuss đă làm cho tôi thấy rơ sự đối nghịch không căi được giữa hai chuyện của Mát-thi-ơ, khi cha mẹ Giê-su đă trốn sang Ai-Cập liền ngay chuyến viếng thăm khi ba vua ra về; c̣n chuyện của Lu-ca, thánh gia đă trở về Nazareth b́nh yên bốn mươi ngày sau khi con trẻ thánh thiện được sinh ra. Dĩ nhiên, ông thê, đúc tin vào Đấng Cứu Thế không bị chi phối bởi vấn đề thời biểu; nhưng tôi buộc phải biết rằng, một chuyện ít ra, trong những chuyện của Kinh Thánh về Chúa Hài Đồng, khi th́ của Mát-thi-ơ, khi th́ của Lu-ca, cũng chỉ có giá trị như một câu chuyện, mà những biện hộ của bọn chạy tội vẫn hoàn toàn chỉ là những ảo tưởng. C̣n về tiên tri về sự tận thế, Reuss bảo đảm cho tôi rằng Giê-su không hề sai lầm, nhưng ông đă chứng minh cho tôi cho tôi không căi được là bọn người viết Kinh Thánh đầu tiên đă hiểu sai ư tưởng của Đáng Cứu Thế, khi đặt sự trở lại của Chúa như được nh́n thấy được bằng mắt trần than xác cụ thể ngay sau sự đổ nát của thành Giê-ru-sa-lem. Như thế có thể nói được lịch sử Kinh Thánh được bắt đầu bằng một câu chuyện nhưng đă kết thúc thành một sự hoang tưởng.

 

     Chỉ một nhận định đó thôi đă đủ sức để giết chết ngay đức tin của tôi, và không để cho nó một lúc nào được  thảnh thơi nữa. Trong tất cả tổng kết lại, dù những đ̣n đè nặng lên tôi, nhưng vẫn chưa đủ sức trong nhiều tháng dài để đủ sức quật ngă nó. Nhiều yếu tố cùng hợp lại đă mang đến kết quả này.

 

     Một là tách riêng những giáo điều ra khỏi lời giảng Kinh Thánh, đă là điều mà Abrah am gọi là ‘chaos magnum’, nghĩa là hố sâu không thể nào vượt qua được. Để đào sâu và làm rrộng ra hố sâu đó, tôi đă bắt đầu từ năm 1885 làm việc suy ngẫm sách giáo khoa thần học của cha P. Hurter. Cuốn sách đó lúc nào cũng mở ra, và đặt trên mặt đá của ḷ sửa trong pḥng tôi.Mỗi một buổi sang tôi đọc đôi hang, và lănh hội khi đi lại trong pḥng. Sauk hi việc lănh hội hoàn tất, tôi tiêp tục sang những hang khác. Và việc này kéo dài cho đến hết một nửa giờ đă được ấn định. Trong suốt thời gian đó, tôi cố gắng hết sức lấy ra sự đờng ư đáng kể của những Tổ Phụ về những giáo điều. Tôi tŕnh diễn một buổi ḥa tấu đồng nhịp tuyệt đối với các tổ phụ mà những thầy thần học của tôi ở Angers vẫn thường nói với tôi: ‘conclamant Patres’ (Các tổ phụ đồng ḷng với nhau). Và tôi đă dùng tảng đá vững chắc của giáo điều Công Giáo để chống lại lời giảng Kinh Thánh chẳng qua chỉ là những hạt cát vụn.

     Song song với suy ngẫm về giáo điều, tôi đă quyết định dùng phương pháp phân tán. Cách đi mà lúc đầu tôi vận dụng đă chứng tỏ vô hiệu quả. Những tư tưởng của tôi, những ưu tư của tôi cùng đi theo với tôi. Một vài lần đi ra ngoài (không quá ba lần), tôi hiểu rằng việc làm thu hút tâm trí mới đủ sức giúp cho tôi có được sự phân tán cần thiết, và tôi thực hiện việc học chữ Phạn. Sau một vài tháng, tôi đă giải nghĩa được một số bài.

     Phương pháp thư ba: tôi làm như những kẻ bị đau khổ, tôi thổ lộ tâm sự của tôi cho những người bạn thân. Tôi thấy h́nh như gánh nặng của tôi được vơi đi rất nhiều; rằng chúng tôi hai ba người cùng chung gánh vác nó đến ngày mà những người khác cùng nhận ra được nó. Tôi có người giải tội là cha đă khai tâm cho tôi về môn La-tinh, và là người giữ nhiệm vụ giáo dục tôi, ông rất yêu thương tôi, và đối với tôi ông là một người cha nuôi. Theo nguyên tắc, khi xưng tội, tôi phải xưng với ông những tội của tôi thôi. Nhưng tôi đă dấu ông t́nh trạng tâm hồn tôi mà tôi cho rằng không phải là tội. Nhưng tôi cảm thấy uy quyền của người cha vượt trên uy quyền của một người giải tội. V́ vậy, tôi đă tâm sự với cha Gendron những bối rối đă làm đảo lộn linh hồn tôi. Trong số những đồng liêu của tôi ở đại chủng viện, giáo sư triết, cha Ceillier, có cùng một sự thông minh và đức độ tuyệt vời. Sự kính mến của tôi đối với ông lên đến sự suy tôn. Tôi t́m cách thân thiết với ông. Thường thường, trong những giờ ra chơi, chúng tôi tách riêng ra để nói chuyện với nhau; những câu chuyện, không bao giờ tầm thường, đă chuyên về những vấn đề triết học hay vật lư học  mà ông thông thạo. Tôi cũng tâm sự với ông. Tôi cho ông biết trong t́nh trạng nào cái học của Reuss đă ảnh hưởng tôi.

 

    Đó là ba phương pháp tôi dung để chữa trị sự dữ đă gậm nhấm tôi. Tôi chỉ c̣n phải nói cái ǵ đă đến được với tôi thôi từ những phương pháp đó. Trước hết là những tâm sự tôi đă rút ra được. Trước ṭa giải tội, không thiếu ǵ những tâm hồn sùng tín đă xưng ra những hoài nghi về đức tin.Người giải tội biết sự hoài nghi không kéo theo một sự thỏa măn nào. Ông chỉ cho họ hăy dẫm lên chúng, hăy khinh bỉ chúng để chúng không là những sự ngăn cản cho việc được chịu Ḿnh Thánh Chúa. Giải quyết này sẽ trấn an những người xưng tội và mọi việc sẽ không đi đến chỗ quá trớn. Cha Gendron và cha Ceillier cùng cho tôi một câu trả lời: họ đồng hóa tâm hồn tội như những tín đồ sùng kính. Cả hai đều đáng được châm chước và tha thứ, v́ họ không hề có một ư niệm ǵ về những vấn đề đă làm tôi bị khủng hoảng. Tôi đă có lỗi là đă đặt trước mặt họ một t́nh trạng mà họ không có cách nào hiểu nổi. Nhưng từ khi tôi biết sự sai lầm ấy của tôi, tôi đă lợi dụng nó như một kinh nghiệm. Tôi co rút lại trong tôi và chấm dứt tất cả mọi tâm sự với họ.

 

     T́nh bạn đă chứng tỏ bất lực không chữa trị nổi cho tôi. Phương pháp phân tán cũng không hữu hiệu. Bị cô lập trong môi trường khoa học, tôi làm ǵ được với những mảnh vụn chữ Phạn mà tôi đă thâu nhận được? Ví thử, nếu tôi có mạnh thêm lên được mười lần nữa, tôi cũng làm được ǵ cho tôi? Cuối cùng tôi thấy học chữ Phạn là một sự lầm lẫn. Tôi bỏ nó và trở về học chữ Do Thái.

 

     Nhưng chữ Do Thái lại có liên hệ với Thánh Kinh. Và sự tiếp xúc với Thánh Kinh là những cơn giông băo mà những giáo điều không tránh được sẽ bị ch́m nghỉm, nếu tôi không thành công trong việc tách rời chúng ra khỏi những lời giảng Kinh Thánh.

 

     Biệt lập những giáo điều, đặt chúng vào chỗ trú ẩn thoát khỏi ảnh hưởng của những lời giảng Kinh Thánh bại hoại lá sự giải thoát. Hai phương pháp kia đă thất bại thê thảm; chỉ c̣n cách này mới giúp tôi bảo vệ được đức tin. Ảo ảnh cuối cùng mà tôi bám víu vào với sự ngoan cố khủng khiếp, và rồi nó cũng vùng thoát tôi.

 

     Nếu chỉ mất thời gian thôi, tôi cũng có thể đào sâu thêm để ngăn cách giữa những lời giảng Kinh Thánh với giáo điều. Nhưng khó khăn về thời gian không nghĩa lư ǵ đối với những dữ kiện sừng sững trước tôi.  Điều làm cho tôi lo lắng đến sợ hăi, làm cho tôi khiếp đảm là những sự giả dối, những mâu thuẫn chộn lẫn với những ngụ ngôn con nít, những ảo mộng chứa đầy trong Kinh Thánh và cả Phúc Âm nữa. Trước sự có mặt của những xác định đó, cảm hứng thiêng liêng của Kinh Thánh là ǵ? Làm sao có thể tin được Chúa đă gây cảm hứng cho chúng ta bằng những ư tưởng giả dối để lừa gạt chúng ta? Làm sao tưởng tượng nổi Chúa kích động hay khuyến khích h́nh thành những chuyện mất hết thực tế và hơn nữa lại mâu thuẫn lẫn nhau? Hay là cảm hứng của Kinh Thánh cho tất cả những sách của nó, những trang giấy của nó, là một giáo điều trong những giáo điều căn bản, được sự thỏa hiệp của các tổ phụ, những tổ phụ ‘conclamant Patres’ là trấn áp nhất, là quyết định nhất! Giáo điều này không có cách nào thỏa hiệp được với sự đồng thuận của các tổ phụ ‘conclamant Patres’. Một trong những xác định bao gồm giáo điều Thiên Chúa Giáo là căn bản chính yếu dùng làm nền tảng đă bị triệt tiêu: những giáo điều khác trở thành ǵ? Trên một quan điểm quan trọng để thỏa hiệp, những thỏa hiệp tuyệt đối của các tổ phụ đă được dùng để thánh hoá sai lầm: vậy c̣n ǵ giá trị nữa cho những điểm khác? Như vậy tuổi thơ của Giê-su đă trở thành huyền thoại, sự sống lại c̣n đáng tin được nữa không? Để cứu vớt danh dự cho Giê-su, tôi xác nhận sấm ngôn của Chúa về tận thế đă bị biến dạng, xuyên tạc bởi bọn dậy phúc âm: những bài giảng khác của chúng cũng cùng là nạn nhân của chúng không? Sau hết sự mạc khải Thiên Chúa Giáo đặt trên sự mạc khải của đạo Môi-se mà nó nhận là thừa kế, cũng như nó sở hữu hóa những sách đạo: làm thế nào nó sống c̣n khi căn bản của nó bị xụp đổ? Chắc chắn rằng mạc khải đạo Môi-se lẫn lộn những ngụ ngôn và gian dối , kéo theo nó sự xụp đổ của Thiên Chúa Giáo. Và toan tính của tôi dịnh tách rời chúng ra thành hai khối đă là:

 

một công tŕnh huyễn ảo, uổng phí!

 

 

Chương III

Ngày 18 tháng Ba

Năm 1886

 

 

     Trong ṿng một năm, những đúc kết đă cố gắng tông vào để mở cửa linh hồn tôi ra; cũng thế, trong ṿng một năm, tôi chống cự lại chúng. Trong ṿng một năm, cuộc xung đột mỗi ngày, hầu như mỗi lúc, giữa khoa học muốn đặt bản án của nó lên tôi, và chính tôi không chịu, và nhất định bác bỏ. Trong suốt thời gian đó, cuộc chiến đấu thay đổi không ngừng; sự chống trả cũng không ngừng biến thể. Phản ứng lúc đầu thật là khủng khiếp. Nhưng dần dần con thú khoa học càng ngày càng trở nên hung dữ bạo dạn hơn, và sự chống trả chỉ đưa ra được một sự chống cự yếu đuối. V́ nó không thể có cách nào làm ǵ khác hơn được. Mỗi ngày, đúng vậy, những đ̣i hỏi đă củng cố cho ưu thế của khoa học. Mỗi ngày tôi bắt được quả tang bọn ngụy biện, không những đă ngu dốt, mà chúng c̣n lừa bịp nữa, và chúng làm cho tôi nhớ đến câu thơ của La Fontaine:

 

Đồ cắc kè,

đồ khỉ của nhà ảo thuật.

 

     Bốn mươi năm sau, tôi được biết Tổng Giám Mục Mignot, cũng có một cảm nghĩ tương tự, ông đă dùng một phát biểu tích cực hơn để mô tả bọn chúng là những thằng bù nh́n, những con rối.

 

     Nhiều nhận xét tôi đă thấy, có hai khác biệt rất lớn giữa chúng. Một là của Tổng Giám Mục Fréppel. Tôi đă nói về sự nhiệt thành khi tôi nghiên cứu sách của ông về các Tổ Phụ của Giáo hội, sự tuân phục tôi đă dành tất cả cho những dậy dỗ của ông cho tôi, kể cả những luận án của ông về sự xác thực của những sách của Aréopagite. Nhưng, một ngày, tôi đă đọc ghi chú trong đó Tillemont đă tóm lược công tŕnh của cha P. Hurtin và của cha de Launey, chứng tỏ rằng Aréopagite là một kẻ giả mạo vào cuối thế kỷ thứ năm. Tôi đă hiểu rằng Fréppel đă phải biện hộ cho luận án của ông mà sự giả mạo khó có thể vượt thoát được con mắt của ông; nhưng chỉ v́ ông đă phải nói ngược lại những tư tưởng thầm kín trung thực của ông, với chủ đích duy nhất là sao cho không hại đến sự ghiệp tương lai của ông.

 

     Một nhận xét khác cũng không kém đau xót, dù với tính chất khác, cũng đă dẫn tôi đến một giáo sư của phân khoa Nhân Văn ở Rennes, Martin, ông này đă mất năm 1884. Nhà bác học kiệt xuất này cũng là  một người bảo vệ giáo điều rất nhiệt t́nh hăng say; trong những ghi chú nhét đầy trong sách của ông, có những bài viết chứa đựng trong một phần cuốn sách của ông tựa là :’La Vie Future’ (Đời Sống Tương Lai) (Ghi chú số 10 trong ấn bản lần thứ hai), ông đă chứng minh sự xác thực của sách Pentateuque, chống lại điều mà ông gọi là ‘những lời giảng Kinh Thánh mâu thuẫn của người Đức’. Sau khi đọc Reuss, tôi có bằng chứng rơ ràng là Martin không phải là người có ư tưởng đầu tiên như thế về vấn đề ấy mà ông đă đề cập đến với sự chắc chắn. Chắc hẳn, ông không thể nào có một sự lừa bịp, và sự thành thật của ông khó có thể ngờ vực được. Nhưng cuối cùng, th́ ông đă cắt nát một vấn đề mà ông không biết. ông đă đi ra khỏi sự lương thiện quen thuộc của ông trên một thuyết lư quan trọng. Sự sao lăng bất ngờ này của một nhà khoa học mà tôi đă có sự ngưỡng mộ sâu sa, đă khiễn cho tôi rất buồn. Một nỗi buồn rất mănh liệt v́ nó đă gây ra những ưu tư về đức tin, mà nếu không có điều ấy, những ưu tư đó không thể bao giờ có thể xẩy ra được.

 

     Những cuộc tấn công của khoa học càng ngày càng gia tăng với nhịp độ dồn dập tới tấp, và cũng ngày càng kéo dài thêm hơn nữa. Đến nỗi nó trở thành một ám ảnh. C̣n về sự chống đối th́ sao? Chúng cũng tiến tới, nhưng là sự yếu đuối chậm chạp đi. Những chối căi lúc đầu cũng rất hung hăng, song rồi mỗi ngày một thêm cách khoảng lâu hơn. Cuối cùng th́ nó không can thiệp nữa, tôi không làm ǵ được khác hơn là phải để cho thôi thúc của bản án khoa học chiếm ngự tinh thần tôi. Tôi đang ở vào đầu năm 1886. Những đ̣i hỏi của khoa học đă chiếm đoạt linh hồn tôi như những người chiến thắng đoạt được thành tŕ, không hề gặp một sức kháng cự nào.

 

     Đến nay th́ t́nh h́nh đă trở nên phức tạp, rời rạc lung tung. Những việc sùng kính của tôi vẫn chưa mất đi đúng giờ giấc thường lệ của chúng. Mỗi sáng, từ năm rưỡi đến sáu giờ, tôi đi lại trong pḥng làm việc suy ngẫm. Tôi đọc kinh cầu nguyện và đọc sách đạo, viếng thăm Thánh Thể như vẫn thường làm cùng một giờ giấc trước. Nhưng sau cùng, một buổi chiều, khoảng chín giờ tối, khi các chủng sinh đă đi ngủ, tôi lần chuỗi trong khi đi lại dưới hành lang của chủng viện. Những thói quen cũ vẫn đ̣i những món ăn của chúng, và tôi không hề óc ư định bỏ đối chúng. Không hề có một hành vi tự nguyện nào thúc đẩy tôi, tôi đă hoàn hoàn hành động như một cái máy. Tôi không đi đâu hết, ngoại trừ ngày chủ nhật tôi đến thăm nhà cha mẹ tôi cách chủng viện vài bước để ăn cơm tối, và đi xưng tội với cha Gendron, từ năm 1882, là người cùng trong một tu đoàn với tôi. Tôi không muốn kéo một đời sống như máy của một chiếc đồng hồ. Chỉ có tâm trạng của tôi là giữ sự điều ḥa quái đản này thôi.

 

Thánh Kinh dậy người ta không được thờ hai chủ

 

     Theo nghĩa từng chữ, lời phán dậy này không đúng. Tôi đă kinh qua việc này, v́ trong một vài tháng qua, tôi đă suy nghĩ như một người duy lư, và đă hành động như một giáo dân. Tinh thần của tôi suy nghĩ theo luật, mà hành xử lại theo t́nh cảm: tôi đă thờ hai chủ. Điều này phải nhận là một sự hỗn loạn không thể kéo dài lâu măi được, và lư luận bị xúc phạm sớm muộn cũng giành lấy quyền lực của nó. Trong nhiều tháng trời, tinh thần của tôi bị quay trong lănh vực lư trí, những vẫn c̣n để những thói quen của cảm tính cai quản tôi theo ư của nó.Tuy nhiên, một ngày nọ không do dự nó bỏ đi khỏi chỗ ẩn nấp của nó, nó quyết định không chịu làm dấu thánh giá, hay đọc những lời kinh nguyện đă trở thành những tṛ con nít lẩm cẩm, quái đản.

 

     Dẹp bỏ những việc sùng kính, có nghĩa là tống khứ đi những thói quen cũ. Chúng nói lên bằng giọng phẫn nộ như lời thánh Augustinô đă nói trước kia (Confessions 8,11) :’Làm sao người có thể sống không có chúng tao? ‘putasne sine istis poteris’. Tôi bị ngớ ngẩn bởi sự ồn ào này, lư trí tạm ngưng không thi hành đ̣i hỏi của nó … Nhưng chỉ là tạm thời thôi. Cuộc thách đấu, từ nay trong tôi diễn ra trong tâm hồn tôi giữa khoa học, và đức tin lại tái xuất đ̣i chiếm đoạt trí tuệ hay đ̣i theo những thói quen. Và sự việc có một hướng tiến tới, và bắt buộc phải đến một kết thúc. Khoa học nhấn mạnh đến sự quyết tâm của nó, những thói quen từ bỏ dần dần những tṛ ồn ào và cả những nhu cầu của chúng.

 

     Nhưng ‘phát súng ân huệ’ đă được ban cho tôi vào lúc một giờ trưa ngày 18 tháng ba năm 1886. Bằng một cử chỉ hoàn toàn máy móc, tôi mở sách kinh ra, và tôi làm dấu thánh giá để bắt đầu cầu nguyện. Đó là những kinh nguyện đầu tiên của thánh Giuse. Kinh nguyện về cuộc lễ nhắc lại lịch sử của Chúa Hài Đồng với những mâu thuẫn không căi vào đâu được. Bằng một cử động tức giận tôi khép sách kinh lại mà tôi chưa mở hẳn ra, và nói với giọng nhỏ nhẹ :’Những chuyện này là ngụ ngôn, Kinh Thánh đầy những sự giả mạo, giáo điều Công Giáo La Mă đặt cơ sở trên sự hư không, tôi chẳng thèm bao giờ đọc kinh nữa!’

 

     Rồi, để củng cố những lời nói không phải là buột miệng phát ra v́ sự vô ư, nhưng chúng đă được phát biểu bằng sự quyết định dứt khoát không lay chuyển được, tôi nói đi nói lại bằng một giọng giận dữ:

 

‘Giáo điều Công Giáo La Mă đặt cơ sở trên sự hư không;

hết rồi, tôi không thèm đọc kinh nguyện nữa.’

 

     Một vài giờ sau, tôi lại trả lời bằng một nụ cười ranh mănh như thói quen đă triệu gọi tôi ban mai. Nhưng buổi chiều tôi đă tung ra một cuộc phản công cứng rắn. Tôi đi lại trong hành lang của chủng viện vắng vẻ và đầy bóng tối. Bất ngờ tôi thấy tôi cho tay vào túi lấy ra lúc nào không hay sâu chuỗi bằng một cử chỉ rất vô thức! Sâu chuỗi! Từ năm mười ba tuổi tôi không bao giờ bỏ một ngày để lần hết chuỗi. Từ dạo mười ba tuổi đó, nó là người bạn không bao giờ xa rời tôi. Làm thế nào để đuổi nó đi đây? Phần khác, kinh ‘Ave Maria’ trên miệng tôi đă lạc điệu. Tôi cảm thấy hốt hoảng. Nhưng rồi thói quen của tôi lợi dụng sự bối rối của tôi, đă nắm lấy cần điều khiển, và bắt tôi đọc kinh Ave Maria. Nhưng đương nhiên, sự việc không kéo dài. Sau độ hơn một chục kinh Ave Maria, tôi ngừng lại khi đă hết hơi. Ngay lúc đó tôi tự trách ḿnh đă hèn nhát vâng lời sự tàn bạo của thói quen. Sự xấu hổ đă làm cho tôi được thoải mái. Chiều hôm sau, tôi không c̣n một chút hứng thú nào để đọc sâu chuỗi nữa.

 

     Cũng không phải là ngày 18 tháng Ba năm 1886, tôi mới chấm dứt không tin những giáo điều nữa, v́ từ nhiều tháng qua, đức tin không c̣n sống trong tinh thần tôi nữa. Chỉ khác là ngày nói trên (18-3-1886) tôi mới chính thức khai tử nó v́ sự tan rữa hôi thối của nó bắt buộc tôi phải tống khứ cái xác chết của nó đi. Với sự việc như thế, ngày 18 tháng Ba là ngày trọng đại nhất trong đời tôi.

 

     Gần một nửa thế kỷ đă qua đi kể từ khi sự việc quan trọng nói trên mà tôi tuyên cáo ngày hôm nay 6 tháng 10 năm 1931. Tôi chỉ cần thấy có vài xác nhận để nói thêm:

 

     1./ Tôi đă vâng lời sự cao ngạo điên cuồng chỉ v́ lúc 25 tuổi tôi đă không đủ sức mạnh để khám phá ra những mâu thẫn, những giả mạo trong Kinh Thánh mà tôi dư sức làm. Thế mà, không một lúc nào, chẳng một dịp nào tôi có ư đồ đó. Trạng huống của tôi trước Kinh Thánh y hệt một thanh niên đứng trước những định lư h́nh học nó phải chứng minh, nghĩa là sự hiểu biết của nó tiếp nối từ liên hệ này sang liên hệ khác để nó t́m ra được đáp số. Tự nó, nó không đủ sức để t́m ra được những liên hệ đó. Người ta đă chứng minh cho nó qua nhiều thế hệ, từ Thalès đến Euclide đă có sự cộng tác mật thiết với nhau. Người ta chỉ muốn nó ḥa ḿnh vào sự cộng tác đó. Điều này không vượt quá sự thông minh của nó, nghĩa là khi nó phải chứng minh chu vi của một h́nh tṛn hay diện tích của một h́nh tam giác vuông góc. Tôi cũng thế, tôi không có một công khám phá nào về Kinh Thánh. Tôi chỉ giản dị đồng hoá ḿnh vào những kết quả của Reuss và những người đi trước ông ta thôi. Trước khi chấp nhận chúng, tôi luôn luôn đối diện với những cáo buộc của bọn giảng giải Kinh Thánh. Tôi đă nhận ra bọn biện hộ cho giáo hội hoặc là xuyên tạc bẻ cong những lời tố cáo, hoặc là dùng những cách chạy trốn khốn nạn. Kết thúc, mà chính tôi cũng không biết, đă dần dần tăng lên, diễn ra trong đầu óc tôi, để đến một ngày tôi bị chóa mắt trước bằng chứng, nghĩa là sự mạc khải công giáo chỉ có cơ sở rời rạc, thiếu mạch lạc và những sự man trá.

 

2./ Người ta có thể đánh lại trong một thời gian để chống cự lại những bằng chứng hiển nhiên; những chẳng bao lâu, tất cả những dối trá đều tuyệt vọng: cuối cùng phải đầu hàng. Bất cứ ai trải qua kinh nghiệm như của tôi cũng sẽ đến cùng một kết quả giống như của tôi. Nếu những tuyển sinh chuẩn bị làm linh mục được nhận vào chủng viện, trước khi chịu cam kết để được giảng dậy nghiêm chỉnh, nếu không th́ chỉ vài tuần lễ sau họ vứt bỏ áo tu để trở lại đời thường. Nếu những tín đồ biết đến những mảnh giẻ rách tơi tả của sự thật, họ sẽ không c̣n chịu ở dưới sự giám hộ của giáo hội công giáo La Mă bao lâu nữa. Những tu sĩ, những tín đồ chỉ có trong tay những loại sách chủ về sự giả dối, về bánh vẽ. Nếu những tín đồ cũng chỉ có những miếng rẻ rách của sự thật như thế, họ cũng không ở dưới trướng của giáo hội La Mă nữa. Chính tôi đă lầm. Ngay cả trong những giây phút cuối cùng này, mà những nhà văn công giáo thường luôn luôn bị ŕnh rập, soi mói bởi con mắt cú vọ của giáo hội, nếu trong số đó có một vài người thuộc bọn ngụy biện, bất chợt thấy bùng lên sự lương thiện, chúng chỉ dám tách rời bỏ đi một phần nhỏ nào trong số những lời nói láo của chúng thôi. Nhưng tham vọng của chúng thật quá thấp hèn. Chúng không dám nói cuốn sách Deutéronome, hay sách Daniel và những lời thánh thư thứ hai của thánh Phê-rô là những tác phẩm giả mạo. Chúng đành chịu vén lên một góc nhỏ của tấm màn sự thật thôi. Bao nhiêu đó thôi với chúng là đă nhiều quá lắm rồi. Nhiều tố cáo vang dội, mà tố cáo này chồng chất lên tố cáo kia, là ‘Sách Giáo Khoa Kinh Thánh’ được dậy trong các chủng viện toàn nước Pháp, đă chỉ cho thế giới thấy là những người công giáo phải sống ch́m đắm trong ḷng của bóng tối.

 

Trong hang động của triết gia Platon,

con người c̣n được thấy ánh sáng phản chiếu lại,

cuối cùng họ cũng c̣n nh́n ra được.

Trong giáo hội công giáo La Mă,

con người bắt buộc phải từ bỏ hết mọi thứ ánh sáng!

 

Tất cả mọi thứ ánh sáng? Tất cả mọi thứ ánh sáng! Vào thời trung cổ, ở ven biển, khi những nạn nhân bị đắm tầu thấy những ngọn hải đăng được ma mănh sắp đặt, lôi kéo những con tầu chạy vào và đụng đá ngầm. Chính bằng cách ấy giáo hội công giáo chiếm đoạt những linh hồn và đặt chúng dưới ách của đạo. Nhưng những ánh đèn mà giáo hội xử dụng cho công tŕnh truyền bá đều được nuôi dưỡng bằng sự dối trá.

 

Đó mới là sự đắm tầu rất lớn

(của giáo hội công giáo La Mă)

 

 

Chương IV

Sau sự giải thoát

 

 

     Những hành khách sau những cơn sóng dập cḥng chành con tầu làm cho họ khốn khổ mệt nhọc. Tôi cũng ở t́nh trạng ấy sáng ngày 19 tháng ba năm 1886. Những cuộc tranh đấu tôi phải chịu đựng trong hơn hai mươi tháng trời qua đă làm tôi buồn vô cùng. Tôi như một người được tràn ngập sự b́nh yên và an toàn sau ngày tôi đặt chân lên tảng đá Sự Thật, và tôi được hoàn toàn giải thoát khỏi sự ngả nghiêng vùi dập của đức tin.

 

     Đó là sự giải thoát măi măi! Người ta đă kể lại một số linh mục trẻ đă lấy lại được đức tin sau khi đă tống khứ nó ra. Đức tin của bọn bất cẩn này tuy bị đuổi ra, những vẫn c̣n sống. C̣n đức tin của tôi, trái lại, đă chết hẳn; v́ khi người ta chết là chết luôn. Kể từ ngày 18 tháng ba năm 1886, trong trường hợp của riêng tôi, tôi không c̣n bao giờ đọc một chút kinh kệ nào nữa.

 

     Với sự b́nh yên và an toàn không bao giờ rời bỏ tôi đă kéo theo một t́nh cảm mà tôi xin nói ra đây. Giáo điều công giáo, kết quả của sự tưởng tượng của con người, đối với tôi cũng giống như giáo điều Phật giáo. Nhưng những giáo điều công giáo bị khép chặt, bám cứng vào trong nghi lễ; và là thứ nghi lễ ôm ấp tôi ngay từ lúc c̣n bé, và nuôi dưỡng tuổi thanh niên của tôi. Trong những tháng dài lê thê của cuộc khủng hoảng của tôi, nghi thức này đối với tôi là những sự tạm bợ, con nít và kỳ quặc. Khi ấy tôi c̣n ở trong Giáo hội. Cái ngày mà từ trong nội tâm của tôi, tôi đă vùng thoát ra được những điều ấy, tâm trạng của tôi đă thay đổi hẳn. Ở mặt trái của những kính mầu, nh́n từ bên ngoài, chúng cho thấy những h́nh thể mầu sắc vô h́nh bất động; nh́n từ bên trong ra, chúng phản chiếu ánh sáng rực rỡ, những buổi lễ khi tôi nh́n ra ngoài, tôi đă thấy những kỷ niệm của tuổi thơ tràn ngập thi ca. Một ngày tôi làm lễ cho các trẻ em của một viện mồ côi trong thành phố, khi chúng hát thánh ca, lúc tôi đang đứng trên bàn thờ, cũng một bài thánh ca, tôi cũng từng hát vào những năm đầu đời của tôi. Tôi cảm động đến rơi lệ, và tôi phải ngưng làm lễ một lúc. Tôi nghe một tiếng nói bên trong đượm vẻ đau đớn, và giận dữ: ‘Tại sao tất cả những thứ này không phải là sự thật?’ Tôi liền hiểu với sự ngoan cố, giáo hội để bàn tay lên trẻ em. Nghĩa là như một cô giáo của trẻ em, cô giáo để một dấu ấn măi măi trên cuộc đời của chúng. C̣n với người lớn, giáo hội là một mụ phù thủy. Hơn một lần, tôi có ư tưởng so sánh với Adam và Evà, khi họ bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, v́ đă biết được sự lành và sự dữ: huyền thoại địa đàng hầu như cũng thể hiện trong tôi. Sự luyến tiếc, khỏi phải nói, cũng đă xuất hiện rời rạc với tôi. V́ biết rơ chúng chỉ là sản phẩm của tâm lư học, nên tôi không bao giờ bị cám dỗ để gán cho chúng bất cứ một giá trị biện bác nào. Tôi xin thêm là chúng đă bị chôn vùi măi măi trong cơn sóng gió của năm 1892.

 

     Sự b́nh yên và an toàn, sự luyến tiếc những ảo tưởng bị mất, là thuộc phần t́nh cảm. Trong những lănh vực khác, kể từ ngày 18 tháng ba năm 1886, tôi có hai việc cần phải làm: Thứ nhất là chương tŕnh sinh sống của tôi; thứ hai là chương tŕnh học của tôi.

 

     Trước hết là chương tŕnh sinh sống. Tôi phải làm ǵ? Tôi vẫn c̣n ở trong giáo hội không? Tôi có phải bỏ nó không?

 

     Nếu tôi đặt vấn đề này với giáo quyền, bọn chúng sẽ chỉ có một cách là đuổi tôi ra khỏi t́nh trạng tiếp tục mục vụ mà dưới mắt của bọn chúng là một sự xúc phạm ghê gớm. Cha mẹ tôi, và cha Gendron, nếu họ biết tâm trạng của tôi, họ sẽ chết v́ buồn. V́ vậy, tôi không thể thổ lộ với bất cứ ai. Tôi cũng bị cấm không được đi t́m một sự khuyên nhủ nào: tôi phải đơn phương quyết định, và điều đó sẽ suốt đời không rời bỏ tôi.

 

     Nhưng sự quyết định của tôi không cần một sự cứu xét thêm, nó không c̣n có thời gian để kéo dài hơn, và chờ đợi lâu nữa.    

 

     Một công chức, giả dụ, phạm lỗi sẽ bị pháp luật theo đuổi; ông ta có thể phải chịu biện pháp kỷ luật của chính quyền như bị sa thải, gây ra đổ vỡ cho đời sống của ông, và mang đến cho gia đ́nh ông sự nhục nhă, buồn phiền, và ngay cả sự tan nát. Đấy, viễn tượng kinh hoàng khiếp đảm đó sẽ là sự cầm cố giam giữ khiến cho người tu sĩ phải ở trong kỷ luật, nếu nó dám có ư định liều lĩnh bỏ đi.

 

     Trong đời sống tu sĩ, phạm tội hầu hết là vi phạm luật độc thân. Khi việc đó xẩy ra, nó ném giáo dân vào sự buồn bực, và sững sờ! Nhưng người ta chẳng mấy khi thấy được. Không phải là những sự lừa dối phạm luật không xẩy ra thường xuyên.

 

Nhưng chỉ v́ chúng thường xẩy ra trong bóng tối.

 

     Những tín đồ được yêu cầu phải nhắm mắt, và người ta không bắt họ mở mắt ra; giáo quyền cũng hết sức làm ngơ, không muốn bị ép buộc phải can thiệp vào. Người ta được buông thả với luật độc thân; nhưng vẫn được ở trong hàng linh mục; tai tiếng được tránh khỏi: tất cả đều có phản ứng riêng, tùy theo từng người.

 

     Những tư tưởng này đă giao động tinh thần tôi, chúng ám ảnh tôi, và đề ra cho tôi những kết luận quan trọng. Bỏ áo tu, tôi đă mặc mười năm (tôi vào chủng viện năm 1876) mà tôi đă có những lời thề long trọng, để trở về với đời sống thường dân, có nghĩa là bẻ gẫy đời tôi, và đâm một nhát dao vào cha mẹ tôi, và vào cha nuôi của tôi; cũng cùng một lúc tố cáo tôi trước công chúng là tôi đă phạm một trọng tội.

 

     Tôi đă phạm tội ǵ? Ở đây  sự kiện đă nói lên một sự cay đắng mănh liệt. Tôi nói lớn (trang 41) giáo hội công giáo bằng giáo luật tàn bạo của nó, bởi sự kết án độc địa đă trừng phạt tàn nhẫn những toan tính rất khiêm nhường chân thật; ngăn chặn sự thật đi vào chủng viện, và nhồi sọ những người dự bị làm linh mục bằng sự giả dối, bằng những ngụ ngôn. Những tu sĩ tương lai của giáo hội được chịu chức trong một t́nh trạng đầy ảo tưởng. Rồi bị bận rộn bởi việc đạo, không c̣n có thời giờ hay sự ước muốn để học thêm; họ thường phải ôm cứng lấy những món hàng tạp nham rẻ tiền mà người ta đă cung cấp cho họ ở chủng viện.

 

Họ bị lừa bịp. Tội của tôi là cái giá làm việc

tận lực để đâm thủng sự gian dối, và trả lại công lư

cho những sự lừa dối mà người ta đă lừa bịp tôi.

 

     Một cái tội không thể nào được tha thứ dưới con mắt của giáo hội công giáo, nếu nó biết nó không bỏ lỡ dịp để trừng phạt tôi. Khi cởi áo tu, và rời hàng ngũ linh mục, tôi đă làm tṛ chơi cho nó, nó sẽ trừng phạt tôi, nhưng v́ nó chưa biết rơ t́nh trạng linh hồn tôi, nên nó chưa thể phạt tôi được thôi.

 

     Lúc bột phát cơn tức giận, tôi kêu lên: ‘V́ tôi đă khám phá ra sự thật gài bẫy các tín đồ, nhất là những người dự bị đi tu mà tôi bị đọa đầy, những người thân thuộc của tôi bị khốn khổ vô cùng sao? Không, không thể được!’

 

     Những sự thỏa thuận khi bị kề dao vào cổ không cho phép bọn cướp có một uy quyền ǵ để hợp pháp những đ̣i hỏi của chúng. Chúng không áp đặt được bất cứ một bổn phận nào với nạn nhân dù họ đă buộc phải kư kết với chúng. Chúng không có giá trị ǵ. Giáo hội khi đă triệt để dối tôi sự thật, có hệ thống bài bản, và đă nuôi dưỡng tôi bằng những dối trá, cũng đă hành xử y hệt như quân cướp tàn bạo với nạn nhân khốn khổ của chúng. Tuy cách hành xử khác nhau, nhưng bản chất gian manh bất lương của chúng y hệt nhau. Giáo hội không có quyền ǵ với tôi cả. Tôi không phải ưu tư về một bản án nào của giáo hội, nếu nó biết bản án đó chỉ là một sự đàng điếm riễu cợt vô cùng với công lư. Chính tôi mới có quyền áp đặt bản án lên giáo hội. Và tôi sẽ làm. Tôi vẫn tiếp tục hành lễ mà giáo hội đă ràng buộc tôi. Giáo hội đành phải chịu rủi ro v́ những khốn khổ nó đă gây ra cho tôi. Hơn thế nữa, những rủi ro cũng vẫn sẽ xẩy ra cho nó, nếu nó không mau lẹ từ bỏ những sự gian dối, và đem lại cho giới tu sĩ sự huấn luyện lương thiện. Nhưng nó biết chắc, là các chủng viện sẽ trống rỗng ngay, và những người muốn đi tu sẽ trở về đời sống b́nh thường sau vài tuần lễ rút kinh nghiệm khi biết sự thật đă không đến với họ. Với chế độ khắc nghiệt trong các chủng viện, sao có thể giúp các linh mục được soi sáng hơn bằng cách cho họ thời gian và sở thích để học hành. C̣n có ǵ là ư nghĩa nữa khi những sự vô lư trống rỗng được thực hành trong chủng viện bênh cạnh các việc, lẽ ra, phải là tôn trọng sự thật? Giáo hội đă thu nhận được quá nhiều lợi ích, đến nỗi hầu như chẳng bao giờ nó phục vụ được ǵ.

 

     Nếu quyết định ở lại giáo hội, tôi chẳng có ǵ phải thay đổi thêm vào đời sống của tôi. Chẳng có ǵ thay đổi hết, ngoài hai giờ để học thêm mà trước kia bị mất vào sự cầu nguyện. Trong mười năm trời tôi đă say mê làm việc, nhưng kể từ ngày 18 tháng ba năm 1886, tôi lại có sự cuồng nhiệt. Tôi đă thay đổi sự hiểu biết. Tôi hăm hở mang ngọn đuốc sự thật vào những vấn đề đạo, và triết học. Chỉ trong ṿng vài tháng, tôi đă ngấu nghiến những sách của Renan, Albert Réville, Maurice Vernes, Kuenen, Michel Nicolas, Colani, Spencer, Taine (Intelligence) Fouillée, Guyau, Ribot, tôi cũng không bỏ sót Voltaire nữa. Nhưng sau khi sự sôi động lắng xuống, một sự tự động phân loại đă đến. Những tư tưởng của tôi đă tụ họp thành nhóm theo thứ tự cường độ nặng nhẹ của chúng, có nghĩa là tôi muốn nói đến sự quan trọng của chúng đối với tôi như Spencer, Taine, Ribot và Fouillée đă trở thành thầy triết học của tôi. Nhưng, tôi không cảm thấy cần biết thêm triết học nữa, và những bài dài ḍng về triết tôi viết sau đó không đáng kể nữa. Trong lịch sử đạo, hai cuốn sách của Réveille ‘Les religions des peoples non-civilisés’ (Lịch sử tôn giáo của những dân tộc không văn minh) đă gây cho tôi một ấn tượng sâu đậm. Đối với chúng, tôi rất thoải mái v́ đă không đặt giá trị quá đáng. Rồi những sự học của tôi lại chuyển sang các tôn giáo Ai-cập, Tầu, Ba Tư, Ấn Độ của sách Réveille cũng như của các tác giả khác, lại đă khiến cho tôi dội lại; trong ṿng vài năm tôi đă từ bỏ không làm đầy thêm trí năo tôi bằng những sự ḍ dẫm mù quáng nổi lên thành mớ kiến thức hỗn tạp, không có cách kiểm chứng. Tôi tiếp tục say mê đọc sách L’histoire du peuple Israel (Lịch sử dân tộc Do Thái) của Renan, mới xuất bản năm 1887. Nhưng mặt khác, tôi cũng bận nghiên cứu đạo Môi-se trong chiều hướng nhờ đó để soi sang được những giáo điều Thiên Chúa Giáo.

 

     Lịch sử giáo điều Thiên Chúa Giáo từ năm 1886 là đối tượng nổi bật của tôi để tôi học, trong khi chờ đợi nó trở thành mục tiêu độc nhất. Dưới mắt những tín đồ, tất cả những điều về đức tin là họ nhận được từ Chúa, qua các tông đồ là những người cũng đă nhận được từ Chúa (trước họ); và ngay từ đầu các tín đồ đă chấp nhận như vậy. Nếu thật đúng thế, những giáo điều của đạo Thiên Chúa xuống từ Trời; đương nhiên Chúa phải cho dấu ấn về sự toàn vẹn của công tŕnh của Chúa ngay từ khi khởi sự. Nhưng đối với các tín hữu, nó đă không có trong lịch sử các giáo điều, ít ra, chẳng qua, cũng chỉ là sự lạm dụng ngôn ngữ, người ta đă bôi vẽ trở thành những kết quả của môi miếng thôi.

 

     Nhưng những sản phẩm của con người, chẳng bao giờ hoàn toàn được, kể ngay từ nguồn gốc của chúng. Chúng dần dần lớn lên, chúng bị đặt dưới định luật tiến hóa. Hoặc là, như tôi, có bằng chứng để được biết giáo điều công giáo chẳng có ǵ là của Chúa Trời hết, mà hoàn toàn chỉ là do con người đặt ra. Như thế, đương nhiên, chúng không thể thoát ra khỏi định luật chung của sự phát triển. Như vậy chúng tiến hoá bằng cách nào? Bởi sự lần ṃ. Rồi qua những biến thể để trở thành một ṭa nhà lớn, nó có được như ngày nay. Tôi đă lănh nhận làm công việc khám phá sự bí mật này.  Nhưng tuổi hai mưới sáu của tôi mới đi qua được ba tháng, tôi sẽ dành được hết thời giờ tôi muốn bỏ ra. Tôi khởi sự cuộc khám phá. Trong lúc hăng say ban đầu, tôi đă đọc  sách ‘Histoire du dogme de la divinité de Jésus Christ’ (Lịch sử giáo điều về sự thần thánh của Giê-su, Đấng Cứu Thế) của Réveille, và những sách ‘Premières transformations du Christanisme (Những biến dạng đầu tiên của Thiên Chúa Giáo) của Coquerel.

 

     Những sách này đă đặt sẵn những nêu mốc trên đường đi của tôi, tôi không phải đơn độc lao ḿnh vào một cuộc phiêu lưu.

 

     Việc học đầu tiên của tôi rất mất công là về Logos (Ngôi Lời). Tôi đọc trong Philon là sách đă chỉ cho tôi Renan, havet, Vacherot, và nhất là Jean Réveille về ‘La doctrine du Logos’ (Học thuyết về Ngôi lời). Theo kết luận của tôi th́ học thuyết Ngôi Lời bắt nguồn từ Philon mà theo lời dẫn của Havet, Philon chính là tổ phụ đầu tiên của Giáo Hội. ‘Logos’ của Philon qua Ngôi lời của thánh Justin, của Clément Alxandre rồi của Origène. Ở đây, những hướng dẫn của tôi là André (Thánh Justin) và Denis ‘De la philosophie d’Origène’ (Về triết học của Origène). Tôi xác nhận rằng theo các bậc học sĩ này, Ngôi Lời thấp hơn Chúa Cha và chỉ là một thủ túc bề dưới để phục dịch thôi.

 

     Việc học tiếp của tôi được kích động khi đọc sách ‘Defensio cleri gallicani’ trong đó Bossuet đă thách đố những tham vọng của thể chế giáo hoàng, và ném những tham vọng của giáo hoàng vào hư không. Trong những tác phẩm của ông, ông thường bị chê là đă có những bài giảng Kinh Thánh phóng túng. Nhưng trong sách ‘Defensio’ của ông, thông tin của ông thật tuyệt vời, không thể nào chê bai được. Trong cuộc điều tra rộng lớn đó, nghĩa là trong tất cả những giảng dậy của các công đồng, hầu như giáo đoàn lúc nào cũng có sự phán xét về đức tin của giáo hoàng. Để được soi sáng thêm, tôi lại dấn ḿnh vào sự nghiên cứu công đồng. Tôi đọc một phần trong những cuốn đầu của bộ sách Labbé theo với sự hướng dẫn của sách Tillemont, cho tới Chalcédoine và Héléfé. Sau đó khá lâu, tôi làm quen với những bài tham luận về hàng giáo phẩm trong sách của Funk về sự triệu tập, sự lănh đạo và những xác quyết của các công đồng; nhưng những thứ đó cũng chẳng mang lại cho tôi được thêm sự học hỏi cần thiết nào. Học về những nguồn gốc cũng chỉ mang lại cho tôi kết quả tương tự như thế thôi.

 

     Cũng nhờ Bossuet qua sách ‘De la communion sous une espèce’ (Bàn về một loại thánh thể) đă đưa tôi đến sách Ordo công giáo và sự phê b́nh của Mabillon về cuốn sách đó. Tôi bắt đầu hiểu những nghi lễ thời trung cổ, là những loại nghi lễ đă hoá thạch của ngành địa chất học; Những nghi lễ đă hiện ra trước mặt tôi của những ư niệm lỗi thời đă mất từ lâu không c̣n nữa.Tôi tin rằng những giáo điều, trừ giáo điều về thể chế giáo hoàng, là những thứ đă hoàn tất sự tiến hoá trước thế kỷ thứ sáu; sách Ordo cho tôi thấy sự hiện hữu thật chỉ bắt đầu đi vào giáo hội công giáo từ thế kỷ thứ chín. Những ghi nhận của Menard về sách kinh của thánh Grégoire (mà tôi đọc tiếp) đă chứng tỏ sự quy định phép xưng tội, cũng thế, chưa hề có vào dạo đó. Như thế là một lănh vực mới những lịch sử các giáo điều đă được phát hiện ra. Nó c̣n nhiều kho tàng khác: tôi hứa sẽ khám phá trọn vẹn hơn nữa.

 

     Nhưng những tổ phụ của những thế kỷ đầu tiên, theo tôi cảm thấy, đang đ̣i được sự ưu tiên. Từ năm 1887, tôi đă học về thánh Cyprien. Tác giả Rigault, mà tôi có bộ sách trong tay đă chú ư vào những điểm tốt; và những chỉ dẫn của ông đă không hề rơi vào lỗ tai điếc của tôi. Tôi thấy rơ ràng là thánh Cyprien chỉ coi giám mục La Mă như một đồng liêu, và ông chẳng hề có một ư niệm thể chế giáo hoàng là ǵ cả. Cũng trong thời gian đó, tôi đọc Bossuet ‘Mémoires sur la bibliothèque ecclésiastique de Dupin’ (Hồi kư về văn khố của tu sĩ Dupin) phê phán Rigault là một kẻ ‘kém nhất trong bọn thần học của con người’. Để phản bác lại, tôi viết trong bài mẫu của tôi (ấn bản Besancon 7, 12) trong một ghi chú bằng viết chỉ rằng: Rigault là một nhà phê b́nh hàng đầu; những ghi chú của ông ta về thánh Cyprien là sự tuyệt vời mà cặn bă của bọn thần học không có chỗ để bám vào được’.

 

    Từ thánh Cyprien tôi chuyển sang những tổ phụ ngụy biện khi tôi đọc sách của Leipzig; rồi sang thánh Justin mà tôi đọc bản văn của Otto; rồi lại sang một số học sĩ thần học của thế kỷ thứ tư. Tôi chỉ trở  lại thần học trung cổ vào năm 1882. Trong nhiều tháng những học sĩ của thế kỷ thứ chin và thứ mười hai là những người bạn đường của tôi. Rất nhiều vị trong số đă chỉ cho tôi chỉ có bốn phép bí tích thôi. Pierre Lombard giải thích cho tôi rằng tội tổ tông là sự dâm dục, và Thánh Nữ Đồng Trinh đă bị vấy bẩn bởi dấu vết đó cho đến lúc sau khi bà làm mẹ. Thánh Bernard đă gởi cho các thầy tu ở Lyon một bức thư trong đó ông tuyên bố

 

tin vào sự Thụ Thai Vô Nhiễm

là một tṛ hề của sự mê tín dị đoan.

 

     Tháng tám năm 1892, cuốn sách của thánh Augustin đặt trên bàn của tôi. Hai năm trước đây tôi đă đặt câu hỏi về sự đền tội. Lần này tôi muốn hỏi ông nghĩ ǵ về phép thánh thể. Tôi đặt vấn đề trước tiên những bài giảng về vấn đề thánh thể, rồi những luận án của thánh Jean. Và những bài kém quan trọng hơn cũng được tôi dùng làm tài liệu tham khảo. Tất cả mọi bài viết, bài giảng đều quy cho thánh thể chỉ là một sự tượng trưng. Chẳng ai phải thắc mắc về sự hiện hữu. Chúng ta đang ở ngày chủ nhật 21 tháng tám. Về vấn đề kinh kệ, tôi đă làm việc để hoàn chỉnh lại cuộc điều tra của tôi. Năm giờ rưỡi bỗng xẩy đến một việc khiến tôi đánh rơi bút. Tôi sẽ kể chuyện ấy sau. Nhưng trước hết phải bàn đến tiến tŕnh triết lư đến nay tôi mới có dịp nói. Như tôi đă nói (trang 18) theo bài thuyết tŕnh của cha Dechamps đă hướng dẫn tôi năm 1883, là coi Chúa, như kẻ tạo dựng, như người cha có bổn phận phải ân cần chăm sóc những đứa con của Chúa. Một vài tuần lễ sau sự tự do, tôi trở lại ư niệm này mà tôi đă bỏ từ năm 1884. Tôi trở lại cách hồn nhiên và tự động ‘Vâng, tôi nói, một Thiên Chúa tạo dựng phải thiết yếu là một người cha mà người con chịu ơn sinh thành’. Với danh nghĩa này, Chúa không thể lănh đạm với thân phận con người. Chúa phải lănh nhận bảo đảm cho con Chúa về hai mặt vật chất và tinh thần. Tắt một lời, sự mạc khải đúng là sự bổ túc nối dài thêm ra sự tạo dựng. hai sự kiện này phải ḥa hợp với nhau khăng khít, đối với nhau như kết quả của một nguyên lư. Không thể nào tách rời chúng ra được. V́ nếu thiếu mất một cái, th́ nó kéo ngay cái kia vào sự hư không. Hay đúng ra sự mạc khải của Thiên Chúa giáo chỉ là một ảo tưởng; nó không hề có. Điều đó có nghĩa là không có một sự mạc khải nào hết, cùng lắm chỉ có nghĩa là một chuyện gây ra sự ṭ ṃ. Bản chất của con người đă ưa buông thả cho sự hoang tưởng quá đáng. Chẳng bao giờ có một ánh sáng Thiên thượng soi chân nó đi hay dẫn đường cho nó. Thiên Chúa tạo dựng phải bao bọc con cái bằng những săn sóc. Chúa đă lỗi bổn phận cần thiết nhất. Và, v́ Chúa đă lỗi bổn phận cần thiết nhất, nên lư trí của con người bắt buộc phải từ chối cái tiền đề v́ một kết thúc không có. Con người không phải là con Chúa. Chúa không phải là cha con người; Chúa không sinh ra họ. Và giáo điều Chúa tạo dựng chỉ là một sự hoang tưởng’. Sau đó, tôi học về sự dữ bằng tất cả những tổng quát của nó, và nhờ cái học này tôi có được một kết luận được củng cố rất mạnh. Kể từ những tuần lễ khi tôi được tự do thoát ra khỏi giáo điều, sự tự do đă tràn ngập tinh thần tôi.

 

Từ mùa Xuân năm 1886,tôi không

c̣n tin ở Thiên Chúa Tạo Dựng nữa, tôi cũng không

c̣n tin ở Thiên Chúa của Thiên Chúa Giáo nữa!

 

 

Kỳ I, ĐDTB. Ngày 15/8/06

NDVN, ngày 24/12/06



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend