NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ”


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

Tin Thế Giới & Việt Nam

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Tony Blair picture 1811810

Lê Hồng Phong

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

Thị trường chứng khoán lại sụt giảm trước viễn cảnh u ám của kinh tế Hoa Kỳ

 

 

 

Hai ngày sau cuộc họp thượng đỉnh G20 ở Washington, các thị trường chứng khoán thế giới lại sụt giảm, nhất là sau khi ngân hàng Mỹ Citigroup loan báo sẽ cắt giảm 50 ngàn việc làm trong những tháng tới

 

    Thông tin này đă khiến thị trường Wall Street hôm qua sụt mất 2,63% điểm. Tại châu Âu, các thị trường tiếp tục xu hướng sụt giảm . Tính đến trưa hôm nay, Paris bị mất 1,57% điểm, Luân Đôn 1,50% và Francfort 1,39%.

 

    Tại châu Á, sau khi Nhật Bản hôm qua xác nhận là kinh tế đă đi vào suy thoái, thị trường Tokyo hôm nay sụt 2,28% vào giờ đóng cửa. Hồng Kông cũng bị mắt 4,54% điểm.

 

    Theo một nhà phân tích tài chính ở Nhật Bản, mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên các thị trường. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Washington vừa qua, các nước công nghiệp phát triển và các nước đang trổi dậy đă cam kết sẽ phối hợp các chính sách chấn hưng kinh tế và giám sát tốt hơn nền tài chính toàn cầu. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh này lại không đề ra những kế hoạch cụ thể nào, cũng như không lập ra một cơ chế để kiểm soát hoạt động của các thị trường

 

Thanh Phương, RFI, ngày 18/11/08

 

 

  

Kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc càng thêm u ám

 

T́nh h́nh kinh tế ngày càng trở nên tồi tệ tại châu Á. Thị trường chứng khoán Tokyo lại tụt giảm. Hai lĩnh vực ngân hàng và xe hơi của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn. C̣n tại Hàn Quốc, chưa bao giờ số doanh nghiệp bị phá sản lại đạt mức cao như vậy từ 3 năm qua

 

Hôm nay thị trường chứng khoán Tokyo đă đóng cửa với chỉ số Nikkei bị mất đi gần 60 điểm, nghĩa là tụt giảm 0,66%. Các nhà đầu tư tỏ ra dè dặt trước những khó khăn tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp xe hơi.

 

Như vậy là ngân hàng số một của Nhật Bản, Mitsubishi UFJ Financial Group, đă công bố những kết quả trong sáu tháng đầu năm nay c̣n tệ hại hơn là dự trù, mặc dù ngân hàng này đă quyết định tăng số vốn là 990 tỷ yen (tức 8 tỷ eurô). C̣n tập đoàn tài chính số 3 của Nhật, Sumitomo Mitsui financial Group, th́ tụt giảm gần 8% cho dù tập đoàn này cũng có ư định tăng nguồn vốn. Do vậy mà các nhà đầu tư càng tỏ ra bi quan cho cả lĩnh vực ngân hàng.

 

Về phần công nghiệp xe hơi, Toyota, tập đoàn xe hơi số một tại Nhật Bản, thông báo hôm nay là tất cả các nhà máy đặt tại Hoa Kỳ sẽ ngưng sản xuất xe hơi trong hai ngày 22 và 23 tháng 12. Lư do là v́ mức cầu đă sụt giảm trên thị trường Hoa Kỳ. Đầu tháng này Toyota đă cho biết là tính đến tháng mười số xe bán ra tại Mỹ đă giảm đi gần 26% trong một năm.

 

C̣n mức lời của công ty Nissan sẽ là con số không trong quư hai của năm nay v́ mức cầu giảm và v́ đồng yen c̣n quá mạnh. Ông Carlos Ghosn, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Renault và Nissan, đă tuyên bố với nhật báo Mỹ Wall Street Journal rằng năm 2009 sẽ là một trong những năm khó khăn nhất của tập đoàn này.

 

Trong lúc đó, tại Hàn Quốc, có 321 doanh nghiệp bị phá sản trong tháng mười, con số cao nhất từ tháng ba năm 2005. Trong tháng trước đă có 203 công ty bị phá sản tại Hàn Quốc.

 

Thanh Thủy, RFI, 19/11/08

 

 

 

 

 

 

 

Đoàn người xắp hàng Rồng-Rắn chiêm bái cha già Hồ Chí Minh

 

 CHA GIÀ DÂN TỘC HỒ CHÍ MINH & VIỆT MINH CỘNG SẢN ĐẢNG 

 

 

 

* HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

* Sự kiện sôi động trước chiến dịch Điện Biên Phủ: Chia ruộng đất cho nông dân

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU

*  TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II)

*  TIỂU SỬ QUƯ NGÀI TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

*  THƯ NGỎ: KÍNH GỬI NGÀI THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG

*  Kiên Định Tư Tưởng Của Cách Mạng Tháng Mười Nga Vĩ Đại

* VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  

*  TÓM TẮT TIỂU SỬ CẤP LĂNH ĐẠO NHÀ NƯỚC CHXHCNVN  

* CHỈ CÓ MỘT VÀ CHỈ MỘT VIỆT MINH CỘNG SẢN ĐẢNG LĂNH ĐẠO....BẢO VỆ TỔ QUỐC  

* 'VIỆT NAM KHÔNG THỂ CÓ ĐA ĐẢNG '

*  ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG KHÔNG BAO GIỜ LÀ SỰ LỰA CHỌN LƯ TƯỞNG

* Ngài Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết Chinh Tây Mỹ Quốc Thành Công...Đại Thành Công  

* TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT  

* ĐẠI HỘI ĐẢNG KHÓA X & TẠ TỐN BẠCH MAO VƠ VĂN KIỆT ÔNG LÀ AI?

* Nếu Nhà Nước CHXHCNVN Và Đảng CSVN Sụp Đổ....Ba Triệu Đảng Viên CSVN Sẽ Ra Sao?

* Tôn Nữ Thị Ninh, Nhà Ngoại Giao Bắt Nhịp Cầu Nối Hai Bờ Đại Dương

* Tinh Thần Quyết Tâm Giành Độc Lập Là Cội Nguồn...Của Cách mạng Tháng Tám

 

 

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ”

Trần Chung Ngọc

 

PHẦN 1

 

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ.  Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại, nơi đây một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy tŕnh độ văn hóa, giáo dục thường lên tiếng.  Nhưng viết cho đúng với nhân cách, khả năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh th́ quả thật là khó, v́ điều này đ̣i hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đứng đắn về cuộc đời của ông Hồ, và nhất là, về ông đă làm ǵ cho đất nước Việt Nam.

Riêng đối với tôi, viết về ông Hồ lại càng khó hơn, v́ xuất thân từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, đă cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, đă đi Mỹ học, và đă về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đă ở phía Quốc Gia rồi.  Nhưng cuộc chiến Quốc – Cộng đă chấm dứt hơn 30 năm rồi, bây giờ c̣n nói đến chuyện Quốc – Cộng có phải là ngớ ngẩn không?  Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ văng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối,  không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại.  Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về ông Hồ ra sao?  Viết theo sự hiểu biết giới hạn của ḿnh th́ rất có thể “sai đường lối của một số người đang tham gia cuộc “thánh chiến chống Cộng”” và phải đội thêm vài cái nón cối nữa.  Nhưng chẳng sao, tôi ở xứ lạnh, mùa Đông sắp đến, càng ấm đầu.

 Được đào tạo trong ngành Khoa Học Vật Lư, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho t́nh cảm thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, v́ không có cái mặc cảm của Thượng đế (God complex), nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử. Một người nào đó đă chẳng từng nói: “Người nào viết sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm ḿnh là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế) [Those who write about history without bias must have a God complex].  Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung.  Điều này chưa hẳn là tuyệt đối  đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.

Riêng về ông Hồ, đọc những tài liệu của giới CCCĐ hay CCCC  ở hải ngoại th́ cũng như không đọc, v́ không biết thêm được điều ǵ mới lạ, ngoài những cường điệu chứng tỏ tŕnh độ thấp kém về lịch sử của người viết.  C̣n dùng những tài liệu trong nước, phải gội đầu sẵn để đội thêm vài cái mũ của những kẻ không hề biết lư luận, không có khả năng thảo luận trí thức.   Không phải là trong những tài liệu thuộc cả hai phe “Quốc-Cộng” này không có những chi tiết đúng, nhưng những chi tiết này chúng ta cũng có thể t́m thấy trong kho tàng tài liệu ngày nay trên thế giới, từ tác phẩm của những nhà nghiên cứu trong môi trường đại học, các chính khách, cựu tướng lănh v..v…, và từ các tài liệu có trong các văn khố của một số quốc gia.  Vậy th́ tốt hơn hết là đi t́m tài liệu không thuộc hai phe Quốc, Cộng.

Bài viết này không có mục đích viết tất cả về ông Hồ Chí Minh, tôi không có khả năng như vậy.  Nhân đọc loạt bài ông Minh Vơ phê b́nh cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker cùng đọc bài khảo cứu, có thể nói là một bài giáo khoa của giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang, về những vị lănh đạo Việt  Nam trong thời cận đại như Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, đăng trên giaodiemonline.com tháng 11, 2006, tôi chỉ muốn bổ túc và thu hẹp trên một vài khía cạnh về ông Hồ Chí Minh: vị thế của ông Hồ Chí Minh trên chính trường quốc tế, trong ḷng dân tộc Việt Nam, và nhất là, phải chăng ông là người Cộng sản cực đoan, tay sai của Nga Sô và Trung Cộng như một số người chống Cộng cực đoan ở hải ngoại, điển h́nh là ông Minh Vơ, thường rêu rao.  C̣n những con cờ Bảo Đại, Ngô Đ́nh Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu của Pháp và Mỹ th́ có lẽ không cần phải nhắc tới.  Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đă viết quá đủ về những nhân vật này rồi, nhất là về ông “Phán Quan Tây Ban Nha” Ngô Đ́nh Diệm.(Link: http://www.giaodiemonline.com/nov/chuong18.htm

   Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy tŕnh độ.  Không có ǵ ngu xuẩn hơn là so sánh ông Hồ với Hitler.  Những người này hầu như không hề biết ǵ đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu Mỹ, đă nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào.  Hăy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh th́ sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hăy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lănh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In RetrospectArgument Without End của cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập ḷe trên vài diễn đàn điện tử ít có giá trị trí thức của đám người Việt c̣n mang nặng ḷng hận thù Quốc-Cộng, chống Cộng cuối mùa, chống Cộng khi đă không c̣n Cộng.. 

Tony Blair picture 1811810

           Tony Blair          Bush Con            Benedict XVI - Hitler - Saddam - Stalin -  Ngô Đ́nh Diệm

Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots & Dictators

( Diệm số 78, Tony Blair - Bush Con - Benedict XVI là Tyrants-Evil", ĐDTB)

Click đọc: Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

 

Và những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004, trong đó chúng ta có thể thấy những tên quen thuộc như Tần Thủy Hoàng, Vơ Hậu, Từ Hi, Richard III, Mary I, Ceasar Borgia v..v.. và trong thời cận đại:  Hitler, Mao Trạch Đông, Stalin, Pol Pot, Sadam Hussein, Kim Jung II, và, lạ lùng thay, có cả tên Ngô Đ́nh Diệm (President of South Vietnam) mà lại không có tên Hồ Chí Minh trong danh sách này.  Mỗi tên trong danh sách đều có kèm theo một tiểu sử ngắn và sơ lược những hành động chuyên quyền và độc tài của nhân vật đó.  Thế này là thế nào, chẳng có lẽ Nigel Cawthorne cũng như nhiều trí thức Tây phương đều là tay sai của CSVN, hay là những người ngu cả hay sao? 

Cách đây sáu năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn “Ho Chi Minh, A Life”.  Cuốn này được giới trí thức, học giả Âu Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh.  Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ của nhiều tác giả khác trong thế giới Tây phương, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.

Trước hết, quốc tế đối với ông Hồ ra sao?  Tôi xin được nhắc lại một đoạn  trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đă trích dẫn từ cuốn “Ho Chi Minh” của William J. Duiker:

 “Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền th́ khắp địa cầu đưa ra  nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22000)  bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xă hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lănh đạo xuất sắc  của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng  ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của ḷng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xă luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm ḷng bao la như vũ trụ và có một t́nh thương vô bờ bến đối vào các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả  mọi phạm vi.” 

Phản ứng từ các thủ đô Tây Phương th́ không biểu lộ mạnh mẽ. Ṭa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không b́nh luận ǵ cả. Nhưng việc chú ư đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mănh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ  ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người lép vế  thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng  ông như là  một người đă tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”

Nguyên văn: (“The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121 countries  offering the Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of socialists states held memorial services of their own and editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as  a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the international Communist and national liberation movement, and a great friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his role as a defender of the oppressed. An article published in India described him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”

Reaction from Western capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed. Even those who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence and unification of his country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of the world.”) [Đây là đoạn đầu của Chương cuối: “Epilogue: From Man To Myth” , trang 562.  TCN]

Trên đây, Duiker đă viết lại một sự kiện.  Sự kiện này, hơn ǵ hết, đă loại bỏ tất cả những ǵ mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về ông Hồ.  Cho nên bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín của ông Hồ đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù, vụn vặt, chỉ nhắm vào những tiểu tiết mà không nh́n thấy những mặt to lớn của sự việc, và chỉ có thể lấy được sự đồng t́nh của một số người nhỏ nhoi thu hẹp trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại..

Có một bài viết về ông Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett khá hay: Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com).  Wilfred Burchett là một kư giả Úc nổi tiếng, đă từng được Ngoại Trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội.  Năm 1968, ông đă viết một cuốn có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi:  Tại Sao [Nam] Việt Nam Sụp Đổ” (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell).  Theo tôi, Burchett viết hay, không phải v́ tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đă viết về những ǵ đă tạo nên ông Hồ:  Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đă tạo nên ông Hồ.  Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho ḿnh là trí thức. Chúng ta hăy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

 “Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy ḿnh thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity).  Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc tŕnh chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông” (oriental human beings). [với ư coi thường, miệt thị]

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ (Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate, is usually culturally and morally superior to his American adversary.).  Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ v́ đất nước hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà v́ những điều này đă thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his mother’s milk).  Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi c̣n nằm trong ḷng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đă bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đ̣i hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v…  Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong ḍng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất.  Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank) [của Mỹ] không thể hiểu được (The knowledge of two thousand years' struggle against invaders is in the bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future and contempt for those who try to wreck the present-qualities incomprehensible to the "think tank" specialists.). 

Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên.  Và đúng là, cũng như một cái ǵ đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái ǵ đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese nation.) .

Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ư đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.)  Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa ĺa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc.  Hồ Chí Minh đă được chấp nhận là lănh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đă lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ. (No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and source of inspiration for all Vietnamese - except the handful who served Japanese, French and American masters in turn.)

Lẽ dĩ nhiên, một số người Việt “Quốc Gia” ở hải ngoại không thể đồng ư với nhận định trên, điều này có lẽ cũng không lấy ǵ làm khó hiểu.  Nhưng trên phương diện nghiên cứu trí thức, một câu hỏi cần được đặt ra: có bao nhiêu phần đúng trong nhận định của Burchett?  Nếu chúng ta thuộc lịch sử Việt Nam, nếu chúng ta biết đến những truyền thống trong xă hội làng mạc Việt Nam, nếu chúng ta để tâm nghiên cứu về hai cuộc chiến ở Việt Nam, với Pháp rồi với Mỹ, th́ có lẽ chúng ta không cần đặt ra câu hỏi trên.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: ông Hồ Chí Minh là con người Cộng Sản như thế nào?  Chúng ta biết rằng, ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận ḿnh là người Cộng Sản và đă từng khẳng định là Lenin đă gây cảm hứng cho ông trong công cuộc giành lại độc lập cho đất nước.  Nhưng muốn hiểu ông Hồ là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và v́ chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ ḿnh rơi vào ṿng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lư do ǵ để ủng hộ hay chống đối một phe nào..

Chúng ta hăy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn “Ho Chi Minh, A Life”, Kutler là tác giả cuốn "The Wars of Watergate" và là chủ biên của "The Encyclopedia of the Vietnam War." .  Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của ḿnh, Duiker đă viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin [A patriot closer to Thomas Jefferson than to V.I. Lenin].  (Điều này, không phải chỉ có ḿnh Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy.  TCN)

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đă cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai tṛ của ông Hồ đă đi vào quá khứ.  Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho chính phủ, cho một số viên chức được ưu đăi, và cho những công ty Tây phương. Nhưng Kutler ghi nhận là:

“Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác v́ ông Hồ, và những người như ông, những người đă lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng quốc gia của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc.  (Nevertheless, the world is a different place because of Ho, and others like him, who agitated, fought and died to liberate their lands from the stigma and yoke of foreign tyranny.)

Sau đó Kutler viết: “Duiker đă đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến Tranh Lạnh về vấn đề ông Hồ là người Cộng sản theo chính thống Mác-Lênin hay là một nhà ái quốc quốc gia, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?” (Duiker has moved beyond the simplistic Cold War debate of whether Ho was a dedicated Communist, beholden to Marxist-Leninist orthodoxy, or whether he was a patriot and a nationalist, dedicated to freeing and uniting his country.)  “Duiker đă nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người quốc gia đă mang lại sự lănh đạo, viễn kiến và sự cương quyết hiến thân cho nguyên lư dân tộc tự quyết “ (Duiker rightly notes that Ho had deep roots in the international Communist movement; but he was a constant nationalist who provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of self-determination.)…

 Ông Hồ không hề nao núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc giaLời tuyên bố của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ c̣n sống măi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Mác.  Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ, độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai” [Ho unabashedly used communism for his own nationalist ends. His statement that "the peoples of Indochina still live and will live forever" is hardly compatible with Marxism. Duiker insists that for Ho, national independence always was the primary goal, while the doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the future.]   Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc v́ những nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đă thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho người Việt Nam và cho thế giới (Duiker painfully reminds us that external Cold War considerations led to the failure of Paris and then Washington to grasp Ho's hand, resulting in profound consequences for the Vietnamese people and the world.)

Lẽ dĩ nhiên, cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của Duiker không làm những người mang nặng ḷng hận thù Cộng Sản hài ḷng, và họ đă lên tiếng chê sử gia Duiker cũng như tất cả các tác giả Âu Mỹ viết về ông Hồ mà không đúng ư họ là ngu dốt, là những người ngoại quốc, đâu có biết ǵ về ông Hồ bằng người Việt Nam.  Chỉ có những người vô tên tuổi, vô văn hóa, và chẳng biết ǵ mấy về Việt Nam như họ mới có thể biết rơ về ông Hồ, dù rất có thể họ chưa bao giờ thấy mặt ông Hồ, và chỉ biết ông Hồ qua những luận điệu tuyên truyền chống Cộng ở hải ngoại và qua vài chi tiết lặt vặt trong những tác phẩm của những người sau này chống Đảng như Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần v..v....  Điển h́nh cho loại người này trên Internet là Minh Vơ, một người rất năng nổ trong chiến dịch “No Hồ” ở hải ngoại, viết trên diễn đàn điện tử Đàn Chim Việt, một diễn đàn có vẻ như là nơi để cho một số người nhân danh tự do ngôn luận vào đó chửi lộn.  Minh Vơ đang cố gắng phá đổ cái mà ông ta gọi là “thần tượng Hồ Chí Minh”, dù rằng chẳng có ai coi ông Hồ là thần tượng, v́ hầu như mọi người dân trong nước đều coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”.  Nhưng tŕnh độ hiểu biết, khả năng lư luận, và thủ đoạn bịa đặt sự kiện của ông Minh Vơ không cho phép ông ta đạt được mục đích, cho nên những điều ông ta phê b́nh Duiker cũng như những điều ông ấy viết về ông Hồ không có mấy giá trị trí thức, để lộ rơ một kiến thức kém cỏi và viết với một tâm trạng thù hận và thiếu sự lương thiện trí thức trong đó.  Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng, nhưng tôi để cho phần sau. 

Trước hết chúng ta hăy đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ:

Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”  có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học  Denis-Diderot, Paris-VII.  Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist).  Giáo sư Brocheux viết, trang 33:

Đối với Quốc (Nguyễn Ái Quốc), chủ thuyết Mác Lênin đă đưa lên những phương tiện hành động, như là ông ta đă giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc.  Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương tự.  Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đă phạm phải [Có lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn Quyền Merlin].  Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép ḿnh vào kỷ luật.  Chúng ta cũng c̣n cần đến một ḷng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh.  Chủ thuyết Mác-Lênin đă cung cấp cho tôi đường lối hành động này.” 

(Pour Quoc, le marxisme-léninisme offre des moyens d’action, comme il l’a expliqué des années plus tard: “Vous devez comprendre qu’arracher l’indépendance à une puissance comme la France est une tâche formidable qu’on ne peut accomplir sans une aide extérieure et pas nécessairement une aide en armes mais sous la forme de conseils et de contacts.  On ne gagne pas l’indépendance en jetant des bombes et par des actes de ce type.  Ce fut l’erreur que les premiers révolutinaires commirent.  On gagne l’indépendance en s’organisant et en se diciplinant.  On a aussi besoin d’une foi, d’un évangile, d’une analyse pratique, on peut même parler d’une bible.  Le marxisme-léninisme m’a fourni cette panoplie.)

Thực ra th́ có lẽ ông Hồ muốn nói đến Những Luận Đề Về Những Vấn Đề Quốc Gia Và Thuộc Địa (Theses on The National and The Colonial Questions) của Lê-nin đưa lên trong Đại Hội II Cộng Sản Quốc Tế (Second Congress of the Communist International) vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế.  Chúng ta đă biết, chính ông Hồ Chí Minh đă thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ư tưởng chính trị khó khăn trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rơ, và ư thức được là những luận đề này đă giúp cho ông ta thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân. Và ông Hồ đă thành công.

Chúng ta hăy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux.  Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou.  Stalin đă nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937.  Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, v́ từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào.  Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa người ta đă trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay v́ tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.”

(En 1934, il est de retour à Moscou.  Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937.  Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité.  Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)

“Về vấn đề này, ông Hồ đă bày tỏ quan điểm của ḿnh từ năm 1924..  Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đă nh́n theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương.  Marx đă xây dựng lư thuyết của ḿnh trên một căn bản triết lư nào đó của lịch sử.  Nhưng là lịch sử nào?  Đó là lịch sử Âu Châu.  Nhưng Âu Châu là ǵ?  Không phải là tất cả nhân loại.” 

(À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire.  Mais quelle histoire?  Celle de l’Europe.  Mais qu’est ce que l’Europe?  Ce n’est pas toute l’humanité).

“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không?  Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ, như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đă nói?  Vấn đề này đáng được đặt ra..  Nếu chắc chắn là ông ta đă đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đă nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, th́ sự gắn bó của  ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“ 

(Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste?  Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy?  La question mérite đêtre posée…  S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)

“Năm 1963, người Cộng Sản Lưu Thiếu Kỳ đă phác họa một h́nh ảnh chính trị của ông Hồ, nếu đúng, cho thấy một vị thế không thoải mái [của ông Hồ] đưa đến một sự gắn bó đôi đàng với ḷng yêu nước chấp nhận thỏa hiệp, và chủ nghĩa xă hội độc quyền: “Hồ luôn luôn là người hữu khuynh.. Khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, ông ta không thể quyết định là thiết lập một chế độ tư bản hay một chế độ theo xă hội chủ nghĩa.  Chúng tôi đă quyết định cho ông ta.””

(Le communist Chinois Liu Shaoqi esquisse en 1963 un portrait politique de Ho qui, s’il est exact, indique la position inconfortable qui résulte d’une double adhésion au patriotisme consensuel et au socialisme exclusif: “Ho a toujours été un droitiste.. Lorsque la guerre d’Indochine prit fin, il ne put se décider à choisir d’instaurer soit un régime capitaliste soit un régime socialiste.  Ce fut nous qui décidâmes pour lui.”)

“Không có ǵ minh họa rơ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lănh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960.  Ông Hồ đă tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đă trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức.  Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .” 

(Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960.  Ho avait déclaré qu’il n’était pas moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue, je tue, ce n’est pas une question de morale.”  Et Liu Shaoqi de renchérir qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux contre-révolutionnaires capitalistes.)

Trong cuốn “The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:

“Ông Hồ ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lê-nin; thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lư tưởng của ông ta có thể khá co dăn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đă ám ảnh ông ta: nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.”  (Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his genius was for political action, and his ideology was capable of considerable stretching as long as it tended toward the purpose that obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)

Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư xă hội học, đại học Tufts, viết, trang 83:

“Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự hứng khởi và chỉ đạo từ Liên Bang Sô Viết.  Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ Tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lư và tổ chức chính trị đều phát khởi từ và bị  kiểm soát bởi điện Kremlin. Tuy vậy t́nh báo Mỹ đă cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh.  Một công điện của Bộ ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa ông Hồ và Moscou nhưng cho rằng có.” 

(Despite a lack of evidence,Washington continued to perceive the anti-French struggle (in Vietnam) as something inspired  and directed from the Soviet Union.  For example, in the cable to Premier Ramadier cited above, the American embassador falsely maintained that the Vietminh was a movement whose “philosophy and political organization emanated from and was controlled by the Kremlin.”  Yet American intelligence had tried, and failed, to substantiate the existence of controlling ties between Moscou and Ho Chi Minh.  A State Department cable to the US Ambassador in China read “the Department has no evidence of a direct link between Ho and Moscou but assumes it exists..)

Marilyn B. Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991, viết, trang 4:

“Trong vài năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo v́ những “mùi hôi quốc gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng răi bao gồm cả các địa chủ cỡ nhỏ và trung b́nh, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù).  Phải mười năm sau sự tranh luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xă hội mới được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.” 

(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad alliance that could include even small and medium landowners, provided they were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist.  A decade would pass before this bitter debate on the relationship between national and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the formation of the Viet Minh.)

Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự  rải rác trong những cuốn sách mà tôi đă đọc.  Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này.  Điều này đ̣i hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết ông Hồ hơn.  Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông Hồ không phải là tay sai của Nga và Tàu như một số người có đầu mà không có óc cố t́nh lên án ông ta là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, hay tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng Sản Quốc tế” [Minh Vơ].  Họ không hề biết chính trị của ông Hồ giữa Nga và Tàu, đă khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Nga cũng như Tàu gửi quân t́nh nguyện vào đánh giúp. Chúng ta hăy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

“Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov.  Trong những cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đă thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân t́nh nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam.  Ông Hồ biết rơ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngơ Hà Nội th́ dần dần cửa ngơ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm.” 

(Visiting Peking in 1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail Suslov.  In private negotiations,  he managed to win pledges of additional arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers to send “volunteer” troops or military advisers.  Ho knew that if either the Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam lost its independence and became a captive nation.)

  Đọc về ông Hồ chúng ta thấy rơ Mỹ và Pháp, v́ những nhận định chính trị sai lầm, đă  càng ngày càng đẩy ông ta về phía Cộng Sản, và ông ta không có con đường nào khác, v́ để thực hiện  mục đích không hề thay đổi của ông là thực hiện nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, nên ông ta cần đến các đồng minh. [Hăy nghĩ đến chuyện ông viết 8 bức thư cho Tổng Thống Truman, đến chuyện Mỹ giúp 80% quân phí cho Pháp trở lại tái lập nền đô hộ ở Đông Dương, và rồi dựng lên chế độ Ngô Đ́nh Diệm, vi phạm hiệp định Genève, ngăn chận cuộc bầu cử vào năm 1956 để thống nhất đất nước.]

Cuối cùng, vị thế của ông Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao?  Chúng ta đă biết, Wilfred Burchett đă nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.)  Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa ĺa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc.  Hồ Chí Minh đă được chấp nhận là lănh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đă lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai?  Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài “Hai Câu Chuyện Hoàn Toàn Trung Thực”,  mới đây đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất :  lá cờ đỏ sao vàng trên mạng:

Trưa 2/9/2006, ngày quốc khánh của nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt Kiều trên Yahoo Messenger (YM) tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống măi trong sự nghiệp của chúng ta”,  kèm theo đó là lời kêu gọi hăy thay đổi avatar (h́nh ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nh́n lại danh sách nickname của ḿnh trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng h́nh ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại h́nh ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa h́nh ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạn trang trọng trên các blog (nhật kư cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của ḿnh trong ngày 2-9. Và ngày 3-9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai : lăng ông Hồ Chí Minh :

Tôi đă có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn vể xă hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/08/2006 (với hàng chục ư kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng ông Hồ với mục đích t́m hiểu xem thái độ, t́nh cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông Hồ ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều cá nhân đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, một đặc trưng của xă hội chủ nghĩa, rồi theo đó vào lăng. Quả thật tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ ông Hồ và cả sự sùng bái của những người dân b́nh thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua xác ông được đặt trong một cái ḥm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức h́nh chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn c̣n rất tươi tắn hồng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.

 Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng ông Hồ. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. C̣n có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, B́nh Phước... Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

 Một thông tin đáng chú ư đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, trưởng Ban quản lư lăng kiêm tư lệnh Bộ tư lệnh bảo vệ lăng ông Hồ cho biết đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số c̣n lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng con số trên rất thật bởi v́ tôi đă được tận mắt chứng kiến ḍng người xếp hàng dài vào viếng lăng ông Hồ, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức.

 Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ” (More than 15000 visit the mausoleum each week)

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn c̣n kính ngưỡng ông Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”?  Lư do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về ông Hồ của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ ḷng thù hận một chiều của những người gọi là Quốc Gia, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử.  Thật vậy, những người chống Cộng cực đoan như Minh Vơ chỉ nh́n thấy những điều lặt vặt như chúng ta thấy trong bài ông ta phê b́nh cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker.  Để có thể thêm vài chi tiết về ông Hồ Chí Minh, có lẽ tôi cũng nên điểm qua bài phê b́nh Duiker của Minh Vơ.

 

 

Ho Chi Minh

Cha ǵa dân tộc Hồ Chí Minh

 

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ”

Trần Chung Ngọc

 

PHẦN 2

 

Trên Đàn Chim Việt, Minh Vơ có viết bài phê b́nh cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker.  Sau đó Minh Vơ c̣n “đọc lại Trần Dân Tiên” và đưa ra một số ư kiến.  Đọc hai bài này, chúng ta thấy rơ tŕnh độ của ông Minh Vơ không thể gọi là tŕnh độ, kiến thức của Minh Vơ không thể gọi là kiến thức.  Tôi không có ư định phê b́nh chi tiết hai bài trên của ông Minh Vơ, chỉ duyệt qua vài điểm, cùng tŕnh bày vài ư kiến của độc giả về ông Minh Vơ để chúng ta thấy rơ Minh Vơ thuộc loại người nào.  Trước đây, trên trang nhà Giao Điểm, Hà Giang đă có bài nhận định về cuốn “Ho Chi Minh” của Duiker, viết đứng đắn và nghiêm chỉnh hơn ông Minh Vơ rất nhiều. Link:http://www.giaodiem.com/doithoaiII/Hagiang_hcm.htm

Trước hết, Lê Duy Khoa trên Đàn Chim Việt đă vạch ra rằng ông Minh Vơ đă áp dụng bậy bạ tam đoạn luận để phỉ báng ông Hồ như sau:

a) Chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx là sai lầm, dối trá, tàn ác, phản nhân đạo, phản dân tộc. [TCN = Đây là một khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite).  Cũng như Trần Mạnh Hảo, ông Minh Vơ, không hiểu ǵ về Marx mà cứ viết bậy về Marx.  Thế giới ngày nay đánh giá Marx như thế nào? Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ đại của thế giới là như thế nào?.  1. “Theo kết quả thăm ḍ ư kiến  thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 th́, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??.  [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers, nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.]  Theo bảng kết quả th́ David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7.  2. “Kết quả chọn vĩ nhân của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10  (www.unserebesten.zdf.de).  Lạ nhỉ, cả thế giới trí thức này mù và ngu cả hay sao mà không nh́n và đánh giá Marx như ông Minh Vơ? ]

b)  Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa cộng sản [Không ai phủ nhận điều này]

c)   Kết luận: không thể coi HCM là nhân đạo, yêu nước, anh hùng mà phải coi ông ta là tội đồ ác ôn của đất nước.  

Chúng ta thấy ngay, ông Minh Vơ đă dựa trên sự hoàn toàn sai lầm của ḿnh trong vế a) để đưa đến một kết luận tất nhiên cũng hoàn toàn sai lầm trong vế c).  Nhưng không phải chỉ có vậy.  Đọc Minh Vơ, chúng ta thấy rơ qua giọng văn một sự thù hận ngất trời và phản ánh một tŕnh độ hiểu biết quá thấp kém của ḿnh.  Đối với tôi, Minh Vơ không phải là người đáng để tôi phê b́nh về những “tác phẩm” của ông ấy, tôi để dành điều này cho một số độc giả trên Đàn Chim Việt trong phần trích dẫn ở cuối bài.  Ở đây tôi chỉ muốn nêu ra một lư luận rất ngớ ngẩn nếu không muốn nói là ngu xuẩn của ông Minh Vơ khi phê b́nh đoạn sau đây của Duiker.

 “Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông [Hồ] để lại cho dân tộc ḿnh ra sao, ông Hồ đă chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ.”

V́ Nhà Nước VN muốn dịch cuốn “Hồ Chí Minh” của Duiker nhưng muốn bỏ đi những đoạn nói về đời tư của ông Hồ, nên ông Minh Vơ phê b́nh như sau: “Hồ Chí Minh đă tạo ra cái di sản ngăn cấm ngay tiếng nói của một sử gia [Duiker] th́ có thể là bậc anh hùng đă đấu tranh mạnh mẽ cho tiếng nói đích thực của những kẻ cùng khổ được cất lên chăng?”

Thứ nhất ông Minh Vơ không hiểu thế nào là di sản.  Thứ nh́, cái di sản ông Hồ để lại cho dân tộc là nền độc lập quốc gia sau khi cất bỏ được chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trên đất nước, và tiếp nối bởi chính ông và những người sau ông trong việc thành công đi đến sự thống nhất đất nước.  Di sản đó tuyệt đối không phải là chính sách luôn luôn thay đổi của Nhà Nước và lẽ dĩ nhiên không phải là yêu cầu của Nhà Xuất Bản Chính Trị Việt Nam đối với Nhà Xuất Bản Hyperion ở New York như chúng ta thấy trong tài liệu sau đây trên Internet:

 “Trong một bức thư cho nhà Xuất Bản Sách Hyperion ở New York, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia của chính quyền (VN) đă nói rằng họ chỉ muốn bỏ đi vài đoạn trong cuốn sách của Duiker “không phù hợp với những thông tin trong hồ sơ của họ.” (In a letter to New York publisher Hyperion Books, the state-run National Politics Publishing House has said only that it wants to remove certain passages from the Duiker biography that "do not conform with the information in our files".)

Đây có phải là một hành động ngăn cấm hay không hay chỉ là một đề nghị thương thuyết?  Đầu óc như vậy mà ông Minh Vơ muốn làm việc đội đá vá trời là xóa bỏ thần tượng Hồ Chí Minh th́ đúng là sự mơ tưởng hăo huyền của những kẻ cuồng tín vô minh.

Một nhận định khác có tính cách phóng đại rất lố bịch của ông Minh Vơ về cuộc cải cách ruộng đất như sau:

 “Thời ông HCM cũng thế nếu ông ấy tôn trọng Hiến pháp sao ông lại làm cải cách ruộng đất giết chết hơn nửa triệu người.?”

Ông lấy con số “hơn nửa triệu” này ở đâu ra?  Chắc chắn là ông chưa hề đọc đến những công cuộc khảo cứu rất sâu rộng về Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam: Mục đích, kết quả, số nạn nhân v..v.. của Gareth Porter, Edwin E. Moise, Noam Chomsky và Edward S. Herman.  Rất có thể ông chỉ tin vào con số đoán ṃ của Hoàng Văn Chí, người đă thú nhận là con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất chỉ là đoán ṃ sau khi bị Gareth Porter công khai vạch ra những sự giả mạo trong tài liệu của Chí [Chi eventually conceded that his number of victims of the land reforms to be merely a “guess” (The Washington Post, 13 September, 1972).  This admission came after Porter had made Chi’s falsification public.]  Thật là đẹp mặt cho Hoàng Văn Chí và cho cả Minh Vơ.

Theo những tài liệu của Noam Chomsky và Edward S. Herman cũng như của Gareth Porter và Edwin E. Moise th́ Hoàng Văn Chí vốn là một địa chủ ở ngoài Bắc, sau đó làm cho Bộ Thông Tin của Chính Quyền miền Nam, rồi làm việc cho CIA và làm thông dịch viên cho Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ.  Trong bài “The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land reform Reconsidered” (Bulletin of Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15), Gareth Porter đă vạch ra vài đoạn Hoàng Văn Chí dịch bậy bài thú nhận có sai lầm trong việc thi hành cải cách ruộng đất của Tướng Vơ Nguyên Giáp với mục đích giúp quan thầy Mỹ và miền Nam tuyên truyền xuyên tạc, thí dụ :

“Chúng ta không chú trọng đề pḥng lệch lạc”  đáng lẽ phải dịch là “We did not pay attention to precautions against deviation” th́ Hoàng Văn  Chí dịch là “Chúng ta phạm phải quá nhiều lệch lạc” (We made too many deviations); “Xử trí oan những người ngay” thay v́ dịch là “the unjust disciplining of innocent people” th́ Chí dịch là “hành quyết quá nhiều người lương thiện” (executed too many honest people); “không nhấn mạnh phải thận trọng, tránh…” [did not emphasize the necessity for caution and for avoiding] th́ Chí bỏ đi không dịch (omitted); “dùng những biện pháp trấn áp quá đáng” [used excessive repressive measures] th́ Chí dịch là “xử dụng đế khủng bố” (resorted to terror); “thậm chí dùng phương pháp truy bức” [even coercive measures were used] th́ Chí dịch là “tệ hơn nữa, tra tấn” (worse still, torture) v..v.. và c̣n thêm thắt vào những đoạn không có trong bản văn như “nh́n thấy kẻ thù khắp nơi” (seeing enemies everywhere) mà Gareth Porter không t́m thấy trong bản gốc (not in original).    Noam Chomsky và Edward S. Herman c̣n vạch ra rằng, trong những cuộc phỏng vấn vào năm 1955, Hoàng Văn Chí không hề nói ǵ đến cuộc cải cách ruộng đất và con số những nạn nhân.  Chỉ trong vài năm sau, sau khi Mỹ và Saigon biết đến những vấn đề trong cuộc cải cách ruộng đất từ những cuộc thảo luận trên báo chí ở Hà Nội mà Moise cho là  “thẳng thắn kỳ lạ trong sự thảo luận những sai lầm và thất bại” (sometimes extraordinarily candid in discussing errors and failures”, Chí mới “nhớ lại” những điều viết trong tài liệu của ḿnh.

   Noam Chomsky và Edward S. Herman viết trong cuốn The Political Economy of Human Rights, Vol. I, South End Press, Boston, 1979, trang 342:

   “Nguồn thông tin căn bản về những con số giết chóc lớn trong cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt là từ những người của CIA hoặc Bộ Thông Tin Tuyên Truyền Saigon.  Theo một người Việt Công giáo nay sống ở Pháp, Trung Tá Nguyễn Văn Châu, Chỉ Huy Cơ Quan Chiến Tranh Tâm Lư Trung Ương của quân đội Saigon từ 1956 đến 1962, số nạn nhân bị “tắm máu” trong cuộc cải cách ruộng đất  là “100% dựng lên” bởi cơ quan t́nh báo Saigon.  Theo Trung Tá Châu, một chiến dịch có hệ thống dùng các tài liệu ngụy tạo để bôi nhọ đối phương được thi hành vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho sự kiện là Diệm từ chối không thương thuyết với Hanoi trong việc sửa soạn tổ chức cuộc bầu cử để thống nhất đất nước quy định vào năm 1956.” (The basic sources for the larger estimates of killings in the North Vietnamese land reform were persons affiliated with the CIA or the Saigon Propaganda Ministry.  According to a Vietnamese Catholic now living in France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central Psychological War Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the “bloodbath” figures for the land reform were “100% fabricated” by the intelligence services of Saigon.  According to Colonel Chau, a systematic campaign of vilification by the use of forged documents was carried out during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate with Hanoi in preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for 1956)

   Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War:  Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:

   “Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đă ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả,  hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.” (Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)

   Giáo sư Pierre Brocheux viết trong bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” , trang 34:

   “Đối với Hồ Chí Minh, tập thể hóa đất đai là sự bảo đảm phân chia đồng đều tài sản.  Nhưng ông ta tố cáo sự dùng những hành phạt thể xác đối với các địa chủ và các nông dân giàu có và yêu cầu thi hành một chương tŕnh sửa sai những sự bất công và phục hồi những sở hữu của nông dân thuộc quyền của họ (1956).  Nhưng ông ta phải nhượng bộ trước đa số trong Đảng.  Chiến dịch cải cách ruộng đất làm cho ít nhất là 15000 người chết.”  (Pour Ho Chi Minh, la collectivisation des campagnes est la garantie d’une répartition égalitaire des resources.  Mais il dénonce l’utilisation des peines corporelles contre les “propriétaires fonciers et riches paysans” et demande une programme de correction des injustices et la restauration des paysans propriétaires dans leurs possessions et leurs droits (1956).  Il s’incline pourtant devant la majorité du Parti.  La réforme agraire côutera la vie à 15000 personnes au moins.)

Về con số “hơn nửa triệu” của ông Minh Vơ, chúng ta có thể đối chiếu với một số tài liệu khác:  Của Gareth Porter: từ 800 đến 2500; của Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5000 và chắc chắn trong khoảng từ 3000 đến 15000; của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong cuốn “A Viet Cong Memoir”: nhiều ngàn (thousands); của Bùi Tín trong Mặt Thật: “lên tới mười mấy ngàn”; của Vũ Thư Hiên: từ 4000 đến 5000.  Chúng ta không thể biết chính xác con số bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất.  Nhưng xét đến số làng mạc, ruộng đất ở ngoài Bắc, số địa chủ thực sự, số nông dân nghèo khổ phải thuê đất [một số của Nhà Chung] để cầy cấy v..v.. th́ con số “hơn nửa triệu” của ông Minh Vơ là con số chỉ có trong đầu của ông Minh Vơ.

Trên diễn đàn Đông Dương Thời Báo, tháng 5, 2006, chúng ta có thể đọc một đoạn về cải cách ruộng đất của chủ biên người Công Giáo, Giu-se Phạm Hữu Tạo, như sau:

   Thật vậy, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người,  v́ lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng… Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc. Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ ǵ tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.

Hiện tượng Minh Vơ th́ hầu như ai cũng biết về ư đồ và tŕnh độ của ông ta như thế nào.  Để quảng cáo cho cái ư đồ này, ông ấy nhờ một người quen biết trẻ hơn, có cùng tŕnh độ như ông ấy, lên tiếng quảng cáo cho cuốn Hồ Chí Minh: Một Nhận Định Tổng Hợp của ông ấy trong buổi ra mắt sách.  Đó là ông Huỳnh Lương Thiện.  Nhưng đọc Huỳnh Lương Thiện chúng ta thấy rơ là tŕnh độ của ông ấy cũng chẳng hơn Minh Vơ là bao nhiêu.  Chứng minh?

Ông Huỳnh Lương Thiện phát ngôn:

Tôi nghĩ rằng tôi chỉ đáng em hay con của rất nhiều vị ngồi trong pḥng này mà thôi. Thế mà quư vị có thể tưởng tượng là có kẻ khi tuổi c̣n nhỏ hơn, chỉ đáng em của tôi thôi mà đă dám xưng là bác với cả nước chúng ta. Quư vị biết đó là ai không? Hồ Chí Minh. Vâng, cám ơn quư vị đă cho biết kẻ đă dám xưng bác với cả nước là Hồ Chí Minh, tôi cũng biết điều đó. Tuy nhiên phải đến khi đọc cuốn sách này của bác Minh Vơ th́ tôi mới biết thêm là họ Hồ đă dám xưng bác với cả nước khi chỉ mới 55 tuổi, bằng tuổi cô em gái tôi.

Thưa quư vị, tôi tuổi Canh Dần, 56, 57 tuổi rồi và đó là một trong hàng chục, hàng trăm dữ kiện độc đáo, đặc biệt mà tôi đă t́m thấy trong cuốn sách này.

Như vậy là ông Huỳnh Lương Thiện sinh khoảng năm 1949-1950, tất nhiên đích thân không biết ǵ về ông Hồ Chí Minh mà chỉ biết qua những sự kiện mà ông ấy cho là độc đáo trong cuốn sách của Minh Vơ.  Rơ ràng là, dựa vào điều viết bậy của Minh Vơ trong cuốn sách của ông ấy, Huỳnh Lương Thiện đă phát ngôn bậy như trên.  Nhưng dữ kiện trên có thật là độc đáo không?  Rất có thể là độc đáo ở chỗ đă để lộ cái tŕnh độ vô cùng thấp kém của ḿnh về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. 

Thứ nhất, từ “Bác” mà ông Hồ Chí Minh dùng chỉ để nói với các “cháu nhỏ” trong ṿng thân t́nh như người trong một nhà.  Bác, nguyên nghĩa là anh của Bố hoặc Mẹ, và người Việt Nam thường dùng tiếng “Bác” để gọi thay con.  Tiếng Bác cũng c̣n được dùng giữa các bạn bè cao tuổi dù rằng người bạn kém tuổi ḿnh “Nguyễn Khuyến: Kể tuổi tôi c̣n hơn tuổi bác (Dương Khuê)”.  Ông Hồ có thói quen là bất chợt đi thăm các em nhỏ trong trường học và nói những chuyện “Bác cháu ta”.  Chưa ai thấy ông Hồ xưng là Bác với cả nước như ông Huỳnh Lương Thiện đă nói bậy dựa theo lời viết bậy của Minh Vơ bao giờ.  Người dân Việt Nam gọi ông Hồ là “Bác” nghĩa là coi ông như là bậc trưởng thượng thân t́nh của các con cháu trong nhà.  Các ông chống Cộng mà chẳng biết ǵ về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.  Hăy đọc Peter A. DeCaro ở  Buena Vista University viết về ông Hồ Chí Minh (acjournal.org):

“Chức “Bác” của ông Hồ phải được hiểu trong ngữ cảnh của nền văn hóa Trung Hoa trong đó người cao tuổi hơn được đặc biệt tôn kính.  Bác (big uncle) là từ dùng để chỉ người anh của Bố hoặc Mẹ, người em nhỏ tuổi hơn gọi là “Chú”.  Thật là tự nhiên khi người dân gọi [ông Hồ] là “Bác Hồ” v́ những đồng nghiệp của ông ta thuộc một thế hệ trẻ hơn.  Do đó Bác là một từ thân thuộc và những người Cộng Sản ở miền Bắc thường đưa ra sự kiện là mọi gia đ́nh đều coi Bác Hồ là một thành phần vinh dự của gia đ́nh.  C̣n nữa, Bác đồng nghĩa với cách cư xử dân chủ: người Cha có thể ra lệnh, nhưng người Bác [hay Chú] chỉ có thể đưa ra những lời khuyên.”

(Ho’s title of “Bac” must be understood in the context of Chinese culture in which the eldest members of society enjoy especial veneration.  Bac means “big uncle;” it is the term used to denote the elder brother of a father or mother while the younger brother is referred to as Chu, “little uncle.”  It was only natural that people began to speak of Bac Ho because his closest colleagues already belonged to a younger generation.  Bac is therefore a familiar term and the Communists in North Vietnam liked to point out that every family considered Bac Ho an honored memberIn addition, Bac is synonymous with democratic conduct; the father can command, but the uncle only advises.)  

Ông Minh Vơ cũng như ông Huỳnh Lương Thiện hiển nhiên là những người không biết ngượng v́ chính cái tŕnh độ hiểu biết thấp kém của ḿnh về xă hội Việt Nam so với một người ngoại quốc như Peter A. DeCaro.  Nhưng, như đă nói ở trên, các ông thuộc lớp người chỉ viết bậy, cốt hả ḷng thù hận, cho nên không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ.  Tôi nghĩ rằng đối với những người như các ông, tôi không nên phí thêm thời gian để phê b́nh nữa.  Nhưng có điều các ông cần biết, là thủ đoạn và tŕnh độ của các ông không thể qua mắt được lớp trẻ ngày nay. 

Vậy sau đây, tôi xin nhường chỗ cho vài tiếng nói của lớp trẻ trên Đàn Chim Việt:

1)  Tôi cho rằng chính v́ không tự ḿnh t́m hiểu vấn đề một cách chủ động, giống như ông bạn Lương Thiện đăng đàn ở trên, bạn đă rớ quá dễ dàng vào những thứ lư sự quá đơn giản của những nhà nghiên cứu nửa mùa kiểu Minh Vơ. Bạn hăy thử đề nghị Minh Vơ đem dịch cuốn sách của ḿnh ra tiếng Mỹ để xem những học giả Mỹ nghĩ ǵ. Cam đoan với bạn không đáng một cái nhếch mép! Trong nghiên cứu, kết luận về vấn đề nêu ra không quan trọng bằng cái phương pháp nghiên cứu đă dẫn đến kết luận ấy, đó là điều căn bản. Xin bạn lưu ư: đây là một vấn đề sử học, một vần đề khoa học chứ không phải là chuyện biểu diễn diễn lập trường, hoặc tệ hơn nữa bộc lộ oán thù, phục hận.

2)  Tôi chưa đọc cuốn sách "HCM, Nhận định tổng hợp" của Minh Vơ nhưng đă "thử" đọc mấy bài viết của Minh Vơ trên DCV Online, và chưa lần nào "tiêu hóa" nổi trọn vẹn một bài của Minh Vơ. Không thể "tiêu hóa" nổi v́ giọng văn của Minh Vơ đầy hằn học và hận thù; người đọc (ngay cả lớp trẻ) có thể dễ dàng nhận thấy đó là giọng văn của một loser. Không thể "tiêu hóa" nổi v́ những phân tích và nhận định của Minh Vơ chẳng dựa trên phương pháp luận khoa học và những tài liệu lịch sử nào. C̣n những bài viết của HCM để tuyên truyền, kêu gọi người dân đứng lên giành độc lập cho đất nước là những nghệ thuật vĩ đại; nó sánh như Nguyễn Trăi khi bôi mỡ vào lá cây cho kiến ăn để tạo ra ḍng chữ "Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trăi làm tôi", hoặc là truyền thuyết về anh em vua Quang Trung thuần phục được ngựa thần trên núi.

Sách của Minh vơ là tiểu thuyết để giải trí ư? Không đáng; là sách lịch sử ư? Không phải. Có thư viện nào người ta mua và lưu trữ sách của Minh Vơ không? Không có. Cái ông Lương Thiện ǵ đó chẳng lương thiện tí nào đang quảng cáo sách cho Minh Vơ đó; và cũng nhân cái diễn đàn này ông ta gài thêm mấy khẩu hiệu chống cộng cũ rích - cũng là giọng hằn học của một loser.

3)  Anh Lương Thiện và Minh Vơ đă lấy cái định kiến ác ư cuả chính ḿnh, hội đoàn ḿnh để chủ trương bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh- Một nhân vật vĩ đại, kiệt xuất số một; Vô tiền, khoáng hậu trong lịch sử VN và nhân loại. Đó là những lời vu khống; Lập lờ đánh lận con đen; Câu chữ cắt xén, biạ đặt một cách có chủ ư, có kế hoạch ḥng làm lu mờ thần tượng vĩ đại của dân tộc ta.

Những người có thiện ư, thiện tâm... Thường có con mắt bao dung, độ lượng, nh́n vào mặt sáng, khai thác mặt sáng - Mặt tích cực. Công đức và thành tựu mà các vị giáo chủ hay vĩ nhân đó đă làm được cho dân, cho nước và nhân loại. C̣n kẻ tiểu nhân đă mang sẵn định kiến hận thù th́ sẽ làm ngược lại. Họ cũng biện chứng, dẫn chứng, có lang, có lớp như ai..  Nhưng đó chỉ là cách ngụy biện rẻ tiền. Chỉ cần chú ư đôi chút là ta sẽ nh́n rơ chân tướng chúng. 

4)  Rêu rao là người hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa cộng sản nhưng kiến thức của Minh Vơ về vấn đề này chỉ là một con số không to tướng. 1) MV đă sai lầm hoàn toàn khi đồng hoá Marx với Đệ tam Quốc tế của Lenin. Học thuyết Marx là sản phẩm của xă hội tư bản phương Tây thế kỷ 19 trong khi đó ĐTQT là phản ứng của những nước ngoại vi với các nước giàu đă trở thành thực dân, đế quốc. 2) MV chỉ biết Marx qua Tuyên ngôn cộng sản 1848, không đếm xỉa ǵ đến những tác phẩm khác của Marx. Ngay cả với Tuyên ngôn này, MV cũng chỉ bám vào những từ ngữ tách rời khỏi hệ thống lư luận mà Marx đă mang ư nghĩa cho chúng (tư hữu, vô sản, quốc tế vô sản, chuyên chính…). 3) MV không hiểu biết ǵ về những mâu thuẫn thực tế của lịch sử hiện đại – giữa các quốc gia (giàu/giàu, giàu/nghèo, thực dân/bị trị, phát triển/chậm tiến…) , giữa các ư thức hệ (chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, cộng sản, phát xít…) do đó đă trút tất cả vào mâu thuẫn cộng sản/ chống cộng sản một cách máy móc. 3) Riêng với những nước bị thực dân thống trị vấn đề cướp nước và chống cướp nước đă bị MV đầy lùi về phía sau một cách cố ư rồi mượn luận điệu của thực dân đồng hoá cộng sản với khủng bố, nổi loạn để biện hộ cho tội cướp nước của chúng. Bị cộng sản kết cho cái tội “Việt gian” không có ǵ là oan cả.

5)  Phương pháp gọi là “nghiên cứu” của MV cũng hoàn toàn phản khoa học. Ông ta không t́m hiểu thực tế và những phát sinh và chuyển động của nó để rút ra kết luận mà ngược lại: gán cho cộng sản một số thuộc tính chết cứng rồi từ đó kết án tất cả những biểu hiện khác nhau trong thời gian của phong trào cộng sản (bất chấp những nội dung khác nhau, mâu thuẫn trong phong trào ấy). Trong tranh luận, nghiên cứu người ta gọi phương pháp ấy là procès d’intention, không cần t́m hiểu, phân tích xem sự thực như thế nào mà chỉ cần quy kết theo thiên kiến của ḿnh là đủ. Ai cũng biết đó là phương pháp suy luận của những đàn bà hay ghen (nh́n đâu cũng thấy những kẻ cướp chồng minh), những kẻ bị bệnh tâm thần ( nh́n đâu cũng thấy kẻ hại ḿnh). Chẳng có ǵ khoa học, học thuật ở đây cả. Lư luận của MV rất phù hợp với cộng đồng những người có thâm thù với cộng sản: họ không c̣n đủ sáng suốt để nh́n ra đúng sai trong chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa cộng sản có rất nhiều cái sai) như một hiện tượng lịch sử, từ lư thuyết đến thực hành, cũng không đủ lư trí để nh́n ra ngay cả những đúng sai trong bản thân những thất bại nhục nhă, đau đớn của họ nữa. Đối với những con người như vậy, họ chỉ cần đổ lỗi để biện minh, chỉ cần bôi bác, nguyền rủa để trả hận là đủ. Thứ lư luận của MV chỉ có thể lừa được những tên chống cộng ngu dốt thôi.

6)  Thực ra th́ "Nhận định tổng hợp ", hay không tổng hợp th́ người ta cũng biết rơ: Hằn học, chửi rủa thoá mạ một nhân vật lịch sử của VN như cố chủ tịch HCM là những người như thế nào ! Có rất nhiều gương mặt khác nhau dưới đủ mọi chiêu bài. Rất may, qua đó người ta càng hiểu hơn thế nào là tính chân xác của lịch sử. Sẽ chẳng có người VN tỉnh táo nào lại lên án Vua Lê Lợi, khi chỉ v́ quyền lợi quốc gia mà đem vợ ḿnh cúng sống thần biển. ( bây giờ việc làm đó là thất đức và nặng mùi mê tín )  Nhưng mỗi người dân VN, đều công nhận Lê Lợi, đó là một vị Vua có công đánh đuổi ngoại xâm, lập nên nhà Lê dài hơn 300 năm. Chắc chắn, thời buổi của ông không có máy tính, để bị lên án và vạch trần nhiều thủ đoạ, mà tất cả v́ đất nước v.v.  Trong công cuộc xây dựng, mở nước, và giữ nước, chưa có ông Vua VN nào chuyên viết thỉnh nguyện thư gởi cho kẻ thù, để mong được kẻ thù thương mà trả nước.  Tất cả các chiến công lẫy lừng như Bạch Đằng giang dậy sóng, hay trận Chi lăng ghi sử sách, chẳng viết bằng máu của dân VN đó sao? Chẳng lẽ trận Rạch gầm, Xoài mút được viết bằng máu của người Miên hay Lào ? Đó là máu của người VN đă đổ cho đất nước hôm nay.  Dù muốn nói ǵ và nói sao chăng nữa th́ lịch sử đă chứng minh: Pháp đô hộ Việt nam, Mỹ muốn cứu đồng minh và Người Nhật đă làm cho hai triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta chết đói. Biết đâu trong chúng ta, có những người là con cháu của những người may mắn nhờ có Việt minh phá kho thóc của Nhật.

7)  Dù nói ǵ đi chăng nữa, th́ một dân tộc với mă tấu răng đen như các anh vẫn gọi, thế mà trong một thế kỷ đánh gục đầu ba nước to lớn. Thử hỏi trong lịch sử từ cổ chí kim của nhân loại hỏi ai đă làm được như thế ? Người làm được chuyện đó ngoài HCM th́ c̣n có ai ?  Chẳng lẽ Ngô chí sỹ chăng hay Cựu hoàng Bảo đại ? Tui biết trong thân tâm cũa người ngoại quốc, nhất là với người Mỹ, người Pháp và nhiều người dân thuộc các nước nhược tiểu khác, trong con mắt của họ: HCM là nhà tổ chức kỳ tài! Nếu không đủ đức đủ tài, mà như tui và các anh chẳng hạn, th́ làm sao làm được những việc kinh thiên động địa trên. Như chính chủ tịch HCM, công nhận hễ là con người th́ ai cũng có khuyết điểm, trên con đường kiến tạo đất nước và giữ nước, Đảng CS VN  không khỏi tránh những sai lầm..  Nhưng dù sai lầm đến như thế nào th́ cái chính là nền độc lập tự chủ của VN đă được tạo dựng. C̣n xây dựng nó như thế nào th́ VN đang dần bước lên những nấc thang mà tiền nhân vẫn mong đợi là xây dựng đất nước bằng mười bằng trăm thế kỷ 20 ? Bạn có mơ và tin điều đó không ? Tui rất tin điều đó, bởi đó là bước đi tất yếu mà chẳng có ai ngăn được bước đi lên của dân tộc VN chúng ta.! V́ vậy Hồ chí Minh luôn là ngọn cờ soi dọi mỗi bước ta đi lên phiá trước !

8)   Họ chụp mũ chúng ta là CS, chúng ta chỉ cười thầm v́ bạn bè lớn nhỏ của chúng ta cũng đang sinh hoạt trên diễn đàn này, và tất nhiên bạn bè của chúng ta biết chúng ta hơn ai hết. Họ chửi chúng ta là tay sai, nhưng họ không có thể đem ra một bằng chứng nào cả. Chúng ta, v́ t́nh người, đề nghị họ đọc một số sách vỡ ḷng để họ c̣n biết tôn giáo họ như thế nào, nhưng họ không dám đọc v́ sợ "bức xúc" trong ḷng. Thế th́ c̣n căn bản nào để nói cho nhau nghe? Thế th́ c̣n căn bản nào để trở lại một con người chân chánh? Tôi coi ông Karl Marx là một triết gia như bao nhiêu triết gia khác, nhưng họ không chịu ông Karl Marx là một triết gia, mà xem ông Karl Marx là một ông "kẹ" hạng nhất trên đời này. Triết lư của Karl Marx được dạy khấp nơi trên thế giới ngay cả bật trung học, nhưng họ quả quyết rằng chỉ có những quốc gia CS mới dạy triết lư của Karl Marx!  Rất buồn, là cùng một giống người, nhưng mà hể có "thánh đạo" th́ hung hăn như một con chó, chỉ biết ăn rồi sủa chứ chẳng biết lư luận ǵ cả, c̣n người không có "thánh đạo" th́ hiền từ.

9)  Theo ông Minh Vơ th́ cản trở cho công cuộc vận động dân chủ tại VN là do dân chúng vẫn c̣n hiểu sai về Hồ Chí Minh cho nên cần phải đánh đổ thần tượng Hồ mà bấy lâu nay đảng cọng sản xây dựng nên.  Đây là một công việc vô bổ v́ chẳng làm cho uy tín của ông Hồ suy giảm đối với người dân hai miền Nam Bắc. Gần một triệu người miền Bắc mà đa số là công giáo di cư, sai lầm của cải cách ruộng đất, vụ nhân văn giai phẩm, tết Mậu thân vẫn không ngăn cản được Việt cọng thực hiện được thống nhất đất nước. Chắc chắn rằng khi quân Mỹ đem một đội quân đông tới hơn 500000 người, chưa kể thêm những đội quân đồng minh th́ những người như ông Minh Vơ lúc ấy ở Sài g̣n đều nghĩ rằng họ sẽ chiến thắng . Vậy th́ sức mạnh của Viêt cọng là ở chỗ nào nếu không nói là ḷng dân.  Họ tin tưởng ông Hồ v́ đơn giản ông Hồ và người dân có cùng chung một mục tiêu là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Chẳng có bao nhiêu bộ đội đọc nhiều sách như ông Minh Vơ để hiểu về lư thuyết này lịch sử nọ. Họ cũng chẳng chiến đấu v́ một thần tượng, lư do là năm 1969 ông Hồ mất, Việt cọng vẫn tiếp tục sự nghiệp của dân tộc.  V́ vậy phân tích nguyên nhân không phát triển của t́nh h́nh hiện là do VN c̣n tín nhiệm ông Hồ.  Điều này không đúng. Cần phải nhận định cho đúng đâu là nguyện vọng của người dân hiện tại để có khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, nếu không chỉ là Dă Tràng se cát... 

10)  Tôi, TCN, không c̣n trẻ, nhưng tôi rất mừng v́ có những bạn trẻ đă đưa ra những nhận định chính xác và sáng suốt, dựa trên những sự kiện lịch sử chứ không dựa trên cảm tính phe phái.  Đây là một niềm hi vọng cho đất nước Việt Nam.  Để kết luận, tôi xin trích dẫn hai tài liệu.  Trước hết là đoạn kết trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, trang 189-190:

Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này.  Không vị kỷ, can đảm, hiến thân cho nền độc lập của Việt Nam bằng mọi giá, ông ta đă vật nước Pháp phải khụyu đầu gối và chiến đấu chống Hoa Kỳ, một thế lực mạnh nhất thế giới, đưa đến một thế bí quân sự.

Sự cương quyết về một mục đích đă làm thay đổi gịng lịch sử, làm phân rẽ dư luận quần chúng ở Hoa Kỳ, bắt buộc một Tổng Thống Mỹ phải rút lui không tái cử cho nhiệm kỳ hai, khiến cho hàng triệu giới trẻ trên khắp thế giới kính ngưỡng ông ta ủng hộ cách mạng và xuống đường biểu t́nh ủng hộ ông ta, hô “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”

Sự pha trộn duy nhất chủ nghĩa Mác-xít với chủ nghĩa gia trưởng, và chủ nghĩa quốc gia cao độ của ông Hồ đă thành công vĩ đại trong việc gây cảm hứng cho dân ông chịu đựng những sự hi sinh to lớn.  Họ cũng c̣n kính yêu “Bác Hồ” v́ nhân cách khiêm nhường và những cách cư xử từ ái của ông.  Ông Hồ là sự thất vọng của những kẻ thù – Pháp, chế độ Sài g̣n, và Mỹ - v́ họ không thể nào làm cho người ta thù hận được ông.  Ông ta được sự kính yêu của người trong Nam cũng như của những người ở ngoài Bắc.

Một trong những thành quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đă đạt thành một “Cộng sản quốc gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa Đỏ và Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được sự giúp đỡ mà nước ông cần đến.  Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là một nước chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hănh diện, cương quyết trên sự thiết lập cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam

Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và ḥa b́nh sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đă từng yêu kính và đứng sau lưng ông coi như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ - người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

 (Communist or not, Ho Chi Minh will probably go down in history as a great Vietnamese patriot who was one of the extraordinary world figures of this century.  Selfless, courageous, dedicated to Vietnamese independence at all costs, he wrestled France to her knees and fought the United States, the world’s mightiest power, to a military stalemate.

   His single mind resolution changed the course of history, polarized public opinion in the United States, forced an American President to withdraw from seeking a second term, and radicalized millions of admiring youth around the world who demonstrated in his support chanting, “Ho, Ho, Ho Chi Minh”.

   Ho’s unique mixture of Marxism, paternalism, and intense nationalism was enormously successful in inspiring tremendous sacrifice among his people.  They also loved “Bac Ho” (Uncle Ho) for his winning personal modesty and gentle ways.  Ho was the despair of all his enemies – the French, the Saigon regime, the Americans – because they were unable to muster hatred of him.  He was held in as much affection in South Vietnam as among the people he led in the North.

   Not the least of his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get the help his country needed.  When he died, North Vietnam was no satellite but a proud, independent country, determined on nationhood for all Vietnamese… 

When the books of his life are balanced, and peace is finally restored to the tragic land of Vietnam, Ho Chi Minh will always be known to the peasants who loved and followed him as the greatest Vietnamese in their history – the revere uncle of his country.)  

Thứ đến là nhận định của một cựu quân nhân Mỹ, ông David Thomas, giáo sư nghệ thuật, đại học Boston, người đă tổ chức một cuộc triển lăm tranh ảnh Hồ Chí Minh ở Oakland, California, và đă bị một số người Việt Quốc Gia đến ḥ hét chống đối, văng tục và hành hung.  Trước cuộc triển lăm, ông Thomas đă tổ chức một cuộc thảo luận với một số người Việt Nam.  Ông phàn nàn: “Họ không cho tôi nói, văng tục, chửi hết câu này đến câu khác” (They kept hurling insult after insult. I didn’t get a chance to speak.)  Nhưng ông ta cương quyết không nhượng bộ (But he stands behind his work unflinchingly).  Ư định của ông tổ chức cuộc triển lăm là để cho quần chúng t́m hiểu về “con người đă làm thay đổi bộ mặt lịch sử thế giới.” (I want viewers to question, investigate this man who changed world history).  Về ông Hồ Chí Minh, Thomas nói:

 “Tôi kính trọng tính chính trực của ông ta.  Có vẻ như là ông ta chỉ có một nhiệm vụ trong đời, và đó là giải phóng Việt Nam ra khỏi người Pháp, và ông ta đă thành công.  Hăy suy nghĩ về điều đó, một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam đă đánh bại một nước như nước Pháp và quay lại đánh bại chúng ta.  Điều này chưa từng có trong lịch sử.  Và tôi kinh ngạc bởi điều đó.  Chúng ta phải ngưỡng mộ con người đă làm được như vậy.  (I respect his integrity,” Thomas adds. “He seemed to have one mission in his life, and that is to free Vietnam of the French, and he did it. Think about it, a little country like Vietnam beat a country like France and turned around and beat us. That has never been done in history. And I’m awed by that. You have to admire a man that did that.)

Hẳn nhiên Thomas đă nh́n sự việc trên b́nh diện to lớn của lịch sử hơn là những chuyện lặt vặt như ông Hồ có mấy vợ, hút bao nhiêu điếu thuốc lá một ngày, hay đă làm đơn xin học trường thuộc địa [Muốn học ở Pháp khi đó không xin học ở trường thuộc địa th́ xin học ở trường nào, trường Nhà Ḍng chăng.  Nhưng có ai đọc kỹ câu này không: “Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”. Vậy rơ ràng mục đích của ông Hồ là muốn tăng thêm học vấn để phục vụ đồng bào.  Pháp dùng chính sách ngu dân để cai trị, nhưng ông Hồ lại muốn “trở thành hữu ích cho  Pháp” với mục đích dùng kiến thức của ḿnh phục vụ đồng bào. Đọc về ông Hồ, chúng ta ta thấy rơ đó là mục đích chính của ông.  Nên nhớ, khi vừa nắm được chính quyền, Việt Minh đă phát động phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ khắp nước. Vậy mà người ta lại thường viện vào cái đơn xin học này để chứng tỏ ông Hồ không phải là người yêu nước...] 

Vài lời kết

Tôi chưa từng có cơ hội đọc cuốn sách của Trần Dân Tiên, chỉ biết đến tên cuốn sách này qua bài ông Minh Vơ đọc Trần Dân Tiên và viết trên Đàn Chim Việt:  “Năm 1976, Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam công bố Trần Dân Tiên không phải người nào khác mà chỉ là bút hiệu của Hồ Chí Minh.”   Ông Minh Vơ cho rằng các tác giả viết về ông Hồ Chí Minh trong khoảng 1948-1975 đều bị lừa bịp bởi cuốn sách của Trần Dân Tiên về ông Hồ, và kể ra vài tác giả quen thuộc: Bernard Fall, Jean Lacouture, David Halberstam.  Nhưng đọc mấy tác giả này, Bernard Fall: “Street Without Joy” (1964), “The Two Viet-Nams” (1967); Jean LaCouture: “Cinq Hommes Contre La France” (1961); Halberstam: “The Making Of A Quagmire” (1965) chúng ta thấy họ không hề nêu ra nguồn tài liệu nào về Ông Hồ là lấy từ cuốn sách của Trần Dân Tiên trong danh sách những tư liệu tham khảo.  Và ngay cả trong hàng trăm cuốn sách trong đó có viết về ông Hồ sau năm 1975 cũng không có cuốn nào dùng tài liệu của Trần Dân Tiên. 

   Đúng như một bạn trẻ đă nhận định ở trên: “Thứ lư luận của Minh Vơ chỉ có thể lừa được những tên chống cộng ngu dốt thôi” chúng ta hăy điểm qua vài “lư luận” của ông Minh Vơ:  

1) Nếu người dân có tôn sùng và gọi Hồ Chí Minh là Cha già dân tộc th́ đó chỉ là kết quả của một nỗ lực dắt dẫn, uốn nắn thậm chí cưỡng bách nhiều năm.

Thật vậy sao?  Cưỡng bách tôn sùng?  Điều này chỉ có thể thấy trong lịch sử Công Giáo qua những Ṭa H́nh Án Xử Dị Giáo(Inquisition) và lịch sử truyền đạo qua chính sách thực dân.  Nếu là cưỡng bách th́ làm sao người dân có thể chiến thắng một cường quốc như Pháp rồi về sau lại đánh bại một cường quốc vào bậc nhất thế giới như Mỹ.  France Fitzgerald đă viết:  “Một bài học mà hầu như bất cứ vị lănh đạo quốc gia nào cũng có thể học được từ ông Hồ Chí Minh: đó là, nếu đi vào một cuộc chiến lâu dài th́ phải có sự ủng hộ của người dân.  Sự ủng hộ này quan trọng hơn vũ khí, v́ nếu người dân tin vào chính nghĩa của họ, họ có thể chấp nhận những sự hi sinh phi thường.  Nếu họ không tin, mọi vũ khí trở thành vô ích.”  [Vietnam Reconsidered:  Lessons From A War, p. 302:  There’s a lesson that almost any leader in any country might learn from Ho Chi Minh, and that is, if you embark on a war of any duration, you must have the support of your people.  This support is more important than weapons, for if people believe their cause is just, they are capable of extraordinary sacrifices.  If they do not, all your weapons are useless.].  Fitzgerald đă viết không sai.  Nếu không tin tưởng vào chính nghĩa, người dân Việt Nam không thể chịu bao hi sinh để thắng nổi những thế lực quân sự có  ưu thế tuyệt đối về quân sự như Pháp và Mỹ trong hai cuộc chiến ở Đông Dương. Ai đă mang lại chính nghĩa đó, nếu không phải là ông Hồ. 

2)  Minh Vơ viết:  “6 năm sau cái thời điểm mà Hồ Chí Minh tự diễn tả ḿnh được toàn dân coi là Cha già dân tộc, thực tế đă nói lên một cách cụ thể thái độ của người dân đối với Hồ Chí Minh bằng sự trạng hơn một triệu người bỏ xóm làng, sản nghiệp ra đi, khi miền Bắc đặt dưới sự lănh đạo của Hồ Chí Minh.” 

Chẳng có ai, xin lỗi độc giả, viết bậy như Minh Vơ.  Minh Vơ có biết là thành phần, không phải là hơn một triệu, mà là gần một triệu, của số người di cư từ Bắc vào Nam là như thế nào không.  Hăy đọc Bernard Fall trong “The Two Viet-nams”, trang 154:

“Trong số 860000 người chạy vào Nam, 600000 người là tín đồ Công Giáo.  Tuy 65% trên tổng số người Công giáo (ở ngoài Bắc) bỏ Bắc Việt Nam, hơn 99.5 % những người không Công Giáo ở lại.”

(Of the 860000 who fled South at this time, 600000 were Catholics.  Although 65 percent of the total Catholic population left North Viet-Nam, more than 99.5 percent of the non-Catholics stayed put.)

Tại sao tỷ lệ những người Công Giáo chạy vào Nam lại cao như vậy?  Fall giải thích:

“Những khẩu hiệu và truyền đơn tuyên truyền kêu gọi những tín đồ Công Giáo sùng tín là “Chúa đă đi vào Nam” và “Đức Mẹ Mary đă bỏ miền Bắc”; cho nên, toàn thể các xứ đạo – thí dụ như Bùi Chu và Phát Diệm – từ những ông giám mục cho đến hầu như ông linh mục cuối cùng trong làng và giáo dân đă gói ghém mọi đồ đạc [để đi theo Chúa và Đức Mẹ]”

(Propaganda slogans and leaflets appealed to the devout Catholics with such themes as “Christ has gone to the South” and the Virgin Mary has departed from the North”; and whole bishoprics – Bui Chu and Phat Diem, for example, packed up lock, stock, and barrel, from the bishops to almost the last village priest and faithful.)

Chúng ta cũng không nên quên rằng Bùi Chu, Phát Diệm là những khu “Công giáo tự trị”, đă nhận lănh vũ khí của Pháp để chống Việt Minh.  Vậy chính cái mặc cảm phản bội dân tộc cộng với tŕnh độ quá thấp đến độ bị mấy tên xảo quyệt như Lansdale và “bề trên” tuyên truyền láo: “Chúa đă đi vào Nam” và “Đức Mẹ Mary đă bỏ miền Bắc”,  một sự sự mê tín mà Linh Mục Trần Tam Tĩnh phải lắc đầu kêu trời trong cuốn “Thập Giá và Lưỡi Gươm” đă khiến cho số người Công Giáo trên di cư vào Nam.  Phần c̣n lại là công chức, quân nhân trong quân đội liên hiệp Pháp.  C̣n tỷ lệ những người dân thường không đáng kể.  Ông Minh Vơ dốt sử nên không hiểu rằng cuộc di cư của số người Công Giáo này thực ra là có lợi cho chính quyền miền Bắc: có thêm ruộng đất để chia cho nông dân nghèo, và đỡ đi phần nào của mối lo về một số người thuộc một thế lực “đă phi dân tộc th́ thể nào cũng phản bội dân tộc.” ở lại miền Bắc.  

Viết bài này, tôi không có ư biện hộ hay bênh vực ông Hồ Chí Minh trước cuộc “thánh chiến chống Cộng” ở hải ngoại, mà chỉ viết theo sự hiểu biết của ḿnh qua sự tổng hợp một số tài liệu.  Lịch sử đă rơ ràng, không ai cần đến tôi làm việc này.  Nhưng thấy tŕnh độ và những thủ đoạn hạ bệ ông Hồ Minh Vơ cũng như của một số đồng bọn ở đây thấp kém và ấu trĩ quá, mà lại cứ thích viết bậy, có những hành động làm nhục lây cả những người Quốc Gia như tôi, nên tôi buộc ḷng phải viết lên vài điều để cảnh tỉnh những người muốn dùng những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử cho những mục đích chính trị của ḿnh.  Viết về ông Hồ, chúng ta không thể chỉ kể ra những chi tiết lặt vặt trong đời tư của ông mà phải nh́n vấn đề trên b́nh diện rộng hơn.  Ít nhất là phải phân tích những hoạt động của ông ở ngoại quốc trước khi ông biết đến chủ thuyết Mác-Lênin, ở Hội Nghị Ḥa B́nh Versailles, ở các Hội Nghị Quốc Tế, phải đọc những bài ông Hồ Chí Minh, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, viết trên những tờ L’Humanité, La Vie Ouvrière, Le Paria v..v.., nội dung ra sao, ông đă thành lập và tổ chức Việt Minh từ bao giờ, để làm ǵ, đă có những hoạt động chống Nhật và Pháp như thế nào,  và sau cùng, đường lối chính trị của ông sau 1945  cho đến khi ông qua đời v..v.. th́ mới có thể đánh giá đúng ông Hồ được.

Vài lời cuối với ông Minh Vơ và những người có ư định phá bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh” như ông Minh Vơ:  Cái di sản mà ông Hồ Chí Minh để lại cho người dân Việt Nam là một nước Việt Nam độc lập và thống nhất.  Lẽ dĩ nhiên đây không phải là công của ḿnh ông Hồ mà là của toàn dân, ít ra là của đại đa số người Việt đă coi ông Hồ như là biểu tượng truyền thống yêu nước của người Việt Nam, do đó đă không ngại mọi hi sinh để đạt thành.  Nhưng quan trọng hơn là thế giới đă biết nhiều hơn về Việt Nam và không c̣n dám coi thường Việt Nam tuy Việt Nam vẫn c̣n là một nước tương đối nghèo và kém phát triển.  Xin đừng có coi thường độc giả.  Đừng có hi vọng họ tin tất cả những điều ḿnh viết. Ngay cả giới trẻ ngày nay cũng sáng suốt lắm.  Họ không để cho bị bịp bởi những luận điệu vô căn cứ, thuần túy viết theo thiên kiến và cảm tính đâu.  Dù thế nào đi chăng nữa th́ đối với thế giới và đại đa số người dân Việt Nam, đúng như Jules Archer đă viết:

 “Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và ḥa b́nh sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đă từng yêu kính và đứng sau lưng ông, coi ông như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ - người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

 “Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này.”

 

Trần Chung Ngọc (giaodiemonline.com)

NDVN, ngày 07/12/06



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend