NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Nước Mỹ Và Vấn Nạn Nhân Quyền


Flag of Vietnam.svg 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CACờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris: Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước

chống Pháp để tra khảo....

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

***********

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Tony Blair picture 1811810

Lê Hồng Phong

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 – tr 7 LTBĐMT)

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

Các nạn nhân da cam/đi-ô-xin Việt Nam sẽ không chùn bước đ̣i lại công lư cho chính ḿnh. Ảnh: VietNamNet

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng

Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. Tuy nhiên, “tâm t́nh với ḷng thành”-những lời tâm sự của viên đại tướng quân đội Sài G̣n từng giữ trọng trách Tổng tham mưu trưởng lâu nhất đă thú nhận quân đội Sài G̣n là quân đội tay sai của Mỹ...đọc tiếp

 

* "BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?

Bush and Blair, cartoon
Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:
* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ

 

Tony Blair picture 1811810

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?

user posted image

5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

user posted image

* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công AfghanistanNhững ư kiến “trái chiều” này thực ra chỉ làm phong phú thêm các thông tin về sự kiện đau ḷng xảy ra cách đây 8 năm về trước…

 

***********

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

*THƯ MỤC: NHÂN DÂN VIỆT NAM 2009

*THƯ MỤC NHÂN DÂN VIỆT NAM.2006-2007

 

 

Nước Mỹ Và Vấn Nạn Nhân Quyền

 

 

Bây giờ chúng ta hăy điểm qua bộ mặt nhân quyền của Mỹ trên thế giới. Khoan kể đến những bản hồ sơ chi tiết về nhân quyền của Mỹ mà Trung Quốc tung ra hàng năm để phản ứng việc Bộ Ngoại Giao Mỹ để Trung Quốc vào trong bản Phúc Tŕnh hàng năm về nhân quyền của các nước, chúng ta hăy duyệt qua một số nhận định của những trí thức Tây phương, phần lớn là Mỹ, về bộ mặt nhân quyền của Mỹ .

* NƯỚC MỸ - NHÂN QUYỀN – VIỆT NAM

Lời Nói Đầu: Bài viết này này là kết quả nghiên cứu, lẽ dĩ nhiên không đầy đủ v́ không thể nào đầy đủ, về nước Mỹ, xin hiểu là chính sách của chính quyền Mỹ chứ không phải là người dân Mỹ, liên quan đến vấn nạn nhân quyền và vài khía cạnh của cuộc chiến tranh Việt Nam, sau một thời gian dài suy nghĩ, đắn đo. Đắn đo suy nghĩ v́ nhiều lư do. Là một người tỵ nạn được nước Mỹ bao dung mà viết lên những sự thật về nước Mỹ mà đa số người dân Mỹ cũng như người Việt di cư ít biết đến, hay không muốn biết đến, chắc chắn sẽ bị một số người đồng cảnh ngộ di cư cho là vô ơn. Những người này không ở trong lănh vực nghiên cứu, học thuật trí thức, trong đó sự lương thiện trí thức phải đặt lên hàng đầu. Lịch sử không thiên vị, “History doesn’t take side”, người Mỹ thường nói.

Sau cuộc chiến, nhiều trí thức Mỹ đă để tâm nghiên cứu về mọi khía cạnh của cuộc chiến, và không ít các cựu quân nhân Mỹ, từ các tướng lănh cho đến những quân nhân thường, đă viết lại những nhận xét và kinh nghiệm của họ trong cuộc chiến. Ngày nay chúng ta có rất nhiều tài liệu thuộc loại như vậy, khoan kể đến những hồ sơ của chính quyền Mỹ đă được giải mật. Đọc một số trí thức Mỹ viết về nước Mỹ chúng ta thấy rơ sự lương thiện trí thức của họ trong lănh vực học thuật. Có những sự kiện về bộ mặt nhân quyền của Mỹ và về cuộc chiến ở Việt Nam mà chỉ có những người quan tâm nghiên cứu, không bị chi phối bởi thiên kiến hay cảm tính bè phái, nghiên cứu qua phương pháp khoa học, tổng hợp và phân tích các tài liệu, mới có thể đi đến những nhận thức tương đối không xa với sự thật là bao nhiêu

Mỹ, với bản chất đế quốc thấm nhuần văn hóa trịch thượng, bạo tàn của Ki Tô Giáo và với tâm cảnh “cowboy shooting Indians”, chưa bao giờ tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới, khoan kể đến tinh thần kỳ thị, coi các dân tộc khác đều là thấp kém. Và Mỹ, với những tội ác chiến tranh trên thế giới, đă vi phạm nhân quyền đến độ Noam Chomsky phải viết:

 

“Nếu những luật của Nuremberg (ṭa án xử tội phạm chiến tranh trong Đệ Nhị Thế Chiến) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” [16]

 

Vậy có lẽ chúng ta cũng nên biết qua về vài điều trích từ Nguyên Tắc VI trong 7 điều khoản của những luật của Nuremberg:

 

Những tội ác sau đây có thể bị trừng phạt như là tội ác theo luật quốc tế:

 

a. Tội ác chống ḥa b́nh:

 

i. Đặt kế hoạch, sửa soạn, khởi sự hoặc tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lăng hay một cuộc chiến tranh vi phạm các hiệp ước, thỏa thuận, bảo đảm quốc tế.

ii. Can dự vào một kế hoạch chung hay âm mưu để hoàn thành bất cứ hành động nào ghi trong mục (i) [17]

 

b. Tội ác chiến tranh:

Vi phạm những luật hay quy tắc chiến tranh gồm có, nhưng không chỉ giới hạn như giết người, giết hay đối xử tồi tệ những tù nhân chiến tranh, giết những người bị bắt cóc, ăn cướp của công hay của tư, cố t́nh phá hủy thị trấn, thành phố, làng mạc, hay những sự tàn phá triệt hạ không thể biện minh cho sự cần thiết quân sự. [18]

 

Mỹ tự nhận là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo về nhân quyền, nhưng thực ra bộ mặt nhân quyền của Mỹ là một bộ mặt lem luốc nhất thế giới. Trong cuộc chiến ở Việt Nam, Mỹ đă vi phạm tất cả các điều khoản trong hai mục trên: “Tội Ác Chống Ḥa B́nh” và “Tội Ác Chiến Tranh” như tôi sẽ tŕnh bày trong một phần sau. Trước hết chúng ta hăy đọc vài tài liệu sau đây:

 

Năm 1986, Mỹ là quốc gia duy nhất đă bị Ṭa Án Quốc tế (World Court) kết án là khủng bố quốc tế - dùng vơ lực bất hợp pháp, cho những mục tiêu chính trị (Introducing Noam Chomsky, Ibid. p. 84: In 1986, the U.S. was the only country comdemned by the World Court for international terrorism – for “unlawful use of force” for political ends) và Mỹ đă phủ quyết một nghị quyết của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc kêu gọi mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Cường quyền đă thắng công lư. Tại sao Mỹ không dám công nhận quyền của Ṭa Án Quốc Tế Le Hague? V́ nếu công nhận th́ Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên bị đưa ra Ṭa Án Quốc tế về những tội ác chiến tranh (war crimes) trong đó có những tội ác ở Việt Nam.

 

Uỷ Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, trong cuộc họp khai mạc cuối tháng 3, 1999, Tổng Thư Kư Hội Ân Xá Quốc Tế, Pierre Sane, thay v́ thường tố cáo Trung Quốc, đă tố cáo Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền một cách đại quy mô đối với các dân thiểu số ngay trong nước Mỹ (As the UN Human Rights Commission opened its annual session Monday, Amnesty International departed from its traditional criticism of China and instead denounced the US: "Human Rights violations in the US of America are persistent, widespread and appear to disproportionately affect people of racial or ethnic minority backgrounds," said Amnesty's secretary general, Pierre Sane.), và khuyến cáo Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc hăy chú ư đến những vi phạm nhân quyền ở Sudan, Turkey, Algeria, Cambodia, Rwanda, Burundi, và Congo (Không có Việt Nam trong danh sách này).

 

Vince Hayner viết về “Những Vi Phạm Của Hoa Kỳ” (US Violations) như sau:

 

“Sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một bất ngờ cần được hoan nghênh. Trong khi các chính trị gia, kư giả và dân thường hỏi tại sao, câu trả lời ở ngay trước mắt chúng ta.

 

Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền. Ngoài chuyện hàng ngày áp bức chính dân của ḿnh, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền ở các nơi như Vieques (Porto Rico) bằng Hải Quân Hoa Kỳ, và ở quanh thế giới trong những xí nghiệp bóc lột nhân công tàn tệ (sweatshops) cho những xí nghiệp Hoa Kỳ, và điều có lẽ đáng lo ngại nhất là, giết hại hơn 1 triệu dân Iraq trong chiêu bài trừng phạt, đó là chỉ kể vài sự kiện.

 

Hi vọng rằng sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một dấu hiệu mà các thành viên khác của LHQ sẽ không dung dưỡng cho những hành động không hề thay đổi, đơn phương tấn công nhân quyền của Hoa Kỳ.” [19]

 

Tuy nhiên, dù sao Mỹ cũng là quốc gia có thể nói là tôn trọng quyền của người dân vào bậc nhất. Cũng v́ vậy mà tôi mới có thể viết lên bài này. Nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng, người dân đây chỉ là dân Mỹ sống trên đất Mỹ. Vấn đề ở đây không phải là Mỹ tôn trọng quyền của người dân Mỹ trên đất Mỹ, mà là trên b́nh diện quốc tế, Mỹ có tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới hay không? Những sự kiện trong lịch sử Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v. đă chứng tỏ, đúng như Vince Hyaner đă viết ở trên: Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền.

 

Riêng về Việt Nam th́ sự vi phạm nhân quyền của Mỹ khủng khiếp đến độ không có cách nào kể hết. Sự vi phạm thứ nhất là Mỹ đă dùng cường quyền thắng công lư, can thiệp vào Việt Nam bất kể luật quốc tế và những điều khoản trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Nói thẳng ra là Mỹ đă xâm lăng Việt Nam, gây nên cuộc chiến hậu Geneva ở Việt Nam. Sự vi phạm thứ hai là trong cuộc chiến Mỹ đă có những hành động vô cùng man rợ, và tàn bạo ở Việt Nam. Nếu chúng ta để tâm nghiên cứu lịch sử, từ sự thành lập nước Mỹ bởi những người thanh giáo di dân sang từ Âu Châu cho đến văn hóa, tôn giáo của Mỹ th́ chúng ta sẽ hiểu tại sao Mỹ lại có thể có những hành động như vậy.

 

III. MỸ-VIỆT:

 

Người ta đă đưa ra nhiều lư do để biện minh cho vai tṛ của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, rằng Mỹ đến Việt Nam v́ những mục đích cao thượng, chính đáng, để bảo vệ tự do dân chủ cho miền Nam Việt Nam, để ngăn chặn Cộng sản vô thần bành trướng v… v… và v… v… Nhưng giáo sư Mortimer Cohen đă có một nhận định rất chính xác về những lư do biện minh cho sự can thiệp vào Việt Nam của Mỹ trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979, trang 208:

 

Trong 21 năm bị lôi cuốn vào Đông Dương, Chính Phủ Mỹ đă đưa ra những “lư do” về những hành động của ḿnh. Những lư do này vô giá trị. Lư do duy nhất mà Mỹ vào Đông Dương là để ngăn chận vùng này khỏi rơi vào tay Cộng Sản bằng một cuộc bầu cử, một cuộc cách mạng nội bộ... Và đó cũng đủ để gọi là lư do.

 

Thêm nhiều lư do. Và thêm nhiều lư do nữa. Chúng mọc lên như măng tháng 5. Trước khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, những lư do có thể chứa đầy một cuốn sách. Không lư do nào hợp lư. [20]

 

Vậy thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là như thế nào. Ngày nay chúng ta đă có khá nhiều tài liệu bạch hóa vấn đề này. Thứ nhất, chẳng phải là Mỹ đến để bảo vệ tự do dân chủ cho ḿền Nam. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm do Mỹ dựng lên tuyệt đối không phải là một chính quyền tôn trọng tự do dân chủ. Hơn nữa chúng ta hăy đọc vài tài liệu về cái gọi là “bảo vệ tự do dân chủ” cho miền Nam mà Mỹ và một số người Quốc Gia coi như là một quốc gia riêng biệt, độc lập.

 

Trong cuốn The Vietnam War and American Culture của hai giáo sư John Carlos Rowe & Rick Berg ở đại học Iowa, Columbia University Press, 1991, trang 72, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây:

 

Bảo vệ sự “tự do” của người dân Việt Nam ư? Trong những tài liệu nội bộ (của Mỹ) những sự thực ác nghiệt về những mục đích của Mỹ về cuộc chiến tranh (ở Việt Nam) đă nói ra rơ ràng – không ǵ rơ hơn là trong một bản ghi nhớ của Thứ Trưởng Quốc Pḥng John McNaughton, viết thay cho Bộ Trưởng McNamara (với một bản sao chỉ để cho George Bundy đọc) về những mục đích chiến tranh của Mỹ: 70% để duy tŕ danh dự quốc gia của chúng ta, 20% để cho Nam Việt Nam khỏi bị Trung Quốc chiếm đóng, và 10% để cho người dân Việt Nam được hưởng một lối sống tốt hơn và tự do hơn. [21

Chúng ta có thể thấy một đoạn tương tự trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận: Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War: Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 4:

“Ngày 24 tháng 3, 1965, Thứ Trưởng Quốc Pḥng John T. McNaughton tuyên bố là trong khi thực ra chỉ có 10% nỗ lực của Mỹ để giúp người dân Nam Việt Nam, 20% có mục đích giữ Nam VN (và những lănh thổ lân cận) khỏi rơi vào tay Trung Quốc, và phần lớn nhất, 70%, là để “tránh một cuộc thất bại nhục nhă của Mỹ.” [22]

 

Xét đến những hành động của Mỹ tại Việt Nam, cách đối xử của Mỹ đối với Việt Nam, những chiến dịch vô nhân đạo mà Mỹ tung ra ở Việt Nam, số thường dân bị thương vong ở Việt Nam v..v.. mà ngày nay chúng ta có hàng đống tài liệu, tài liệu của chính Mỹ, th́ 10% để giúp dân Việt Nam không thể để trên cán cân cân bằng với 90% có tính cách tàn phá, hủy diệt Việt Nam. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong một đoạn sau.

 

Về lư do ngăn chận Cộng sản th́ thực ra cũng không phải là lư do chính đáng v́ chính sách chống Cộng lưỡng chuẩn của Mỹ.

 

Bảo rằng Mỹ giúp Nam Việt Nam chống Cộng sau Hiệp Định Genève, nhưng tại sao lại là Việt Nam? Thuyết Domino của Mỹ cho rằng, theo học giả Gareth Porter: ““lư thuyết domino” cho rằng những nước không cộng sản trong vùng Đông Nam Á sớm muộn sẽ bị lần lượt lật đổ nếu miền Nam Việt Nam mất vào tay cộng sản. Căn cứ theo những suy diễn b́nh thường, các chiến lược gia Mỹ đă thổi phồng hiểm họa cộng sản, và họ đă tin vào những nguy cơ bị chính họ phóng đại ấy.” Nhưng vấn đề không phải là ở thuyết Domino mà là Mỹ đă nuốt lời hứa là sẽ không can thiệp vào quyền tự quyết của các dân tộc. Mỹ tự ban cho ḿnh quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của ḿnh, nghĩa là, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lư của kẻ mạnh, muốn can thiệp vào nước nào th́ can thiệp. Nhưng thực ra, theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. Mỹ đă can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Nicaragua, Guatamala, Dominican Republic, Indonesia, Philippines, Thailand v..v.. (Xin đọc cuốn 9-11 , Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky, hoặc cuốn “The Chomsky Reader, Edited by James Peck, Pantheon Books, New York, 1987). Vài tài liệu sau sẽ chứng tỏ sự thực này:

 

Cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967) viết bởi ba giới chức tôn giáo: Mục sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học, đại học Stanford; Linh mục Michael Novak, Giáo sư về Nhân Bản Học, đại học Stanford; và Tu sĩ Do Thái Abraham J. Heschel, giáo sư về đạo đức và huyền nhiệm Do Thái tại trường Thần Học Do Thái ở Mỹ, mở đầu bằng câu:

 

Những trang sách sau đây xuất sinh từ sự cùng quan tâm của chúng tôi rằng: quốc gia của chúng ta (Mỹ) bị lôi cuốn vào cuộc xung đột ở Việt Nam mà chúng tôi thấy không thể nào biện minh được trong ánh sáng thông điệp của các nhà tiên tri hay của Phúc Âm của Giê-su ở Nazareth. [23]

 

Trong cuốn sách này, Mục sư Tin Lành Robert McAffee Brown viết ở trang. 67 rằng

 

Ngay cả quyền hiện diện của chúng ta ở đó (Việt Nam) cũng bị chất vấn, trong ánh sáng của luật quốc tế, bởi những người có địa vị cao trong chính phủ của chúng ta, trong đó có các Thượng Nghị Sĩ Morse, Church, Gore, và Gruening. Nhưng ngay cả khi có quyền, bản chất những ǵ chúng ta đang làm ở Việt Nam cũng đáng bị lên án. [24]

 

Mặt khác, trong thời điểm đó, hầu như toàn thể Đông Âu đều theo Cộng Sản, Cuba ở ngay sát nách Mỹ là Cộng Sản, và hai Cộng Sản gộc là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống ở những nơi đó mà lại đi chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi, tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy hại nào cho Mỹ?

 

Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Stanford, cũng viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri đó ở trang 79 rằng:

 

Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, th́ ở những nơi khác chúng ta lại sống chung với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư. Ở những nơi khác, chúng ta rơ ràng quyết định là sống chung ḥa b́nh với Cộng Sản, và khuyến khích những xă hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối Cộng sản. [25]

 

Walter J. Rockler, nguyên công tố viên ṭa án xử tội phạm chiến tranh Nuremberg, đă viết như sau về quan niệm nhân quyền của Mỹ:

 

"Cái mà chúng ta gọi là quan tâm đến nhân quyền thật là lố bịch. Chúng ta đă thả xuống Việt Nam một số lượng bom gấp đôi số lượng bom mà các quốc gia liên hệ đến cuộc Đệ Nhị Thế Chiến thả lên đầu nhau. Trong cuộc chiến này, chúng ta đă giết hàng trăm ngàn thường dân. Ngay gần đây, chúng ta bảo trợ, huấn luyện và ủng hộ những đoàn quân địa phương của Guatamala, El Salvadore, và Nicaragua Contras ở Trung Mỹ, trong sự tàn sát ít nhất là 200 ngàn người..." [26]

 

Và Robert Scheer cũng viết như sau trên tờ Times:

 

Chẳng phải là chúng ta có một lịch sử "diệt chủng" hay sao, mới đầu là thổ dân Mỹ, và sau là ở Việt Nam, khi quân đội Hoa Kỳ lùa những dân làng trung thành, hầu hết là Công Giáo, vào sống an toàn trong những Ấp Chiến Lược, trong khi biến những vùng Phật Giáo ở thôn quê Nam Việt Nam thành những vùng tự do thả bom một cách toàn diện?" [27]

 

Chúng ta hăy đọc thêm vài nhận định của tướng lănh Mỹ, chính khách Mỹ:

 

Tướng David Sharp, Nguyên Chỉ Huy Trưởng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, phát biểu, năm 1966:

 

“Tôi tin rằng nếu chúng ta đừng xía những bàn tay dơ bẩn, đẫm máu, nắm đầy đô-la vào việc của những quốc gia trong Thế Giới Thứ Ba đầy những người thất vọng, bị khai thác, th́ những quốc gia này sẽ t́m ra giải pháp cho chính họ. Và nếu bất hạnh là cuộc cách mạng của những quốc gia này phải dùng đến bạo lực là v́ những người có của từ chối không chịu chia sẻ với những người không có bằng phương pháp ḥa b́nh nào, th́ những ǵ họ chiếm được sẽ là của chính họ, không phải là của kiểu Mỹ mà họ không muốn và nhất là không muốn bị nhét xuống cổ họng bởi người Mỹ.” [28]

Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse, Đảng dân Chủ - Oregon, nhận định, năm 1967:

 

“Theo sự phán xét của tôi, chúng ta sẽ trở thành kẻ có tội v́ là sự đe dọa lớn nhất cho nền ḥa b́nh thế giới. Đó là một sự thực xấu xa, và người Mỹ chúng ta không thích đối diện với nó. Tôi thật không muốn nghĩ rằng một trang sử của Mỹ sẽ được viết ra liên quan đến chính sách vô pháp của chúng ta ở Đông Nam Á.” [29]

 

Ramsey Clark, Nguyên Chưởng Lư Mỹ dưới triều Lyndon Johnson, nhận định:

 

“Tội ác lớn nhất từ sau Đệ Nhị Thế Chiến là chính sách đối ngoại của Mỹ.”

"The greatest crime since World War II has been U.S. foreign policy."

 

[Ramsey Clark, former U.S. Attorney General under President Lyndon Johnson]

 

Từ những tài liệu điển h́nh ở trên của chính những người Mỹ cao cấp trong tôn giáo, trong chính quyền, và các bậc trí thức khoa bảng trong các đại học Mỹ, chúng ta thấy Mỹ không có bất cứ một lư do nào chính đáng để có thể can thiệp vào Việt Nam. Nếu không có lư do nào chính đáng th́ bản chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là một cuộc xâm lăng.

 

Thật vậy, chiến tranh Việt Nam chấm dứt nhưng 27 năm sau Daniel Ellsberg c̣n viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

 

“Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lư tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ”. (In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.)

 

Và trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), hai Giáo sư ở đại học Iowa, John Carlos Rowe và Rick Berg, viết, trang 28-29:

 

Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức dấn thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm… Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đă tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương. [30]

Noam Chomsky viết trong cuốn The Chomsky Reader, Edited by James Peck, năm 1984, dưới đầu đề Cuộc Xâm Lược Nam Việt Nam [The Invasion of South Vietnam]:

 

Cuộc xâm lược của Mỹ vào Nam Việt Nam là tiếp theo sự ủng hộ của chúng ta trong toan tính của Pháp tái chinh phục thuộc địa cũ, sự phá “quá tŕnh ḥa b́nh” năm 1954 [Hiệp định Geneva] của chúng ta, và một cuộc chiến tranh khủng bố chống dân chúng Nam Việt Nam.

 

Có một sự dàn xếp chính trị vào năm 1954, Hiệp định Geneva… Chúng ta tiến ngay vào việc phá ngầm Hiệp định, đặt ở Nam Việt Nam một chế độ hung bạo, khủng bố, lẽ dĩ nhiên là bác bỏ (với sự ủng hộ của chúng ta) cuộc tổng tuyển cử đă được dự phóng. Rồi chế độ đó trở thành mộtcuộc tấn công khủng bố chống dân chúng ở Nam Việt Nam, đặc biệt đối với lực lượng kháng chiến chống Pháp mà chúng ta gọi là Việt Cộng. Chế độ đó đă giết có thể vào khoảng 80000 người (có nghĩa là chúng ta đă giết, với vũ khí và lính đánh thuê của chúng ta) khi mà John F. Kennedy lên làm Tổng Thống năm 1961.

 

Trong những năm 1961 và 1962 Kennedy khởi sự một cuộc chiến chống Nam Việt Nam. Có nghĩa là, trong 1961 và 1962 , không lực Mỹ bắt đầu bỏ bom và trải thuốc khai quang rộng răi ở Nam Việt Nam, nhắm trước hết vào những vùng nông thôn mà 80% dân chúng sống trong đó. Đây là một phần của chương tŕnh lùa nhiều triệu người dân vào trong những trại tập trung mà chúng ta gọi là “ấp chiến lược” nơi đó họ bị bao vây bởi các lính canh gác và giây thép gai, được “bảo vệ”, như chúng ta nói vậy, trước quân du kích mà chúng ta thừa nhận rằng người dân tự nguyện ủng hộ. Đây là điều mà chúng ta gọi là “xâm lược” hay “tấn công bằng vũ khí” khi một nước nào đó làm như vậy. Chúng ta gọi đó là “bảo vệ” khi chúng ta làm như vậy. [31]

 

Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy cuộc xâm lăng của Mỹ vào Nam Việt Nam có nguồn gốc từ chính nền văn hóa của Mỹ. Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là sự hội tụ của 3 yếu tố: chính trị, thần học Ki-tô Giáo, và kinh tế. Những yếu tố này đan quyện với nhau tạo thành chính sách và hành động của Mỹ, không riêng ǵ ở Việt Nam mà c̣n ở trên khắp thế giới.

 

Yếu Tố Chính Trị:

Như trên chúng ta đă biết, Ramsey Clark, Nguyên Chưởng Lư Mỹ dưới triều Lyndon Johnson, nhận định:

“Tội ác lớn nhất từ sau Đệ Nhị Thế Chiến là chính sách đối ngoại của Mỹ.”

 

Mục đích chính của Mỹ không phải là để tạo nên một miền Nam dân chủ tự do. Người Mỹ không có thực tâm, không có ư tốt giúp Việt Nam, cũng như ngày nay không có thực tâm, ư tốt giúp Iraq. Người nào tin rằng Mỹ thực tâm giúp Nam Việt Nam để bảo vệ những giá trị tự do dân chủ cho người dân Nam Việt Nam là đang nằm mơ. Hăy xét đến thực chất của các chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và “Diệm không Diệm” của Nguyễn Văn Thiệu. Hăy xét đến những chiến dịch quân sự dă man nhất của Mỹ ở Việt Nam đối với người dân trong cuộc chiến.

 

Can thiệp vào Việt Nam, chính trị của Mỹ không đặt căn bản trên sự hiểu biết về Việt Nam, điều mà tất cả các học giả ngày nay đều công nhận, và đó là yếu tố làm cho Mỹ thất bại ở Việt Nam. Mỹ can thiệp vào Việt Nam là dựa trên những ǵ người Mỹ nghĩ về chính họ, nói khác đi là đặt trên nền văn hóa Mỹ.

 

Sau thế chiến thứ II, những cường quốc thực dân Âu Châu như Anh, Pháp, Ḥa Lan đều trở nên suy yếu, Mỹ đương nhiên là quốc gia mạnh nhất về quân sự cũng như kinh tế. Mỹ độc tôn về vũ khí nguyên tử, tự cho ḿnh là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo, hoặc là một thị trấn ở trên một ngọn đồi (A city on a hill) mà thế giới phải nh́n lên ngưỡng mộ và dập theo những giá trị đạo đức xă hội của Mỹ. Mặt khác, Mỹ có những hành động trịch thượng, kiêu căng vô lối, tự cho ḿnh có quyền định đoạt số phận của Việt Nam. Chúng ta hẳn c̣n nhớ, sau Thế Chiến II, trước khi giúp Pháp trở lại Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt đă hỏi Tưởng Giới Thạch là “Có muốn Đông Dương không?”. Và Tưởng Giới Thạch đă trả lời: “Điều này không giúp ǵ cho chúng tôi. Chúng tôi không muốn. Họ không phải là người Tàu. Họ sẽ không chịu ḥa nhập vào dân Tàu” (Backfire, p. 43: Mr. Roosevelt asked Chiang: “Do you want Indo-China?” The Generalissimo replied: “It’s no help to us. We don’t want it. They are not Chinese. They would not assimilate into the Chinese people.”)

 

Có lẽ không có cuốn sách nào đi thẳng vào những vấn đề như giải thích cuộc chiến, tại sao nó lại xẩy ra, tại sao người Mỹ lại lâm vào cuộc chiến như vậy để cuối cùng đi đến thất bại v..v.. bằng cuốn Kết Quả Ngược Chiều: Việt Nam – Những Huyền Thoại Khiến Chúng Ta Chiến Đấu, Những Ảo Tưởng Giúp Chúng Ta Thua, Cái Di Sản Vẫn Ám Ảnh Chúng Ta Ngày Nay (Backfire: Vietnam – The Myths That Made Us Fight, The Illusions That Helped Us Lose, The Legacy That Haunted Us Today, Ballantine Books, New York, 1985) của Giáo sư Loren Baritz, Trưởng Khoa Lịch Sử, Đại Học Rochester. Sau đây là một đoạn giải thích của Giáo sư Loren Baritz, trang 10-11:

 

Người Mỹ không biết ǵ về người Việt Nam không phải là chúng ta đần độn, mà v́ chúng ta tin vào một số điều về chính chúng ta... Muốn hiểu sự thất bại của chúng ta, chúng ta cần phải suy nghĩ về thế nào là một người Mỹ... Huyền thoại về Mỹ như là một thị trấn trên một ngọn đồi uẩn hàm rằng Mỹ là gương mẫu đạo đức cho phần c̣n lại của thế giới, một thế giới cho rằng sẽ đặc biệt ngưỡng mộ chúng ta. Điều này có nghĩa là chúng ta là một dân tộc được [Thiên Chúa, lẽ dĩ nhiên của Ki Tô Giáo] chọn, mỗi người trong đó, v́ được sự ưu đăi và sự hiện diện của Thiên Chúa, có thể vật chết dễ dàng 100 kẻ thù ngoại đạo...

 

Có vô số cách để người Mỹ biết trong ḷng – nơi duy nhất mà những huyền thoại có thể sống được – là chúng ta được chọn để dẫn giắt thế giới trong vấn đề đạo đức công cộng và dạy cho thế giới trong đức tính chính trị. Chúng ta tin rằng những sự tốt đẹp trong nước chúng ta kết thành sức mạnh đủ để triệt hạ đối thủ của chúng ta, những người, theo định nghĩa, là kẻ thù của đức tính, của tự do, và của Thiên Chúa. [32]

 

[Người Mỹ tin tưởng như vậy. Nhưng sự thực ra sao? Một số thống kê của chính Mỹ, chứng tỏ rằng về những tệ đoan xă hội, tội ác trong xă hội, Mỹ chiếm giải quán quân trên thế giới. Không ai có thể phủ nhận Mỹ là nước giàu nhất và mạnh nhất về quân sự. Nhưng c̣n về các vấn đề đạo đức xă hội, đạo đức thế giới, đức tính của con người, th́ Mỹ không có ǵ để so sánh với các quốc gia Á Châu. Tổng thống Bush mở cuộc xâm chiếm Iraq cũng không ít th́ nhiều có niềm tin như vậy. Sống ở Mỹ chúng ta không lạ ǵ khi thấy những nhóm “da trắng ưu việt” (white supremacists) có những hành động bạo động ác ôn đối với những người da màu mà chúng cho là thấp kém trong khi tuyệt đại đa số chúng không tốt nghiệp nổi Trung Học.]

 

Tuy vậy, sau Thế Chiến II, lực lượng đối đầu Mỹ duy nhất trong thời đó là Nga Sô Viết và Nga Sô lại là Cộng Sản vô thần, do đó đương nhiên là kẻ thù của Thiên Chúa, cũng là kẻ thù của dân được Thiên Chúa chọn: Mỹ. Cuộc chiến tranh lạnh đă mang đến cho Mỹ sự sợ hăi Cộng Sản v́ ảnh hưởng của Cộng Sản càng ngày càng lan rộng trên thế giới, khắp Đông Âu, và ở các nước thuộc địa ở Phi Châu và Á Châu. Chủ thuyết của Truman (The Truman doctrine) năm 1947 đưa đến sự viện trợ $400 triệu về quân sự và kinh tế cho Hi Lạp để chống những du kích quân có sự ủng hộ của Cộng Sản. Thất nghiệp và lạm phát ở Âu Châu khiến cho ảnh hưởng của Cộng Sản lan vào cả những nước như Ư, Pháp, Ḥa Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Bỉ, và cho tới ngày nay ảnh hưởng của Cộng Sản cũng chưa hết hẳn. Truman đưa ra kế hoạch Marshall năm 1948 với $12.6 tỷ đô-la viện trợ để giữ Tây Âu khỏi rơi hẳn vào ṿng ảnh hưởng của Cộng Sản.

 

Nhưng năm 1949 có 3 biến cố làm cho sự sợ hăi Cộng Sản của Mỹ lên đến độ hoang tưởng. (From Communist fears to paranoia). Nga sô chặn đường bộ tới Tây Bá Linh khiến cho Mỹ phải tổ chức không vận để hàng ngày cung cấp các phẩm vật cho một thị trấn có 2 triệu người. Sau cùng Nga Sô phải nhường bước. Cũng năm 1949, Nga Sô cho nổ quả bom nguyên tử đầu tiên tạo nên một làn sóng sợ hăi khắp nước Mỹ. Sau cùng, cuối năm 1949, Mao Trạch Đông đuổi Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa. Một quốc gia đông dân nhất thế giới, vừa mới là đồng minh của Mỹ cách đó 4 năm, nay đă rơi vào tay Cộng Sản. Từ sự sợ hăi Cộng sản đến mức hoang tưởng, Mỹ đă quyết định ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản.

 

Muốn hiểu về nguyên nhân cuộc chiến tranh Việt Nam, về tại sao dù không có một lư do nào chính đáng mà Mỹ lại can thiệp vào Việt Nam, chúng ta cần hiểu rơ hơn về nước Mỹ, hay nói đúng hơn, về “ư tưởng quốc gia của Mỹ” (idea of America). Tôi đă đọc rất nhiều sách viết về cuộc chiến ở Việt Nam nhưng tôi không thấy cuốn nào đào sâu khía cạnh này như cuốn “Chiến tranh chưa chấm dứt: Việt Nam và lương tâm nước Mỹ” ( The Unfinished War: Vietnam and the American Conscience, Beacon Press, Boston, 1982) của Walter H. Capps, Giáo sư Đại Học Santa Barbara, California, nguyên Giám đốc trung tâm nghiên cứu các định chế dân chủ Robert Hutchins (Former director of the Robert Hutchins Center for the study of Democratic Institutions). Đây là một cuốn sách cần phải đọc để hiểu rơ người Mỹ và hiểu thái độ kiêu căng tự tôn của Mỹ, đưa đến những hành động bất chấp đạo đức, bất chấp luật lệ quốc tế. Vấn đề chính là chính sách ngăn chận Cộng sản không phải là v́ tự thân lư thuyết Cộng sản mà v́ vị thế tối cao cầm đầu thế giới như Mỹ vẫn tự cho Mỹ cái vị thế đó. Giáo sư Capps đă phân tích trong cuốn sách trên, trang 37:

 

Mỹ càng ngày càng hoảng sợ về Nga Sô có thể nắm quyền trên thế giới. Không phải là người Mỹ sợ tự thân lư tưởng Cộng sản mà là sức mạnh của một cường quốc khác có khả năng thách đố vị thế tối cao của Mỹ trên thế giới. [33]

 

Mỹ can thiệp vào Việt Nam cũng không phải v́ ông Hồ là cộng sản, hay ông Hồ là con bài của Nga sô. Giáo sư Capps viết, trang 36:

 

Những cơ quan ngoại giao và t́nh báo của Mỹ đă kiểm tra cẩn thận để xem xem có phải là ông Hồ liên kết với Nga Sô hay không. Vào thời đó họ không kiếm ra một bằng chứng nào như vậy; thật ra họ biết rất rơ ông Hồ trước hết là một người Việt quốc gia, đối với ông ta dạng thức Cộng sản của chính quyền là một cơ cấu thích hợp để vứt bỏ nền cai trị áp bức của thực dân. Phúc tŕnh của một nhân viên Bộ Ngoại Giao vào thời đó đặt vấn đề là: Phải nên coi ông Hồ như là “biểu tượng của chủ nghĩa quốc gia và sự tranh đấu cho tự do của tuyệt đại đa số quần chúng.” [34]

 

Một tài liệu tương tự trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, của Paul Joseph, Giáo sư xă hội học, đại học Tufts, như sau, trang 83:

 

"Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự hứng khởi và chỉ đạo từ Liên Bang Sô Viết. Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ Tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lư và tổ chức chính trị đều phát khởi từ và bị kiểm soát bởi điện Kremlin. Tuy vậy t́nh báo Mỹ đă cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh. Một công điện của Bộ ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa ông Hồ và Moscow nhưng cứ cho rằng có.” [35]

 

Không có bằng chứng nhưng cứ cho là có, đó là cái cớ để Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Chúng ta đă biết, Mỹ tự cho ḿnh cái quyền can thiệp vào bất cứ nước nào mà Mỹ muốn. Mỹ chỉ cần đưa ra một cớ nào đó, dù không phải là sự thật, và điều đó cũng đủ để Mỹ can thiệp vào nội bộ bất cứ nước nào. Nhưng Mỹ chỉ dám đụng đến các nước nhỏ, ít khả năng phản kháng, chứ Mỹ không dám đụng đến các cường quốc khác như Nga sô, Trung Quốc. Ngày nay khí thế của Trung Quốc đang càng ngày càng lên, lan sang cắm dùi, gây ảnh hưởng ở Phi Châu, những thuộc địa trước của khối Tây phương và Mỹ. Trước t́nh trạng như vậy Mỹ chỉ c̣n có thể phàn nàn và than phiền.

 

Trong cuốn Can Thiệp Và Cách Mạng: Mỹ Đối Đầu Với Những Phong Trào Nổi Giậy Trên Khắp Thế Giới (Intervention and Revolution: America’s Confrontation With Insurgent Movements Around The World, A Meridian Book, New York, 1972), Sử gia kiêm nhà khoa học chính trị (historian and political scientist) Richard J. Barnet, đă từng là nhân viên Bộ Ngoại Giao cũng như Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, viết, trang 301:

 

Sự hiện diện của một sự đe dọa của Cộng Sản, ngay chỉ là có thể có sự đe dọa của Cộng Sản (như ở Cộng Ḥa Dominique) cũng đủ để cho Mỹ biện minh cho những sự can thiệp của Mỹ. Nhận định là có sự đe dọa cũng đủ để ngăn ngừa mọi chất vấn có thể đặt ra về sự cần thiết hay đạo đức để dẹp bỏ sự đe dọa. Mỹ càng ngày càng nói trắng ra khi tuyên bố là Mỹ có quyền đơn phương quyết định là một sự xung đột ở bất cứ nơi nào trên thế giới là sự đe dọa đối với nền an ninh quốc gia của Mỹ hay trật tự thế giới và Mỹ sẽ làm ǵ để đối phó. [36]

 

Một trong những lư do Mỹ đưa ra để biện minh cho sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là Mỹ đơn phương quyết định rằng chế độ Cộng Sản ở Việt Nam sau Genève là sự đe dọa cho nền an ninh quốc gia của Mỹ, trong khi không có bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ như vậy. Cộng sản hay không th́ Việt Nam cũng là một quốc gia nhỏ, nghèo, kém phát triển và ở xa Mỹ nửa ṿng trái đất, làm sao có thể đe dọa nền an ninh của Mỹ được. Cho nên Mỹ đă chọn Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng, chống Cộng cho chỗ đứng và uy tín của Mỹ trong vùng, bất kể là sau ngày tuyên bố đất nước độc lập, 2 tháng 9, 1945, Ông Hồ Chí Minh đă viết 8 bức thơ gửi Tổng Thống Truman và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ tinh thần nền độc lập của Việt Nam và c̣n ngỏ ư Việt Nam có thể là một thị trường lớn cho những sản phẩm của Mỹ, nhưng Mỹ không hề trả lời.. Mỹ chọn Việt Nam làm tuyến đầu chống Cộng, làm pḥng tuyến cuối cùng chống sự bành trướng của Cộng Sản ở Á Châu, v́ cho rằng Việt Nam là một nước nhỏ yếu không có khả năng chống lại ư định của Mỹ, cho nên Mỹ sẽ thành công trong mục đích chống Cộng cùng lúc tạo uy tín của Mỹ trên thế giới. Mặt khác Mỹ c̣n muốn chứng tỏ cho thế giới biết là vũ khí và chiến thuật của Mỹ có thể đối phó với chiến thuật du kích của Cộng Sản. Và Việt Nam cũng là chiến trường để cho Mỹ dùng hết vũ khí cũ, thử các vũ khí mới kể cả vũ khí hóa học.

 

Yếu Tố Tôn Giáo:

 

Một tính toán chính trị sai lầm, đan quyện với một ư đồ đế quốc thực dân mới (thực dân kinh tế), cộng với tâm cảnh của những “cao-bồi bắn dân Da Đỏ” (cowboys shooting Indians) trong những phim “Westerns”, tự cho rằng Mỹ là khuôn mẫu “thiện” của cả thế giới, v́ Mỹ tin tưởng ở Thiên Chúa (In God We Trust), v́ Mỹ là “quốc gia của Thiên Chúa” (God Country), theo tinh thần Ki Tô Giáo và lịch sử Ki Tô Giáo: kẻ nào không tin Thiên Chúa của Ki-tô Giáo là kẻ ác. Cho nên với quan niệm trắng đen, thiện chống ác, và đă tin vào ưu thế của vũ khí, để can thiệp vào Việt Nam bất kể lư do, bất kể đạo đức, bất kể pháp lư, đưa đến kết quả là thất bại sau khi tàn phá đất nước Việt Nam một cách man rợ, vô nhân tính. Noam Chomsky đă châm biếm, cho rằng Mỹ đă thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) v́ đă thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xă hội và kinh tế, cộng với cuộc cấm vận của Mỹ kéo dài trong 19 năm. Hăy nghĩ tới một Việt Nam sau cuộc chiến, mọi mặt đều kiệt quệ đến tận xương tủy, cộng với sức ép của Mỹ (Ấn Độ muốn viện trợ cho Việt Nam 100 con trâu cũng bị Mỹ ngăn chận), Việt Nam vươn lên được tới t́nh trạng ngày nay, kể ra đó đúng là một phép lạ, một phép lạ do con người đích thân tạo ra, chứ không như những loại phép lạ ngụy tạo như ở Fatima, Lourdes v…v…. Trong phép lạ này cũng có phần của đa số người Việt hải ngoại, những người không chịu nghe theo lệnh của bọn người áo đen, bọn bán phở và viết báo chống Cộng, yêu cầu Mỹ đừng bỏ cấm vận, hô hào dân tỵ nạn đừng gửi tiền về, đừng về Việt Nam, đừng mua hàng Việt Nam v..v...

 

Là một nước mà 80% theo Ki Tô Giáo, Mỹ bị ảnh hưởng của cuốn Thánh Kinh rất nhiều. Không ai hiểu Mỹ bằng người Mỹ, nhất là giới trí thức Mỹ. Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown viết (Ibid., trang 14) về khía cạnh tôn giáo của cuộc chiến:

 

Đây là cuộc chiến của “những kẻ tốt chống kẻ xấu” (good guys versus bad guys), “những kẻ tin Chúa chống những kẻ vô thần” (the godly versus the ungodly), “ánh sáng chống tối tăm”, là “cuộc đối đầu giữa những quốc gia nô lệ và quốc gia trong thế giới tự do” (the antagonists are the “slave nations” and the nations of the “free world”), cuộc chiến chống “những kẻ man rợ đe dọa những dân tộc văn minh, luật pháp và trật tự, và lối sống của người Mỹ” (Barbarians threaten civilized peoples, law and order, and the American way of life). Đó là cách nh́n lịch sử của những người tin vào một cuộc chiến giữa thiện và ác trong ngày tận thế (Their view of history is apocalyptic)...

 

Trong những phim “cao-bồi”, bao giờ cũng có hai phe riêng biệt. Một phe chiến đấu cho luật pháp và trật tự, phe kia vô luật pháp và vô trật tự. Nếu trong chuyện phim có những dân da đỏ, sự xung đột là giữa những người da màu dă man và những người da trắng văn minh, yêu ḥa b́nh. Kết cục bao giờ cũng là cảnh tàn bạo. Phe thắng là phe có nhiều vũ khí tối tân hơn hoặc rút súng nhanh hơn. Khi mà, trong vài trường hợp, những kẻ xấu (da màu) tiêu diệt một nhóm nhỏ những kẻ tốt (da trắng), đó là một sự tàn sát độc ác và tàn nhẫn (it is a cruel and heartless massacre); khi mà những kẻ tốt (da trắng) giết vô số những kẻ xấu (da màu) [when the good guys kill huge numbers of bad guys], đó là một sự chiến thắng của công lư và văn minh (it is a victory for justice)

 

Nhận định của một giới chức Ki-tô Giáo như trên thật là rơ ràng trong cuộc chiến ở Việt Nam với những motto: “Kill a gook for God” viết trên mũ sắt của lính Mỹ, “A good VC is a dead one”, và Hồng Y Spellman sang Việt Nam ủy lạo binh sĩ Mỹ rằng họ đang chiến đấu để bảo vệ nền văn minh Ki-tô Giáo, một nền văn minh quy thần, hạ thấp phẩm giá con người, rất xa lạ đối với nền văn minh nhân bản và nhân chủ của Việt Nam.

 

Mỹ đă thất bại ở Việt Nam trong những mục đích tham chiến và bảo vệ nền văn minh Ki Tô Giáo. Trước thế giới, Mỹ không c̣n là “một thị trấn trên một ngọn đồi”. Nhưng không phải chỉ có vậy. Morris Dickstein viết trong Gates of Eden: American Culture in the Sixties, Basic Books, New York, 1977, trang 271:

 

Ở Việt Nam chúng ta không chỉ thua một cuộc chiến tranh và mất đi một tiềm lục địa, chúng ta cũng c̣n mất đi ḷng tự tin lan tràn khắp xă hội rằng vũ khí và mục tiêu của Mỹ bằng cách nào đó nối kết với công lư và đạo đức, không chỉ với sự theo đuổi quyền lực. Mỹ đă thất bại về quân sự, nhưng “ư tưởng quốc gia” của Mỹ, huyền thoại về nước Mỹ mà chúng ta ấp ủ, c̣n bị một cú làm cho tiêu tan hơn. [37]

 

Có lẽ chúng ta cũng nên biết chút ít về “Ư tưởng quốc gia và huyền thoại về nước Mỹ”. Như trên chúng ta đă biết, Mỹ tự nhận là một thị trấn trên một ngọn đồi, và là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo ư định của Mỹ. Lư do là, Mỹ là một cường quốc, và bất kể tiến bộ về những ǵ, nhưng trên thực tế lại rất ấu trĩ về tâm linh. Thật vậy, ảnh hưởng của cuốn Thánh Kinh vẫn đè nặng trên tâm tư người Mỹ, từ nguyên thủ quốc gia xuống đến thường dân, trong khi cuốn Thánh Kinh đă không c̣n mấy giá trị tôn giáo cũng như trí thức trong thế giới Tây phương, khoan nói đến thế giới Hồi giáo và thế giới Đông phương. Mỹ vẫn tin rằng sự giầu mạnh của Mỹ là do ân sủng của Gót [God] tuy rằng không có một người Mỹ nào biết Gót là cái ǵ. Chúng ta hăy đọc vài đoạn trong cuốn “The Unfinished War: Vietnam and the American Conscience” của Giáo sư Walter H. Capps để hiểu rơ hơn ảo tưởng và ư thức tôn giáo của người Mỹ.

 

Phương pháp giải quyết của Do Thái-Ki tô là đặt căn bản trên ư tưởng an ủi là, chừng nào mà một người giữ vững đức tin th́ Gót sẽ đứng về phía họ và hắn ta, hoặc ít nhất là chính nghĩa của hắn ta sau cùng sẽ thắng.

 

Trang 112: The Judeo-Christian approach is based on the comforting idea that, so long as a man keeps faith, God will be on his side and he, or at least his cause, will eventually triumph.

 

Gót đă nâng nước Mỹ lên địa vị vĩ đại mà không có nước nào được như vậy v́ gia sản của Mỹ là một thể chế cộng ḥa cai quản bởi những luật khẳng định trong Thánh Kinh

 

Trang 124: God promoted America to a greatness no other nation has ever enjoyed because her heritage is one of a republic governed by laws predicated on the Bible.

 

Tại sao Mỹ thất bại ở Việt Nam? David Lamb (UPI reporter 1960’s; Los Angeles Time’s first peacetime bureau in VN) đă đưa ra một nhận định khá đúng trong cuốn Vietnam, Ngày Nay (“Vietnam, Now” , Public Affairs, NY, 2002) trang 85,91:

 

Sai lầm lớn của người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái tâm lư đặc trưng của Việt Nam. Họ quá tin chắc vào sức mạnh quân sự sẽ thắng cuộc chiến, không bao giờ buồn để ư đến chuyện t́m hiểu là họ chiến đấu với ai... Mỹ đă tới Việt Nam để xây dựng nhưng rút cuộc là phá hủy. Mỹ tới rừng rú Việt Nam để chiếm ḷng dân, nhưng trong cuộc chiến lâu dài nhất – cuộc chiến đầu tiên mà Mỹ thất trận –đă khám phá ra rằng những dụng cụ chiến tranh không thể thay thế cho sinh khí của tinh thần quốc gia [của người dân Việt]. [38]

 

Nhưng nghiên cứu kỹ vấn đề, căn bản không phải là “Sai lầm lớn của người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái tâm lư đặc trưng của Việt Nammà chính là căn bản pháp lư của sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Như vài tài liệu trên đă chứng tỏ, Mỹ không có lư do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ 1945 đến 1975. Mỹ đă bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lư, mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lư” để can thiệp vào Việt Nam với ư đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực” như Gareth Porter đă viết trong bài : “Biện giải vấn đề Việt Nam 30 năm sau — Bàn cờ domino Châu Á hay sự khống chế của Hoa Kỳ?“, Hà Minh dịch trên Talawas:

 

Trước vai tṛ chính của quân đội Hoa Kỳ trong việc quyết định can thiệp sâu hơn vào Việt Nam, sự tương đồng lịch sử giữa việc chiếm đóng Việt NamIraq càng trở nên hiển nhiên. Trong cả hai trường hợp, ưu thế quân sự toàn cầu của Mỹ đă nuôi dưỡng ư đồ bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực. Và trong cả hai trường hợp, các lănh đạo an ninh quốc gia đă giả định rằng họ có thể dùng vũ lực mà không sợ nguy cơ mở rộng chiến tranh, sự giả định này phụ thuộc nặng nề vào hiệu quả răn đe đối với kẻ thù. Họ đă sai lầm nghiêm trọng tại cả hai nơi: Việt NamIraq.

 

Yếu Tố Kinh Tế:

Viết về chiến tranh Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố kinh tế. Phải chăng những lư do Mỹ đưa ra về sự can thiệp vào Việt Nam chỉ là, như Tướng Telford TayLor, cố vấn trưởng của Mỹ tại Ṭa Án Nuremberg để xử các tội phạm chiến tranh Đức quốc Xă (Chief counsel for the prosecution, with the rank of Brigadier General, at the Nuremberg war-crimes trials), đă viết trong cuốn: “Nuremberg Và Việt Nam: Một Tấn Thảm Kịch Của Mỹ” (Nuremberg and Vietnam: An American Tragedy, New York Times Book, 1970, trang 103): “che dấu ư định khai thác Nam Việt Nam như là một căn cứ quân sự Mỹ để “ngăn chặn” Cộng Sản, hay thống trị Đông Nam Á và những tài nguyên thiên nhiên khổng lồ ở đó” [only to conceal the intention to exploit South Vietnam as an American military base to “contain” Communism, or to dominate Southeast Asia and its enormous natural resources].


Tây phương đă đến Á Châu như là những đế quốc thực dân, Á Châu không có mấy lư do để tin tưởng rằng Mỹ nhân đạo hơn những người da trắng đă đến trước. Và chúng ta đă biết, mục đích chính của Mỹ không phải là giúp dân Việt Nam.

 

Hành động can thiệp vào Việt Nam của Mỹ không nằm ngoài chủ trương của Mỹ là thiết lập một trật tự thế giới ổn định (a stable world order), theo ư định của Mỹ, mà trong cái gọi là trật tự thế giới này, Mỹ nắm Ngân Hàng Quốc Tế (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund). Mỹ đă dùng những cơ quan này để cho các nước nhỏ đang mở mang vay nhẹ lăi, hỗ trợ những dự án có lợi cho Mỹ, và khi cần có thể làm sụp đổ nền kinh tế địa phương. Thật vậy, theo Mục sư Robert McAfee Brown (Ibid., trang 24) th́:

 

Trật tự thế giới ngày nay rất lợi lộc cho những nhà tư bản Mỹ, những người ngồi trên chóp của đống lợi nhuận. Ngoại viện của Mỹ cho những kém mở mang được coi như là một chủ nghĩa đế quốc mới; không phải là đế quốc quân sự mà là đế quốc đô-la. Đế quốc đô-la không hiển nhiên như đế quốc thực dân; nó không toan tính thiết lập một văn pḥng chính trị thực dân. Nó mua chuộc những chính trị gia bản xứ sẵn sàng bán linh hồn và xen vào nội bộ của quốc gia qua những phương pháp kinh tế chứ không phải là chính trị. Nó cũng có hiệu lực như là thực dân quân sự nhưng khó mà có thể lột mặt nạ của nó ra. [39] [Chúng ta hăy nh́n kỹ vài bộ mặt chính trị gia được Mỹ mời đến dự ngày độc lập của Mỹ tại Ṭa Đại Sứ ở Việt Nam, và Vơ Văn Ái ở Quê Mẹ, người hàng năm lănh tiền của NED alias CIA]

 

Trong cuốn Turning Points in World History: The Vietnam War, yếu tố kinh tế cũng được nói tới ở trang 50:

 

Trong ngôn từ chiến lược và kinh tế, Đông Nam Á cũng là vấn đề quan trọng đối quyền lợi của Mỹ. Đông Nam Á rơi vào tay Cộng Sản sẽ đe dọa chuỗi đảo trải dài từ Nhật tới Phi Luật Tân, cắt đường hàng không của Mỹ tới Ấn Độ và Nam Á và dẹp bỏ pḥng tuyến pḥng vệ đầu ỡ Thái B́nh Dương. Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) sẽ bị cô lập. Vùng (Đông Nam Á) có nhiều tài nguyên thiên nhiên và chiến lược, gồm có thiếc, cao su, gạo, nguồn dầu dừa, quặng sắt, đồng, tungsten, và dầu hỏa. Mỹ không chỉ bị cắt đứt, không tơ hào ǵ được những nguồn tài nguyên đó, mà tiềm năng về những thị trường to lớn để tiêu thụ những sản phẩm của Mỹ cũng bị đe dọa. [40]

 

Ở trên tôi đă đưa ra sơ lược ba yếu tố chính trị, tôn giáo, và kinh tế đă góp phần trong cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Căn bản là Mỹ đă chọn Việt Nam làm địa bàn chống Cộng ở Đông Nam Á, bất kể là người Việt Nam có muốn hay không. Mỹ đă quyết định dùng vũ lực để chống Cộng ở Việt Nam, Nam Việt Nam là pḥng tuyến không cho Cộng Sản vượt qua, vậy những “nếu” hay “tại v́” đặt ra để giải thích cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam đều không thích hợp. Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp nếu có nguy cơ miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, bất kể là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gồm 100% người Nam hay 100% người Bắc. Nguy cơ này càng ngày càng hiện rơ từ năm 1961 đến cao điểm vào những năm 1964-1965, cho nên Mỹ đă ồ ạt đem quân vào Việt Nam.

 

[Trích PHẦN I - NƯỚC MỸ - NHÂN QUYỀN – VIỆT NAM]

Trần Chung Ngọc, giaodiemonline, ngày 13/9/10

NDVN, ngày 14/9/10



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend